Featured image of post Kinh Địa Tạng, Quyển 2: Toàn Bộ Kinh Văn Kèm Bản Dịch Hiện Đại — Khám Phá Bản Chất Thật Của Các Địa Ngục Và Công Đức Thù Thắng Của Việc Siêu Độ Người Đã Khuất

Kinh Địa Tạng, Quyển 2: Toàn Bộ Kinh Văn Kèm Bản Dịch Hiện Đại — Khám Phá Bản Chất Thật Của Các Địa Ngục Và Công Đức Thù Thắng Của Việc Siêu Độ Người Đã Khuất

Bộ sưu tập đầy đủ Kinh Địa Tạng, Quyển 2, gồm kinh văn và bản dịch hiện đại, bao gồm từ Phẩm thứ 5 đến Phẩm thứ 9. Khám phá bản chất thật sự của các địa ngục và nguyên nhân nghiệp lực dẫn đến khổ đau, đồng thời tìm hiểu cách siêu độ người thân đã khuất hoặc cầu nguyện cho người thân bệnh tật thông qua niệm Phật và làm các việc công đức. Được viết bằng ngôn ngữ hiện đại dễ hiểu, cuốn sách này hướng dẫn bạn cách tích lũy công đức sâu dày cho gia đình, giúp họ thoát khổ được vui.

Ảnh bởi Quốc Tế Phật Quang Hội | Kinh Bản Nguyện Của Bồ Tát Địa Tạng… Kinh Văn/Thư Pháp, Quyển 1/19, Phẩm 2: Phân Thân Tập Hội | Facebook

Kinh Bản Nguyện Của Bồ Tát Địa Tạng, Quyển 2

Phẩm Thứ 5: Danh Hiệu Các Địa Ngục

Bồ Tát Địa Tạng giảng giải cho Bồ Tát Phổ Hiền về tên gọi và hình phạt của các địa ngục, cảnh báo chúng sinh không nên tạo nghiệp ác.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Phổ Hiền Ma Ha Tát thưa với Bồ Tát Địa Tạng rằng: “Thưa Nhân Giả, xin Ngài vì chúng trời rồng, bốn chúng đệ tử, cùng tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai, mà nói về các địa ngục trong cõi Ta Bà — đặc biệt là nơi thọ khổ tại Diêm Phù Đề nơi chúng sinh có tội phải chịu quả báo — tên gọi và các quả ác ở đó, để chúng sinh trong đời Mạt Pháp tương lai được biết đến những quả báo nghiệp này.”

Lúc này, Bồ Tát Phổ Hiền (một vị Bồ Tát đại trí tuệ cưỡi voi trắng oai nghiêm) nói với Bồ Tát Địa Tạng rằng: “Thưa Nhân Giả, xin Ngài hãy mô tả cho chúng trời rồng, bốn chúng đệ tử, và tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai về tình hình thế giới chúng ta — đặc biệt là Diêm Phù Đề (cõi nơi con người chúng ta sinh sống) — nơi mà những chúng sinh tạo nghiệp ác bị đưa đến chịu khổ. Những địa ngục đó tên gọi là gì, và chúng sinh phải chịu những hình phạt nào? Như vậy, chúng sinh trong đời Mạt Pháp tương lai sẽ hiểu được hậu quả của việc tạo ác.”

Bồ Tát Địa Tạng đáp: “Thưa Nhân Giả, nhờ oai thần lực của Phật và sức mạnh của Đại Bồ Tát, con xin nói lược về tên gọi các địa ngục và các quả báo cho tội ác.”

Bồ Tát Địa Tạng đáp rằng: “Thưa Nhân Giả, nhờ oai thần lực của Phật và sức mạnh của Đại Bồ Tát, con sẽ nói lược về tên gọi các địa ngục và các loại quả báo mà người có tội phải chịu.”

“Thưa Nhân Giả, ở phía đông Diêm Phù Đề có một ngọn núi gọi là Thiết Vi Sơn. Nơi đó tối tăm sâu thẳm, hoàn toàn không có ánh sáng của mặt trời hay mặt trăng.”

“Thưa Nhân Giả, ở phía đông thế giới con người, có một ngọn núi gọi là ‘Thiết Vi Sơn.’ Nơi đó đen tối và sâu thẳm đến nỗi ánh sáng mặt trời hay mặt trăng đều không thể chiếu tới bên trong — một nơi cực kỳ tối tăm.”

“Nơi đó có một đại địa ngục gọi là Vô Gián Địa Ngục. Lại có địa ngục gọi là Đại A Tỳ Địa Ngục. Lại có địa ngục gọi là Tứ Giác; địa ngục gọi là Phi Đao; địa ngục gọi là Hỏa Tiễn; địa ngục gọi là Giáp Sơn; địa ngục gọi là Thông Thương; địa ngục gọi là Thiết Xa; địa ngục gọi là Thiết Sàng; địa ngục gọi là Thiết Ngưu; địa ngục gọi là Thiết Y; địa ngục gọi là Thiên Nhận; địa ngục gọi là Thiết Lư; địa ngục gọi là Dương Đồng; địa ngục gọi là Bão Trụ; địa ngục gọi là Lưu Hỏa; địa ngục gọi là Canh Thiệt; địa ngục gọi là Tỏa Đầu; địa ngục gọi là Thiêu Cước; địa ngục gọi là Đạm Nhãn; địa ngục gọi là Thiết Hoàn; địa ngục gọi là Tranh Luận; địa ngục gọi là Thiết Phủ; và địa ngục gọi là Đa Sân.”

“Nơi đó có một đại địa ngục (địa ngục là nơi mà những người tạo nhiều nghiệp ác phải đến chịu khổ sau khi chết) gọi là ‘Vô Gián Địa Ngục,’ nghĩa là chịu khổ không ngừng dù chỉ một giây. Còn có ‘Đại A Tỳ Địa Ngục,’ là địa ngục khủng khiếp nhất trong tất cả. Ngoài ra, còn rất nhiều địa ngục khác: địa ngục Tứ Giác, Phi Đao, Hỏa Tiễn, Giáp Sơn, Thông Thương, Thiết Xa, Thiết Sàng, Thiết Ngưu, Thiết Y, Thiên Nhận, Thiết Lư, Dương Đồng, Bão Trụ, Lưu Hỏa, Canh Thiệt, Tỏa Đầu, Thiêu Cước, Đạm Nhãn, Thiết Hoàn, Tranh Luận, Thiết Phủ, và Đa Sân. Chỉ nghe tên thôi cũng đủ biết mỗi địa ngục kinh khiếp đến mức nào!”

Bồ Tát Địa Tạng nói: “Thưa Nhân Giả, trong Thiết Vi Sơn có những địa ngục như vậy, và số lượng của chúng là vô hạn.”

Bồ Tát Địa Tạng tiếp tục nói: “Thưa Nhân Giả, trong Thiết Vi Sơn, những địa ngục như vậy nhiều đến mức không thể đếm được — số lượng là vô tận.”

“Lại còn có Địa ngục Khiếu Hoán, Địa ngục Bạt Thiệt, Địa ngục Phẩn Niệu, Địa ngục Đồng Tỏa, Địa ngục Hỏa Tượng, Địa ngục Hỏa Cẩu, Địa ngục Hỏa Mã, Địa ngục Hỏa Ngưu, Địa ngục Hỏa Sơn, Địa ngục Hỏa Thạch, Địa ngục Hỏa Sàng, Địa ngục Hỏa Lương, Địa ngục Hỏa Ưng, Địa ngục Cứ Xỉ, Địa ngục Bác Bì, Địa ngục Ẩm Huyết, Địa ngục Thiêu Thủ, Địa ngục Thiêu Cước, Địa ngục Đảo Thích, Địa ngục Hỏa Ốc, Địa ngục Thiết Ốc, và Địa ngục Hỏa Lang. Đó là những địa ngục như vậy.”

“Và còn nhiều địa ngục nữa! Địa ngục Khiếu Hoán, Địa ngục Bạt Thiệt, Địa ngục Phẩn Niệu, Địa ngục Đồng Tỏa, Địa ngục Hỏa Tượng, Địa ngục Hỏa Cẩu, Địa ngục Hỏa Mã, Địa ngục Hỏa Ngưu, Địa ngục Hỏa Sơn, Địa ngục Hỏa Thạch, Địa ngục Hỏa Sàng, Địa ngục Hỏa Lương, Địa ngục Hỏa Ưng, Địa ngục Cứ Xỉ, Địa ngục Bác Bì, Địa ngục Ẩm Huyết, Địa ngục Thiêu Thủ, Địa ngục Thiêu Cước, Địa ngục Đảo Thích, Địa ngục Hỏa Ốc, Địa ngục Thiết Ốc, Địa ngục Hỏa Lang… và còn rất nhiều địa ngục khác nữa như vậy.”

“Trong mỗi địa ngục đó, lại còn có thêm nhiều ngục phụ — có ngục một, có ngục hai, có ngục ba, có ngục bốn, cho đến hàng trăm hàng ngàn. Mỗi ngục đều có tên gọi riêng biệt.”

“Hơn nữa, trong mỗi đại địa ngục, còn có rất nhiều ngục phụ phân nhánh ra — có ngục một, có ngục hai, ba, hoặc bốn, và có ngục lên đến hàng trăm thậm chí hàng ngàn ngục phụ, mỗi ngục đều có tên gọi riêng!”

Bồ Tát Địa Tạng nói với Bồ Tát Phổ Hiền: “Thưa Nhân Giả, tất cả những địa ngục này đều do ác nghiệp của chúng sinh ở Nam Diêm Phù Đề mà sinh ra — đó là quả báo nghiệp của họ. Sức mạnh của nghiệp là vô cùng lớn: có thể sánh ngang Núi Tu Di về chiều cao, thấu tận đáy biển sâu, và chướng ngại con đường giác ngộ. Vì vậy, chúng sinh chớ xem thường dù chỉ một ác nghiệp nhỏ mà cho rằng nó không có hậu quả. Sau khi chết, quả báo sẽ đến — mọi hành vi dù nhỏ bé đến đâu đều phải chịu. Dù là người thân thiết nhất, cha và con, cũng đi trên những con đường khác nhau; và dù có gặp nhau, cũng không ai có thể gánh chịu khổ thay cho người kia. Nay nhờ oai thần lực của Phật và vì Nhân Giả hỏi, con đã nói lược về những quả báo trong địa ngục. Con kính xin Nhân Giả hãy lắng nghe.”

Bồ Tát Địa Tạng nói với Bồ Tát Phổ Hiền: “Thưa Nhân Giả, tất cả những địa ngục này đều do ác nghiệp của chúng sinh trong thế giới con người mà tạo thành. Sức mạnh tích lũy của ác nghiệp (gọi là ’nghiệp’) vô cùng mãnh liệt — mãnh liệt đủ để sánh ngang chiều cao Núi Tu Di, sâu thẳm đủ để sánh với biển cả, và mạnh mẽ đủ để chặn đứng con đường thành Phật. Vì vậy, mọi người tuyệt đối đừng bao giờ nghĩ rằng tạo một ác nghiệp nhỏ là vô hại hay không có hậu quả. Sau khi chết, mọi hành vi — dù nhỏ như sợi tóc — đều phải gánh chịu đầy đủ. Dù là người thân nhất, cha và con, sau khi chết cũng đi trên những con đường khác nhau, và dù tình cờ gặp nhau trên đường, cũng không ai có thể thay thế chịu khổ cho người kia. Nhờ oai thần lực của Phật, và vì Nhân Giả hỏi, con đã nói lược về hình phạt trong các địa ngục. Mong Nhân Giả hãy lắng nghe.”

Bồ Tát Phổ Hiền đáp: “Con đã biết từ lâu về quả báo trong tam ác đạo. Con mong Nhân Giả hãy nói về chúng, để tất cả chúng sinh tạo ác trong đời Mạt Pháp tương lai, khi nghe được lời Ngài, có thể quay đầu quy y Phật.”

Bồ Tát Phổ Hiền đáp rằng: “Con đã biết từ lâu về quả báo trong tam ác đạo (ba cõi khổ nhất: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh). Nhưng con vẫn mong Ngài hãy nói về chúng, để tất cả chúng sinh tạo ác trong đời Mạt Pháp tương lai, sau khi nghe được lời Ngài, có thể quay đầu quy y Phật.”

Bồ Tát Địa Tạng nói: “Thưa Nhân Giả, quả báo trong các địa ngục như sau.”

Bồ Tát Địa Tạng nói: “Thưa Nhân Giả, hình phạt trong các địa ngục đại khái như thế này —”

“Ở một số địa ngục, lưỡi tội nhân bị kéo ra và bị bò cày qua cày lại. Ở một số địa ngục, tim tội nhân bị moi ra và bị dạ xoa ăn. Ở một số địa ngục, vạc dầu sôi sùng sục, thân tội nhân bị ném vào nấu sôi. Ở một số địa ngục, trụ đồng được nung đỏ rực, tội nhân bị buộc phải ôm lấy. Ở một số địa ngục, lửa đuổi theo và thiêu đốt tội nhân. Ở một số địa ngục, chẳng có gì ngoài giá rét và băng đá. Ở một số địa ngục, toàn là phẩn niệu bất tận. Ở một số địa ngục, chùy gai bay đầy không trung. Ở một số địa ngục, nhiều ngọn thương lửa đâm xuyên tội nhân. Ở một số địa ngục, ngực và lưng tội nhân bị đánh không ngừng nghỉ. Ở một số địa ngục, chỉ có tay và chân bị thiêu đốt. Ở một số địa ngục, rắn sắt quấn quanh thân tội nhân. Ở một số địa ngục, chó sắt được thả ra cắn xé. Ở một số địa ngục, tội nhân bị buộc phải cưỡi la sắt.”

“Ở một số địa ngục, lưỡi tội nhân bị kéo ra và bị bò cày đi cày lại, giống như cày ruộng vậy. Ở một số địa ngục, tim tội nhân bị moi ra và bị dạ xoa (một loại quỷ dữ) ăn. Ở một số địa ngục, có vạc lớn chứa nước sôi bỏng, tội nhân bị ném vào nấu sống. Ở một số địa ngục, trụ đồng được nung cho đến khi đỏ rực, tội nhân bị buộc phải ôm lấy. Ở một số địa ngục, lửa không ngừng đuổi theo và thiêu đốt tội nhân. Ở một số địa ngục, chẳng có gì ngoài băng giá lạnh cóng. Ở một số địa ngục, phẩn niệu hôi thối khắp nơi. Ở một số địa ngục, vũ khí gai nhọn bay đầy trời. Ở một số địa ngục, nhiều ngọn thương lửa cùng lúc đâm xuyên tội nhân. Ở một số địa ngục, ngực và lưng tội nhân liên tục bị đánh đập. Ở một số địa ngục, chỉ có tay và chân bị thiêu đốt. Ở một số địa ngục, rắn sắt quấn quanh thân tội nhân. Ở một số địa ngục, chó sắt được thả ra đuổi cắn tội nhân. Ở một số địa ngục, tội nhân phải cưỡi la sắt mà chịu khổ.”

“Thưa Nhân Giả, những quả báo như vậy — trong mỗi địa ngục đều có hàng trăm hàng ngàn khí cụ hình phạt nghiệp báo, tất cả đều chỉ làm bằng đồng, sắt, đá, hoặc lửa. Bốn loại vật liệu này đều do ác nghiệp chung của chúng sinh chiêu cảm mà thành. Nếu con nói chi tiết về quả báo trong các địa ngục, thì trong mỗi địa ngục còn có thêm hàng trăm hàng ngàn loại khổ hình — huống chi là có bao nhiêu địa ngục! Nay nhờ oai thần lực của Phật và vì Nhân Giả hỏi, con đã nói lược. Nếu nói đầy đủ, dù cả một kiếp cũng không nói hết được.”

“Thưa Nhân Giả, những hình phạt như vậy — trong mỗi địa ngục đều có hàng trăm hàng ngàn khí cụ dùng để hành hạ tội nhân, và tất cả đều chỉ làm bằng đồng, sắt, đá, và lửa. Bốn loại vật liệu này đều do ác nghiệp chung của chúng sinh chiêu cảm mà sinh ra. Nếu con mô tả chi tiết đầy đủ hình phạt trong các địa ngục, thì mỗi địa ngục đều chứa thêm hàng trăm hàng ngàn loại khổ hình — và có biết bao nhiêu địa ngục! Nhờ oai thần lực của Phật, và vì Nhân Giả hỏi, con đã nói lược. Nếu giải thích tất cả đầy đủ, dù trải qua nhiều kiếp (những khoảng thời gian dài vô cùng tận) cũng không đủ.”

Phẩm Thứ 6: Như Lai Tán Thán

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phóng hào quang chiếu khắp, ca ngợi và tán thán oai thần lực và lợi ích không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn từ toàn thân phóng ra đại hào quang, chiếu sáng các cõi Phật nhiều như cát sông Hằng trong trăm ngàn vạn ức. Ngài dùng đại âm thanh tuyên bố cùng tất cả Bồ Tát Ma Ha Tát, trời, rồng, quỷ, thần, người, và phi nhân trong tất cả các cõi Phật: “Hãy lắng nghe, hôm nay Ta tán thán Bồ Tát Địa Tạng Ma Ha Tát, người đã hiện đại oai thần lực không thể nghĩ bàn và lòng từ bi khắp mười phương, cứu vớt và che chở tất cả chúng sinh đang chịu khổ vì tội lỗi. Sau khi Ta nhập Niết Bàn, các Bồ Tát, Ma Ha Tát, trời, rồng, quỷ, thần phải dùng mọi phương tiện thiện xảo để bảo hộ kinh này, giúp tất cả chúng sinh đạt được an lạc Niết Bàn.”

Lúc này, Đức Phật (Thế Tôn) từ toàn thân phóng ra hào quang vô cùng rực rỡ, chiếu sáng các cõi Phật nhiều như cát sông Hằng. Ngài dùng đại âm thanh vang dội nói với tất cả Đại Bồ Tát, trời, rồng, quỷ, thần, người, và tất cả các loài phi nhân trong khắp mọi cõi Phật: “Hãy lắng nghe kỹ! Hôm nay Ta sẽ tán thán Bồ Tát Địa Tạng, người đã thị hiện oai thần lực và lòng từ bi không thể nghĩ bàn khắp mười phương, cứu vớt và che chở tất cả chúng sinh đang chịu khổ. Sau khi Ta rời cõi này (nhập Niết Bàn), các Bồ Tát, trời, rồng, quỷ, thần phải tìm mọi cách để bảo hộ kinh này, giúp tất cả chúng sinh đạt được Niết Bàn — trạng thái an lạc và giải thoát vĩnh cửu.”

Sau khi Phật nói xong, một vị Bồ Tát trong đại chúng tên là Phổ Quảng chắp tay cung kính thưa với Phật: “Nay chúng con được thấy Thế Tôn tán thán Bồ Tát Địa Tạng có đại oai thần đức lực không thể nghĩ bàn như vậy. Chúng con kính xin Thế Tôn, vì chúng sinh trong đời Mạt Pháp tương lai, mà tuyên nói nhân quả nghiệp duyên mà Bồ Tát Địa Tạng đã lợi ích chúng sinh trong cõi trời và cõi người, để tám bộ chúng trời rồng, cùng chúng sinh đời vị lai, kính nhận lời Phật dạy.”

Sau khi Đức Phật nói xong, một vị Bồ Tát trong đại chúng tên là Phổ Quảng chắp tay cung kính thưa với Phật: “Chúng con được thấy Thế Tôn tán thán Bồ Tát Địa Tạng cao đến vậy, nói rằng Ngài có đại oai thần lực không thể nghĩ bàn. Chúng con mong Thế Tôn sẽ vì chúng sinh đời Mạt Pháp tương lai mà giải thích Bồ Tát Địa Tạng đã lợi ích chúng sinh trong cõi trời và cõi người như thế nào, và nói về nhân quả nghiệp duyên liên quan, để tám bộ chúng trời rồng (các vị hộ pháp ở cõi trời) và tất cả chúng sinh đời vị lai kính nhận lời Phật dạy.”

Bấy giờ Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Quảng và bốn chúng đệ tử: “Hãy lắng nghe kỹ! Hãy lắng nghe kỹ! Ta nay sẽ nói lược cho các ông về những công đức mà Bồ Tát Địa Tạng đã mang lại phước lành và lợi ích cho cõi người và cõi trời.”

Đức Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng và tất cả mọi người có mặt: “Hãy lắng nghe kỹ! Hãy lắng nghe kỹ! Ta nay sẽ nói lược cho các ông về cách Bồ Tát Địa Tạng đã mang lại phước lành và lợi ích cho chúng sinh trong cõi người và cõi trời.”

Bồ Tát Phổ Quảng thưa: “Dạ vâng, thưa Thế Tôn! Chúng con hoan hỉ muốn được nghe.”

Bồ Tát Phổ Quảng đáp: “Dạ vâng, thưa Thế Tôn, chúng con rất muốn được nghe!”

Đức Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng: “Trong đời vị lai, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe được danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng Ma Ha Tát, rồi chắp tay cung kính, hoặc tán thán, hoặc đảnh lễ, hoặc luyến mộ kính ngưỡng, thì người đó sẽ vượt qua được tội lỗi tích lũy trong ba mươi kiếp.”

Đức Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng: “Trong tương lai, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe được danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng — dù là chắp tay, tán thán, đảnh lễ, hay chỉ đơn giản là khởi lòng kính ngưỡng — thì người đó sẽ có thể tiêu trừ tội lỗi tích lũy trong ba mươi kiếp (một khoảng thời gian dài không thể tưởng tượng)!”

“Phổ Quảng, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào vẽ hình tượng Bồ Tát, hoặc dùng đất, đá, sơn, vàng, bạc, đồng, sắt mà tạo tượng, rồi chiêm ngưỡng một lần và đảnh lễ một lần, thì người đó sẽ được sinh vào Trời Đao Lợi một trăm lần và sẽ không bao giờ rơi vào ác đạo. Dù khi phước trời đã hết mà sinh xuống cõi người, người đó vẫn sẽ làm bậc quốc vương và không mất đi những lợi ích lớn lao này.”

“Phổ Quảng, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào vẽ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng, hoặc dùng đất, đá, sơn, vàng, bạc, đồng, sắt mà tạo tượng, rồi chỉ cần chiêm ngưỡng một lần và đảnh lễ một lần, thì người đó sẽ được sinh vào Trời Đao Lợi (một nơi tuyệt đẹp ở cõi trời) một trăm lần và sẽ không bao giờ rơi vào ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, hay súc sinh. Dù khi phước trời đã hết mà sinh xuống cõi người, người đó sẽ làm bậc quốc vương — không mất đi những lợi ích lớn lao này.”

“Nếu có người nữ nào không thích thân nữ, mà hết lòng cúng dường hình tượng Bồ Tát Địa Tạng — dù là tượng vẽ hay tượng tạc bằng đất, đá, sơn, đồng, sắt — kiên trì ngày ngày không dứt, thường xuyên dâng cúng hoa, hương, thức ăn, y phục, lụa là, tràng phan, tiền bạc, và châu báu, thì thiện nữ nhân này, sau khi thân nữ đời này chấm dứt, trong trăm ngàn vạn kiếp sẽ không bao giờ sinh vào thế giới nơi phải mang thân nữ, huống chi là thực sự thọ thân nữ. Trừ khi, do sức nguyện từ bi, người đó tự nguyện mang thân nữ để cứu độ chúng sinh — nhờ sức cúng dường Bồ Tát Địa Tạng và sức công đức, trong trăm ngàn vạn kiếp sẽ không thọ thân nữ.”

“Nếu có người nữ nào không thích thân nữ, mà hết lòng cúng dường hình tượng Bồ Tát Địa Tạng — dù là tượng vẽ hay tượng tạc bằng đất, đá, đồng, sắt, hay các chất liệu khác — ngày ngày không ngừng nghỉ, thường xuyên dâng cúng hoa tươi, hương, thức ăn, y phục, vải màu, tràng phan, tiền bạc, và châu báu, thì thiện nữ nhân này, sau khi thân nữ đời này kết thúc, trong trăm ngàn vạn kiếp sẽ không bao giờ sinh làm nữ nữa, huống chi phải chịu những gian khổ của thân nữ. Trừ khi chính người đó phát nguyện từ bi, tự nguyện mang thân nữ để giúp đỡ và cứu độ chúng sinh — nhờ sức cúng dường Bồ Tát Địa Tạng và sức công đức tích lũy, trong trăm ngàn vạn kiếp không cần làm thân nữ nữa.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu có người nữ nào không thích dung mạo xấu xí của mình hoặc bị nhiều bệnh tật, chỉ cần thành tâm chiêm ngưỡng và đảnh lễ trước tượng Bồ Tát Địa Tạng, dù chỉ trong khoảng thời gian bằng một bữa ăn, thì trong ngàn vạn kiếp sau, mỗi lần tái sinh đều sẽ có dung mạo đoan trang viên mãn. Nếu người nữ xấu xí này không chán thân nữ, thì trong trăm ngàn vạn ức đời, luôn luôn được sinh làm công chúa, hoàng hậu, con gái tể tướng hay nhà danh giá, hoặc con gái bậc đại trưởng giả — mỗi lần sinh ra đều có dung mạo xinh đẹp đoan trang, tướng mạo đầy đủ. Đó là vì thành tâm chiêm ngưỡng và đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng mà được phước đức như vậy.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu có người nữ nào cảm thấy mình không xinh đẹp hoặc bị nhiều bệnh tật, chỉ cần thành tâm chiêm ngưỡng và đảnh lễ trước tượng Bồ Tát Địa Tạng — dù chỉ trong khoảng thời gian bằng một bữa ăn — thì trong ngàn vạn kiếp đời sau, dung mạo sẽ trở nên xinh đẹp đoan trang. Nếu người nữ từng xấu xí này không chán thân nữ, thì trong trăm ngàn vạn ức đời, thường được sinh làm công chúa, hoàng hậu, con gái quan lớn, hoặc con gái nhà giàu sang quyền quý, mỗi lần sinh ra đều có dung mạo xinh đẹp thanh nhã. Chính vì thành tâm đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng mà được phước đức lớn lao như vậy.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào có thể tấu nhạc, ca ngợi, dâng hương hoa cúng dường trước tượng Bồ Tát, hoặc khuyến khích một người hay nhiều người cùng làm như vậy — những người này, trong đời hiện tại và đời vị lai, luôn luôn được trăm ngàn quỷ thần ngày đêm ủng hộ bảo vệ. Không bao giờ nghe đến tin xấu, huống chi là phải đích thân gặp tai ương.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào có thể tấu nhạc, ca ngợi, và dâng hương hoa cúng dường trước tượng Bồ Tát Địa Tạng, và còn khuyến khích một người hay nhiều người cùng làm — những người này, dù ở đời hiện tại hay đời vị lai, sẽ luôn luôn được trăm ngàn quỷ thần ngày đêm bảo hộ. Họ sẽ không nghe thấy chuyện xui xẻo, huống chi là đích thân gặp phải tai họa.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong đời vị lai, nếu có kẻ ác, ác quỷ, hay ác thần nào thấy thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân cung kính cúng dường, tán thán, chiêm ngưỡng, đảnh lễ trước tượng Bồ Tát Địa Tạng, mà vô cớ chế giễu phỉ báng, nói rằng việc thờ cúng đó không có công đức lợi ích gì, hoặc nhe răng cười nhạo, hoặc nói xấu sau lưng, hoặc xúi giục người khác cùng chê bai — dù một người hay nhiều người — thậm chí chỉ khởi một niệm chế giễu: thì người đó, dù ngàn vị Phật trong Hiền Kiếp này đều đã nhập Niết Bàn, vẫn phải chịu quả báo của sự chế giễu, ở trong Địa ngục A Tỳ chịu hình phạt nặng nề nhất. Sau khi kiếp đó qua, sẽ làm ngạ quỷ. Sau thêm một ngàn kiếp, sẽ sinh làm súc sinh. Sau thêm một ngàn kiếp nữa, mới được thân người — nhưng dù được thân người, vẫn nghèo hèn bần tiện, các căn không đủ, tâm bị ác nghiệp ràng buộc. Chẳng bao lâu lại đọa trở lại ác đạo. Vì vậy, Phổ Quảng, chỉ riêng việc chế giễu sự cúng dường của người khác đã chịu quả báo như vậy — huống chi là khởi tà kiến tìm cách phá hoại lòng tin của người ta!”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong tương lai, nếu kẻ ác, ác quỷ, hay ác thần nào thấy thiện nam thiện nữ cung kính cúng dường, tán thán, đảnh lễ trước tượng Bồ Tát Địa Tạng, mà vô cớ chế giễu chê bai, nói rằng việc thờ cúng đó vô ích không có công đức — dù nhe răng cười nhạo, nói xấu sau lưng, xúi giục người khác cùng chê bai, hay thậm chí chỉ khởi một niệm chế giễu — thì người đó, dù ngàn vị Phật trong kiếp này đều đã qua đời, vẫn phải gánh chịu hậu quả của sự chế giễu, ở trong Địa ngục A Tỳ (địa ngục khủng khiếp nhất) chịu hình phạt nặng nề nhất. Sau khi kiếp đó qua, sẽ làm ngạ quỷ. Sau thêm một ngàn kiếp, sẽ tái sinh làm súc sinh. Sau thêm một ngàn kiếp nữa, mới được thân người — nhưng dù được thân người, vẫn nghèo hèn bần tiện, các căn không đầy đủ, thường bị những suy nghĩ bất thiện quấy nhiễu. Chẳng bao lâu lại đọa trở lại ác đạo. Cho nên, Phổ Quảng, chỉ riêng việc chế giễu sự cúng dường của người khác đã chịu quả báo tàn khốc như vậy — huống chi là thực sự khởi tà kiến và tìm cách phá hoại lòng tin của người ta!”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong đời vị lai, nếu có người nam hay người nữ nào nằm bệnh lâu ngày, muốn sống không được mà muốn chết cũng không xong; hoặc ban đêm nằm mơ thấy ác quỷ, thấy người thân đã mất, hoặc đi trên những con đường nguy hiểm; hoặc thường xuyên bị ác mộng và bóng đè, lang thang cùng quỷ thần — qua tháng ngày kéo dài, thân hình ngày càng gầy yếu tiều tụy, ngủ mà kêu khóc thảm thiết, khổ sở không vui. Tất cả những điều này đều vì trên đường nghiệp, sổ sách chưa được phán xử xong; nghiệp báo nặng nhẹ chưa được định đoạt. Vì vậy mà không thể buông bỏ mạng sống cũng không thể hết bệnh. Mắt phàm của người nam người nữ bình thường không thể phân biệt được những việc này.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong tương lai, nếu có người nam hay người nữ nào nằm liệt giường lâu ngày — muốn sống mà không được, muốn chết cũng không xong; hoặc ban đêm cứ mơ thấy ác quỷ, người thân đã mất, hoặc đi trên những con đường nguy hiểm; hoặc thường xuyên bị ác mộng, như thể lang thang cùng quỷ thần — và tình trạng này kéo dài rất lâu, thân thể ngày càng gầy yếu, ngủ mà kêu khóc thảm thiết, sống trong khổ sở bi thương: tất cả những điều này thực ra là vì nghiệp nợ từ các đời trước chưa được thanh toán. Nghiệp báo phải chịu nặng hay nhẹ chưa được phán quyết, nên mạng sống lơ lửng — không chết cũng không khỏi bệnh được. Mắt phàm của người thường không thể nhìn thấy hay hiểu được những việc này.”

“Nên ở trước tượng Phật và Bồ Tát, đọc tụng kinh này một lần cho thành tiếng. Hoặc lấy những vật yêu thích nhất của người bệnh — dù là y phục, châu báu, vườn tược, hay nhà cửa — rồi ở trước mặt người bệnh mà lớn tiếng tuyên bố: ‘Tôi tên là mỗ mỗ, thay mặt người bệnh này, trước kinh và tượng đây, đem những vật này cúng dường — hoặc để cúng dường kinh tượng, hoặc để tạo tượng Phật và Bồ Tát, hoặc để xây tháp chùa, hoặc để thắp đèn dầu, hoặc để cúng dường thường trụ Tăng.’ Lặp lại lời tuyên bố này ba lần trước mặt người bệnh, đảm bảo rằng người bệnh nghe và hiểu được.”

“Trong tình huống như vậy, nên ở trước tượng Phật và Bồ Tát mà đọc tụng kinh này một lần cho thành tiếng. Hoặc lấy ra những vật yêu quý nhất của người bệnh — dù là y phục, châu báu, vườn tược, hay nhà cửa — rồi lớn tiếng tuyên bố trước mặt người bệnh: ‘Tôi tên là mỗ mỗ, thay mặt người bệnh này, trước kinh tượng đây, đem các vật này cúng dường — hoặc để cúng dường kinh tượng, hoặc để tạo tượng Phật và Bồ Tát, hoặc để xây tháp chùa, hoặc để thắp đèn dầu, hoặc để cúng dường chư Tăng thường trụ trong chùa.’ Nói lời này ba lần cho người bệnh nghe, đảm bảo người bệnh có thể nghe và hiểu được.”

“Dù người bệnh thần thức đã tán loạn và sắp trút hơi thở cuối cùng — thậm chí dù đã qua một, hai, ba, bốn, cho đến bảy ngày — vẫn nên lớn tiếng tuyên bố và đọc tụng kinh cho thành tiếng. Sau khi người đó qua đời, tất cả những ác nghiệp nặng nề trong quá khứ, dù là năm tội vô gián, đều được tiêu trừ vĩnh viễn, và bất kỳ nơi nào tái sinh đều luôn nhớ được kiếp trước. Huống chi là thiện nam tử, thiện nữ nhân tự mình chép kinh này, hoặc dạy người khác chép, hoặc tự tay tạc tượng vẽ tượng Bồ Tát, hoặc dạy người khác làm — quả báo công đức mà họ nhận được chắc chắn sẽ mang lại lợi ích lớn lao.”

“Dù người bệnh đã mất ý thức và đang ở bên bờ sinh tử — thậm chí dù đã qua một, hai, ba, bốn, cho đến bảy ngày — gia đình vẫn nên lớn tiếng tuyên bố và đọc tụng kinh cho thành tiếng. Sau khi người này qua đời, tất cả trọng tội tích lũy trong các đời trước, dù là năm tội vô gián (năm tội nặng nhất), đều được tiêu trừ vĩnh viễn. Hơn nữa, bất kỳ nơi nào tái sinh trong tương lai, đều sẽ nhớ được kiếp trước. Còn nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tự mình chép kinh này, hoặc dạy người khác chép, hoặc tự tay tạc tượng vẽ tượng Bồ Tát, hoặc dạy người khác làm, thì lợi ích họ nhận được còn lớn lao hơn nữa.”

“Vì vậy, Phổ Quảng, nếu ông thấy ai đọc tụng kinh này, hoặc thậm chí chỉ khởi một niệm tán thán, hay bất kỳ ai tỏ lòng cung kính, ông phải dùng trăm ngàn phương tiện để khuyến khích những người đó, khuyên họ siêng năng tinh tấn chớ có thối lui, vì họ sẽ được công đức không thể nghĩ bàn, tính đến ngàn vạn ức, cả đời hiện tại và đời vị lai.”

“Vì vậy, Phổ Quảng, nếu ông thấy ai đọc tụng kinh này — thậm chí chỉ khởi một niệm tán thán, hay tỏ lòng cung kính — ông phải tìm mọi cách để khuyến khích họ, bảo họ hãy kiên trì nỗ lực chớ có nản lòng, vì họ sẽ được công đức không thể nghĩ bàn, tính đến ngàn vạn ức, cả đời hiện tại lẫn đời vị lai.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu chúng sinh đời vị lai, trong giấc mơ hoặc lúc ngủ, thấy quỷ thần hay các hình dạng lạ — có người trông buồn bã, có người khóc lóc, có người lo lắng, có người thở dài, có người sợ hãi, có người kinh hoàng — tất cả đều là linh hồn của cha mẹ, con cái, anh chị em, vợ chồng, hoặc thân quyến từ một đời, mười đời, trăm đời, hay ngàn đời trước, đang bị mắc kẹt trong ác đạo không thể thoát ra. Không biết cầu cứu ai có phước lực siêu độ, nên đến kêu cầu người thân còn sống, mong họ tìm cách giúp mình thoát khỏi ác đạo.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu chúng sinh trong tương lai, khi nằm mơ hoặc lúc ngủ, thấy quỷ thần hay những hình dạng kỳ lạ — có người trông buồn rầu, có người khóc than, có người ưu sầu, có người thở dài, có người lo sợ, có người kinh hãi — đó thực ra là cha mẹ, anh chị em, vợ chồng, và thân quyến của họ từ một, mười, trăm, hay ngàn đời trước. Họ đang chịu khổ trong ác đạo mà không thể thoát ra, cũng không ai có thể giúp đỡ. Nên họ đến trong giấc mơ để kêu cầu người thân còn sống, mong người thân tìm cách giúp họ thoát khỏi những nơi khổ sở đó.”

“Phổ Quảng, hãy dùng thần lực của ông hướng dẫn người thân họ đến trước tượng Phật và Bồ Tát, thành tâm tự mình đọc tụng kinh này, hoặc thỉnh người khác đọc — ba lần hoặc bảy lần. Khi những người thân đang ở trong ác đạo nghe kinh tụng đủ số lần, họ sẽ được giải thoát, và người sống sẽ không bao giờ thấy họ trong giấc mơ nữa.”

“Phổ Quảng, hãy dùng thần lực của ông hướng dẫn những người thân còn sống đến trước tượng Phật và Bồ Tát, thành tâm tự mình đọc tụng kinh này, hoặc thỉnh người đọc giúp — ba lần hoặc bảy lần. Khi đủ số lần tụng niệm, những người thân đang chịu khổ trong ác đạo sẽ được giải thoát. Và từ đó, người sống sẽ không bao giờ thấy hình bóng buồn thương của họ trong giấc mơ nữa.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong đời vị lai, nếu có người thấp hèn — kẻ hầu người hạ, tôi tớ, hay bất kỳ ai bị mất tự do — mà nhận ra rằng hoàn cảnh hiện tại của mình là do nghiệp quá khứ tạo thành và muốn sám hối: nếu họ thành tâm chiêm ngưỡng và đảnh lễ trước tượng Bồ Tát Địa Tạng, và trong vòng một đến bảy ngày niệm danh hiệu Bồ Tát mười ngàn lần, thì sau khi quả báo đời này đã hết, trong ngàn vạn đời sau luôn luôn được sinh vào gia đình quyền quý tôn kính, không bao giờ phải chịu khổ trong tam ác đạo.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong tương lai, nếu có người thân phận thấp hèn — kẻ hầu người hạ, tôi tớ, hay bất kỳ ai bị mất tự do — mà hiểu rằng hoàn cảnh hiện tại là kết quả nghiệp từ các đời trước và muốn sám hối: chỉ cần thành tâm chiêm ngưỡng và đảnh lễ trước tượng Bồ Tát Địa Tạng, trong vòng một đến bảy ngày niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng đến mười ngàn lần, thì sau khi khổ đau đời này chấm dứt, trong ngàn vạn đời sau luôn luôn được sinh vào gia đình quyền quý tôn kính, không bao giờ phải chịu khổ trong tam ác đạo — địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong đời vị lai ở Diêm Phù Đề, trong hàng sát đế lợi, bà la môn, trưởng giả, cư sĩ, và tất cả mọi người thuộc mọi dòng họ, khi có trẻ sơ sinh — dù trai hay gái — trong vòng bảy ngày nên nhanh chóng đọc tụng kinh bất khả tư nghì này, và thêm niệm danh hiệu Bồ Tát mười ngàn lần. Nếu đứa trẻ sơ sinh đó, trai hay gái, mang theo nghiệp xấu từ đời trước, thì nghiệp đó sẽ được hóa giải, và đứa trẻ sẽ an lành, vui vẻ, dễ nuôi, và được sống lâu. Nếu đứa trẻ vốn đã sinh ra có phước, thì sự an lạc và trường thọ sẽ càng được tăng thêm.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong tương lai ở thế giới con người, dù là gia đình hoàng tộc, gia đình giáo sĩ, gia đình giàu có, học giả, hay bất kỳ ai thuộc dòng họ nào — khi có em bé mới sinh, dù trai hay gái, trong vòng bảy ngày sau khi sinh, nên nhanh chóng đọc tụng kinh bất khả tư nghì này và niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng mười ngàn lần thay cho em bé. Nếu đứa trẻ sơ sinh mang theo nghiệp xấu từ đời trước, nghiệp đó sẽ được hóa giải, và đứa trẻ sẽ khỏe mạnh, vui vẻ, dễ chăm sóc, và được sống lâu. Nếu em bé vốn đã sinh ra có phước lành, thì hạnh phúc và trường thọ sẽ càng tăng thêm.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, nếu chúng sinh đời vị lai giữ mười ngày chay tịnh mỗi tháng — mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hai mươi ba, hai mươi bốn, hai mươi tám, hai mươi chín, và ba mươi — vào những ngày này, tội lỗi được ghi chép và mức độ nặng nhẹ được phán định. Chúng sinh ở Nam Diêm Phù Đề, trong mỗi hành động và mỗi ý niệm, đều tạo nghiệp và phạm tội. Huống chi là những kẻ phóng túng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, phạm hàng trăm hàng ngàn tội! Nếu họ có thể, vào mười ngày chay tịnh đó, đọc tụng kinh này một lần trước tượng Phật, Bồ Tát, và Thánh Hiền, thì trong phạm vi một trăm do tuần bốn phía — đông, tây, nam, bắc — sẽ không có tai ương hoạn nạn.”

“Lại nữa, Phổ Quảng, trong tương lai, vào mùng một, mùng tám, mười bốn, rằm, mười tám, hai mươi ba, hai mươi bốn, hai mươi tám, hai mươi chín, và ba mươi mỗi tháng — đây là những ngày tội lỗi được ghi chép và mức độ nặng nhẹ được phán định. Chúng sinh trong thế giới con người, trong mỗi hành động và mỗi ý niệm, có thể đang tạo nghiệp và phạm tội, chưa kể những kẻ phóng túng sát sinh, trộm cắp, làm điều xấu, và nói dối, phạm hàng trăm hàng ngàn tội. Nếu họ có thể, vào mười ngày chay tịnh đó, đọc tụng kinh này một lần trước tượng Phật, Bồ Tát, và Thánh Hiền, thì trong phạm vi một trăm do tuần (một khoảng cách rất lớn) bốn phía — đông, tây, nam, bắc — sẽ không xảy ra tai ương hoạn nạn.”

“Trong gia đình đó, dù già hay trẻ, trong trăm ngàn năm tới, sẽ vĩnh viễn thoát khỏi ác đạo. Nếu mỗi ngày chay tịnh trong mười ngày đều tụng một lần, thì ngay đời hiện tại, gia đình sẽ không gặp bệnh tật bất ngờ, và cơm áo dồi dào đầy đủ. Vì vậy, Phổ Quảng, nên biết rằng Bồ Tát Địa Tạng có trăm ngàn vạn ức đại oai thần lực không thể nói hết, đều vì lợi ích chúng sinh.”

“Hơn nữa, mọi người trong gia đình đó, dù già hay trẻ, trong trăm ngàn năm tới sẽ vĩnh viễn thoát khỏi ác đạo. Nếu mỗi ngày chay tịnh trong mười ngày đều tụng kinh một lần, thì ngay đời hiện tại, cả nhà sẽ không gặp bệnh tật bất ngờ, cơm áo dồi dào sung túc. Vì vậy, Phổ Quảng, ông nên biết rằng Bồ Tát Địa Tạng có trăm ngàn vạn ức đại oai thần lực không thể nói hết, đều vì lợi ích chúng sinh.”

“Chúng sinh ở Diêm Phù Đề có nhân duyên sâu xa với vị Đại Bồ Tát này. Nếu chúng sinh nào nghe được danh hiệu Bồ Tát, thấy hình tượng Bồ Tát, hoặc thậm chí chỉ nghe ba năm chữ trong kinh này, hoặc một bài kệ hay một câu, thì trong đời hiện tại sẽ được an lạc hạnh phúc phi thường, và trong trăm ngàn vạn đời sau, luôn luôn được sinh ra với dung mạo đoan trang trong gia đình quyền quý tôn kính.”

“Chúng sinh ở thế giới con người có nhân duyên rất sâu xa với Đại Bồ Tát Địa Tạng. Chỉ cần nghe được danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng, thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng, hoặc thậm chí chỉ nghe ba năm chữ trong kinh này, hoặc một bài kệ hay một câu, thì trong đời hiện tại sẽ cảm nhận được sự an lạc hạnh phúc phi thường. Và trong trăm ngàn vạn đời vị lai, luôn luôn được sinh ra với dung mạo đoan trang xinh đẹp, trong gia đình quyền quý tôn vinh.”

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Phổ Quảng nghe Như Lai tán thán Bồ Tát Địa Tạng xong, quỳ gối chắp tay lại thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, con đã biết từ lâu vị Đại Bồ Tát này có thần lực và nguyện lực không thể nghĩ bàn như vậy. Con hỏi Như Lai là vì muốn chúng sinh đời vị lai được biết những lợi ích này. Con kính nhận lời Phật dạy.”

Lúc này, sau khi nghe Phật tán thán Bồ Tát Địa Tạng, Bồ Tát Phổ Quảng quỳ gối chắp tay thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, thực ra con đã biết từ lâu vị Đại Bồ Tát này có thần lực và đại nguyện không thể nghĩ bàn. Con hỏi Như Lai là vì muốn chúng sinh đời vị lai được biết những lợi ích này. Con kính nhận lời Phật dạy.”

“Thưa Thế Tôn, kinh này nên gọi tên là gì, và con nên truyền bá như thế nào?”

“Thưa Thế Tôn, kinh này nên gọi tên là gì? Và con nên truyền bá như thế nào?”

Phật bảo Phổ Quảng: “Kinh này có ba tên: thứ nhất là ‘Bản Nguyện Địa Tạng,’ thứ hai là ‘Bản Hạnh Địa Tạng,’ và thứ ba là ‘Kinh Nguyện Lực Địa Tạng.’ Vì vị Bồ Tát này, từ kiếp xa xưa đã phát đại nguyện trang nghiêm để lợi ích tất cả chúng sinh, cho nên ông hãy truyền bá kinh này theo đúng nguyện lực của Ngài.”

Phật bảo Phổ Quảng: “Kinh này có ba tên gọi: thứ nhất là ‘Bản Nguyện Địa Tạng,’ thứ hai là ‘Bản Hạnh Địa Tạng,’ và thứ ba là ‘Kinh Nguyện Lực Địa Tạng.’ Vì vị Bồ Tát này, từ rất xa xưa, đã phát đại nguyện trang nghiêm để lợi ích tất cả chúng sinh, cho nên ông hãy truyền bá kinh này theo đúng nguyện lực của Ngài.”

Phổ Quảng nghe xong, chắp tay cung kính đảnh lễ rồi lui ra.

Sau khi nghe xong, Bồ Tát Phổ Quảng chắp tay cung kính đảnh lễ rồi lui sang một bên.

Phẩm Thứ 7: Lợi Ích Cho Người Sống Và Người Chết

Bồ Tát Địa Tạng khuyến tấn chúng sinh tu tập lòng từ bi và tạo công đức cho người thân sắp mất hoặc đã qua đời, nhằm giảm nhẹ nghiệp chướng và giúp họ được giải thoát.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Địa Tạng Ma Ha Tát thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, con quan sát thấy chúng sinh ở Diêm Phù Đề, trong mỗi ý niệm và mỗi khởi tâm, không tạo gì ngoài tội lỗi. Dù có được chút lợi ích thiện lành, cũng thường thối lui mất thiện tâm ban đầu. Nhưng nếu gặp phải duyên bất thiện, thì ác niệm cứ theo từng sát na mà tăng trưởng. Những người như vậy giống như kẻ đi trong bùn lầy mà trên lưng còn đeo đá nặng — mỗi bước lại thêm mỏi mệt nặng nề, mỗi bước lại lún sâu thêm. Nếu may mắn gặp được thiện tri thức giúp giảm bớt gánh nặng, hoặc thậm chí gánh chịu toàn bộ cho — vì vị thầy này có sức mạnh lớn, nâng đỡ và khuyến khích họ đứng vững — một khi đến được đất bằng, họ nên nhớ kỹ con đường hiểm trở phía sau và không bao giờ bước lên đó nữa.”

Lúc này, Bồ Tát Địa Tạng thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, con quan sát thấy chúng sinh ở thế giới con người, với mỗi một ý niệm, hầu như lúc nào cũng đang tạo tội. Dù có được chút lợi ích hay công đức, cũng rất dễ mất đi thiện tâm ban đầu. Nhưng khi gặp hoàn cảnh bất thiện, ác niệm lại nối tiếp nhau nảy sinh. Những người này giống như lữ khách lê bước trên con đường bùn lầy với đá nặng trên lưng — càng đi càng kiệt sức, và càng lún sâu thêm. Nếu may mắn gặp được thiện tri thức (một ’người bạn tâm linh’) giúp giảm bớt gánh nặng, hoặc thậm chí gánh chịu toàn bộ — vì vị thầy này có sức mạnh lớn, nâng đỡ và động viên họ đứng vững — một khi đến được đất bằng, họ nên nhớ con đường nguy hiểm đã qua và không bao giờ bước lên đó nữa.”

“Thưa Thế Tôn, chúng sinh quen làm ác, bắt đầu từ những lỗi nhỏ nhất, rồi dần tăng trưởng thành vô lượng. Khi những chúng sinh đó sắp lâm chung, cha mẹ và gia quyến nên tạo phước đức thay cho họ để giúp dọn đường phía trước — bằng cách treo tràng phan bảo cái, thắp đèn dầu, đọc tụng kinh điển, cúng dường tượng Phật và Thánh Hiền, hoặc niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, Phật Bích Chi. Dù chỉ một danh hiệu, nếu lọt đến tai người sắp chết hoặc vào được bản thức của họ, đều đủ. Dù những chúng sinh này đã tạo trọng ác, đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, nhưng vì gia quyến đã tu tập thánh nhân cho họ lúc lâm chung, nên tất cả tội lỗi đều được tiêu trừ.”

“Thưa Thế Tôn, những chúng sinh quen làm ác — tội lỗi của họ bắt đầu từ việc nhỏ nhất rồi dần tích lũy cho đến khi không đếm xuể. Khi những chúng sinh đó sắp lâm chung, cha mẹ và gia quyến nên làm việc thiện tích công đức thay cho họ, để con đường phía trước được dễ dàng hơn. Ví dụ, có thể treo tràng phan bảo cái, thắp đèn dầu, đọc tụng kinh điển, cúng dường tượng Phật và Thánh Hiền, hoặc niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát, Phật Bích Chi (người tự mình chứng ngộ). Dù chỉ một danh hiệu — miễn là tai người sắp chết có thể nghe thấy, hoặc thần thức sâu thẳm của họ có thể cảm nhận được — cũng đủ. Dù những chúng sinh này đã tạo trọng ác, theo luật nghiệp đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, nhưng vì gia quyến đã tu tập thánh nhân cho họ lúc lâm chung, nên tất cả tội lỗi đều được tiêu trừ hoàn toàn.”

“Nếu gia quyến còn có thể rộng tu các thiện nghiệp trong bốn mươi chín ngày sau khi người đó qua đời, thì có thể đảm bảo những chúng sinh đó vĩnh viễn rời khỏi ác đạo, được tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời, hưởng phước lạc tối thắng vi diệu. Và chính những người thân còn sống cũng sẽ nhận được lợi ích vô lượng.”

“Nếu gia quyến còn có thể làm nhiều việc thiện trong bốn mươi chín ngày sau khi người đó qua đời, thì những chúng sinh đã mất sẽ vĩnh viễn rời khỏi ác đạo, được tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời, hưởng phước lạc tuyệt vời. Người thân còn sống cũng sẽ nhận được lợi ích vô biên.”

“Vì vậy, nay con ở trước Phật, Thế Tôn, và trước tám bộ chúng trời rồng, cùng người và phi nhân, mà khuyến tấn chúng sinh ở Diêm Phù Đề: khi có người thân sắp lâm chung, tuyệt đối không được sát sinh, không được tạo duyên bất thiện, không được thờ cúng quỷ thần, không được triệu thỉnh yêu ma.”

“Vì vậy, nay con ở trước Phật, trước tám bộ chúng trời rồng, và trước tất cả người và phi nhân, mà khuyến tấn chúng sinh ở thế giới con người: khi có người thân sắp lâm chung, tuyệt đối không được giết hại sinh mạng, không được làm việc ác, không được thờ cúng quỷ thần, và không được triệu thỉnh yêu ma.”

“Tại sao? Vì tất cả sát sinh và thờ cúng đó không thể lợi ích cho người mất dù chỉ chút ít — chỉ tạo thêm nghiệp duyên tội lỗi, khiến tình hình thêm nghiêm trọng. Dù người mất đáng lẽ ở đời sau hoặc ngay đời hiện tại được công đức để sinh vào cõi người hay cõi trời, nhưng vì gia quyến lúc lâm chung tạo ác nghiệp, chỉ thêm gánh nặng trở ngại nơi âm phủ, làm chậm trễ việc sinh về cõi lành. Huống chi người sắp chết cả đời chưa từng tu tập dù chỉ chút thiện căn! Mỗi người phải tự đối diện với nghiệp của mình mà chịu quả trong ác đạo — sao gia quyến lại nỡ chất thêm ác nghiệp lên?”

“Tại sao? Vì tất cả sát sinh và thờ cúng đó không thể giúp ích cho người mất dù chỉ chút ít — chỉ tạo thêm nghiệp duyên tội lỗi, khiến mọi việc tệ hơn rất nhiều. Dù người mất có đủ phước đức để đời sau hay đời này được tái sinh cõi người hay cõi trời, nhưng ác nghiệp do gia quyến tạo ra lúc lâm chung chỉ thêm phiền phức khi phán xử nơi âm phủ, làm chậm trễ việc tái sinh về cõi lành. Huống chi là người sắp chết mà cả đời chưa từng làm một việc thiện nào! Theo nghiệp riêng của mình, họ đã phải đọa vào ác đạo — sao gia quyến lại nỡ chất thêm ác nghiệp lên?”

“Giống như một người từ phương xa đến, ba ngày không ăn, trên lưng gánh hơn trăm cân. Rồi gặp người quen, thay vì được giúp đỡ, lại bị chất thêm đồ vật lên — khiến họ càng thêm mệt mỏi nặng nề.”

“Con lấy ví dụ cho dễ hiểu. Hãy tưởng tượng một người đi từ nơi rất xa, ba ngày không ăn, trên lưng gánh hơn trăm cân hàng — kiệt sức và đói khát. Rồi gặp phải người quen, thay vì giúp giảm bớt gánh nặng, lại chất thêm đồ lên lưng. Chẳng phải chỉ khiến họ thêm kiệt sức và khổ sở hơn sao?”

“Thưa Thế Tôn, con quan sát thấy chúng sinh ở Diêm Phù Đề, nếu có thể tùy thuận theo lời Phật dạy mà làm các việc thiện — dù công đức chỉ nhỏ bằng sợi tóc, giọt nước, hạt cát, hay hạt bụi — tất cả đều tự mình hưởng được lợi ích đó.”

“Thưa Thế Tôn, con quan sát thấy chúng sinh ở thế giới con người, nếu có thể làm việc thiện trong giáo pháp của Phật — dù công đức chỉ nhỏ bằng sợi tóc, giọt nước, hạt cát, hay hạt bụi — thì mọi lợi ích đó đều trở về cho chính mình.”

Khi Bồ Tát đang nói, trong đại chúng có một vị trưởng giả tên là Đại Biện — vị này đã chứng ngộ từ lâu và thị hiện thân trưởng giả để giáo hóa chúng sinh khắp mười phương — chắp tay cung kính hỏi Bồ Tát Địa Tạng: “Thưa Đại Sĩ, khi chúng sinh ở Nam Diêm Phù Đề chết đi, và gia quyến — già hay trẻ — tu phước, cúng dường thực phẩm, tạo các thiện duyên, thì người đã mất có thực sự nhận được lợi ích lớn lao và được giải thoát không?”

Khi Bồ Tát Địa Tạng đang nói, trong đại chúng có một vị trưởng giả tên là Đại Biện — thực ra đã chứng ngộ từ rất lâu, có thể thị hiện ở khắp nơi để giáo hóa chúng sinh, ở đây hiện thân trưởng giả — chắp tay cung kính hỏi Bồ Tát Địa Tạng: “Thưa Đại Bồ Tát, sau khi chúng sinh ở thế giới con người qua đời, gia quyến còn sống — dù già hay trẻ — tu phước, chuẩn bị cỗ chay, và làm các việc thiện thay cho người mất, thì có thực sự mang lại lợi ích lớn lao và sự giải thoát cho người đã khuất không?”

Bồ Tát Địa Tạng đáp: “Thưa Trưởng giả, nhờ oai thần lực của Phật, nay con xin nói lược về việc này cho tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai. Thưa Trưởng giả, khi chúng sinh đời hiện tại và vị lai sắp lâm chung, nếu nghe được danh hiệu một vị Phật, một vị Bồ Tát, hay một vị Phật Bích Chi — bất kể có mang tội hay không — đều được giải thoát. Tuy nhiên, nếu có người nam hay người nữ nào lúc còn sống không làm việc thiện mà lại tạo nhiều ác nghiệp, thì sau khi chết, bất kỳ công đức và việc thánh thiện nào mà gia quyến làm thay — người mất chỉ nhận được một phần bảy; sáu phần bảy công đức còn lại thuộc về người thân còn sống đã thực hiện. Vì vậy, thiện nam tử thiện nữ nhân đời hiện tại và vị lai, khi còn sống và khỏe mạnh, hãy tự mình tu phước, vì mỗi phần phước đức mình tạo ra đều thuộc về mình. Đại Quỷ Vô Thường (cái chết) đến không hẹn trước. Sau khi chết, thần thức lang thang trong bóng tối, không biết mình mang tội hay phước. Trong bốn mươi chín ngày, như người mê mờ điếc lác, hoặc đang bị phán xử tranh luận trước các phủ âm ty về các nghiệp đã tạo. Khi phán quyết đã định, sẽ tùy nghiệp mà tái sinh. Trong khoảng thời gian chưa xác định đó, thần thức chịu ngàn vạn nỗi buồn khổ — huống chi những kẻ bị kết án đọa vào ác đạo!”

Bồ Tát Địa Tạng đáp: “Thưa Trưởng giả, nhờ oai thần lực của Phật, con xin giải thích ngắn gọn cho tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai. Thưa Trưởng giả, khi chúng sinh đời hiện tại hay vị lai sắp lâm chung, nếu nghe được danh hiệu dù chỉ một vị Phật, một vị Bồ Tát, hay một vị Phật Bích Chi — bất kể có tội hay không — đều được giải thoát. Nhưng nếu có người nam hay người nữ nào cả đời không làm việc thiện mà chỉ tạo nhiều ác nghiệp, thì sau khi chết, bất kỳ công đức và việc thiện nào gia quyến làm thay, người mất chỉ nhận được một phần bảy lợi ích. Sáu phần bảy công đức còn lại thực ra thuộc về người thân còn sống đã thực hiện. Vì vậy, thiện nam tử thiện nữ nhân đời hiện tại và vị lai — khi còn sống và khỏe mạnh, hãy mau tu phước cho chính mình, vì mỗi phần phước đức mình tạo ra đều thuộc về mình. ‘Đại Quỷ Vô Thường’ (cái chết) đến không báo trước — đến lúc nào là đến. Sau khi chết, thần thức trôi dạt trong bóng tối, không biết mình mang tội hay phước. Trong bốn mươi chín ngày, thần thức như người mê mờ điếc lác, hoặc đang bị phán xử trước các phủ âm ty, tranh luận về nghiệp đã tạo. Khi phán quyết quyết định xong, sẽ tùy nghiệp mà tái sinh. Trong khoảng thời gian chưa xác định đó, phải chịu ngàn vạn nỗi buồn khổ — và những kẻ bị kết án vào ác đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thì còn khổ hơn biết bao!”

“Trước khi tái sinh, trong bốn mươi chín ngày sau khi chết, người mất từng giây từng phút trông mong người thân còn sống tu phước làm việc thiện để cứu vớt mình. Một khi thời hạn này qua đi, phải tùy theo nghiệp riêng mà chịu quả báo. Nếu là người có tội, dễ dàng phải trải qua hàng trăm hàng ngàn năm trong ác đạo không ngày giải thoát. Nếu phạm năm tội vô gián, sẽ đọa vào đại địa ngục, chịu khổ qua ngàn vạn kiếp không cùng tận.”

“Trước khi tái sinh, trong bốn mươi chín ngày sau khi chết, người mất luôn luôn trông mong người thân còn sống làm việc thiện và tu phước để cứu vớt mình. Khi thời hạn này qua đi, phải tùy theo nghiệp riêng mà chịu quả báo. Nếu là người có tội, dễ dàng phải trải qua hàng trăm hàng ngàn năm trong ác đạo không ngày thoát khổ. Nếu phạm năm tội vô gián (năm tội nặng nhất), sẽ đọa vào đại địa ngục, chịu khổ qua ngàn vạn kiếp, chịu đủ mọi loại hình phạt mãi mãi.”

“Lại nữa, thưa Trưởng giả, khi những chúng sinh có tội chết đi và gia quyến chuẩn bị cỗ chay tu phước để giúp họ trên đường nghiệp — trước khi cúng dường xong và trong lúc chuẩn bị bữa ăn — nước vo gạo và rau thừa không được đổ xuống đất; và không ai được ăn trước khi đã cúng dường Phật và Tăng. Nếu có ai ăn trước hoặc không chí thành cung kính, thì người mất không nhận được chút lợi ích nào. Nhưng nếu cúng dường được chuẩn bị tinh tấn, thanh tịnh, cung kính và thành tâm dâng cúng Phật và Tăng, thì người mất nhận được một phần bảy công đức. Vì vậy, thưa Trưởng giả, chúng sinh ở Diêm Phù Đề, nếu có thể thành tâm thiết tha chuẩn bị cỗ chay cúng dường sau khi cha mẹ hoặc người thân qua đời — cả người sống và người chết đều được lợi ích.”

“Lại nữa, thưa Trưởng giả, khi những chúng sinh mang tội qua đời và gia quyến chuẩn bị cỗ chay để giúp họ trên đường qua âm phủ — trong lúc chuẩn bị và trước khi thức ăn sẵn sàng — nước vo gạo và rau thừa không được đổ xuống đất. Hơn nữa, thức ăn phải được cúng dường Phật và Tăng trước, không ai được ăn trước. Nếu có ai ăn trước, hoặc việc chuẩn bị thiếu chí thành và cung kính, thì người mất không nhận được chút lợi ích nào. Nhưng nếu cúng dường được chuẩn bị tinh tấn, thanh tịnh, cung kính và thành tâm dâng cúng Phật và Tăng, thì người mất nhận được một phần bảy công đức. Vì vậy, thưa Trưởng giả, chúng sinh ở thế giới con người — nếu có thể thành tâm thiết tha chuẩn bị cỗ chay cúng dường sau khi cha mẹ hoặc người thân qua đời — cả người sống và người chết đều được lợi ích.”

Khi những lời này vừa nói xong, tại cung Trời Đao Lợi, ngàn vạn ức na do tha quỷ thần từ Diêm Phù Đề đều phát tâm Bồ Đề vô lượng. Trưởng giả Đại Biện cung kính đảnh lễ rồi lui ra.

Khi Bồ Tát Địa Tạng đang nói điều này, tại cung Trời Đao Lợi (cung trời), ngàn vạn ức na do tha (con số không đếm xuể) quỷ thần từ thế giới con người đều phát tâm giác ngộ tối thượng (Bồ Đề tâm). Trưởng giả Đại Biện cung kính đảnh lễ rồi lui sang một bên.

Phẩm Thứ 8: Diêm La Thiên Tử Và Quyến Thuộc Tán Thán

Diêm La Vương và vô số quỷ vương tụ hội tại Trời Đao Lợi, thỉnh hỏi Đức Phật về nhân duyên nghiệp quả của việc Bồ Tát Địa Tạng cứu độ chúng sinh.

Lúc bấy giờ, trong Thiết Vi Sơn, vô số quỷ vương và Diêm La Vương cùng nhau đến Trời Đao Lợi, đến trước Phật. Trong đó có: Quỷ Vương Ác Độc, Quỷ Vương Đa Ác, Quỷ Vương Đại Tranh, Quỷ Vương Bạch Hổ, Quỷ Vương Huyết Hổ, Quỷ Vương Xích Hổ, Quỷ Vương Tán Ương, Quỷ Vương Phi Thân, Quỷ Vương Điện Quang, Quỷ Vương Lang Nha, Quỷ Vương Thiên Nhãn, Quỷ Vương Đạm Thú, Quỷ Vương Phụ Thạch, Quỷ Vương Chủ Hao, Quỷ Vương Chủ Họa, Quỷ Vương Chủ Thực, Quỷ Vương Chủ Tài, Quỷ Vương Chủ Súc, Quỷ Vương Chủ Cầm, Quỷ Vương Chủ Thú, Quỷ Vương Chủ Mỵ, Quỷ Vương Chủ Sản, Quỷ Vương Chủ Mệnh, Quỷ Vương Chủ Tật, Quỷ Vương Chủ Hiểm, Quỷ Vương Tam Mục, Quỷ Vương Tứ Mục, Quỷ Vương Ngũ Mục, Kỳ Lợi Thất Vương, Đại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Đại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Đại A Na Tra Vương, và nhiều đại quỷ vương khác nữa. Mỗi vị đại quỷ vương dẫn theo hàng trăm hàng ngàn tiểu quỷ vương. Tất cả đều trú tại Diêm Phù Đề, mỗi vị có phạm vi quản hạt và trách nhiệm riêng. Các quỷ vương và Diêm La Vương, nhờ oai thần lực của Phật và sức lực của Bồ Tát Địa Tạng Ma Ha Tát, cùng nhau đến Trời Đao Lợi, đứng sang một bên.

Lúc này, trong Thiết Vi Sơn, vô số quỷ vương và Diêm La Vương (đại vương cai quản cõi âm) cùng nhau đến Trời Đao Lợi, đến trước Phật. Các quỷ vương gồm có: Quỷ Vương Ác Độc, Quỷ Vương Đa Ác, Quỷ Vương Đại Tranh, Quỷ Vương Bạch Hổ, Quỷ Vương Huyết Hổ, Quỷ Vương Xích Hổ, Quỷ Vương Tán Ương, Quỷ Vương Phi Thân, Quỷ Vương Điện Quang, Quỷ Vương Lang Nha, Quỷ Vương Thiên Nhãn, Quỷ Vương Đạm Thú, Quỷ Vương Phụ Thạch, Quỷ Vương Chủ Hao, Quỷ Vương Chủ Họa, Quỷ Vương Chủ Thực, Quỷ Vương Chủ Tài, Quỷ Vương Chủ Súc, Quỷ Vương Chủ Cầm, Quỷ Vương Chủ Thú, Quỷ Vương Chủ Mỵ, Quỷ Vương Chủ Sản, Quỷ Vương Chủ Mệnh, Quỷ Vương Chủ Tật, Quỷ Vương Chủ Hiểm, Quỷ Vương Tam Mục, Quỷ Vương Tứ Mục, Quỷ Vương Ngũ Mục, Kỳ Lợi Thất Vương, Đại Kỳ Lợi Thất Vương, Kỳ Lợi Xoa Vương, Đại Kỳ Lợi Xoa Vương, A Na Tra Vương, Đại A Na Tra Vương, và rất nhiều đại quỷ vương khác nữa. Mỗi vị đại quỷ vương dẫn theo hàng trăm hàng ngàn tiểu quỷ vương. Tất cả đều trú tại thế giới con người, mỗi vị quản lý công việc riêng. Các quỷ vương và Diêm La Vương, nhờ oai thần lực của Phật và sức lực của Bồ Tát Địa Tạng, cùng nhau đến Trời Đao Lợi, đứng sang một bên.

Bấy giờ Diêm La Thiên Tử quỳ gối chắp tay thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, chúng con và các quỷ vương hôm nay đến được đại hội ở Trời Đao Lợi, đều nhờ oai thần lực của Phật và sức lực của Bồ Tát Địa Tạng Ma Ha Tát — và đây thực sự là phước duyên lớn lao của chúng con. Nay con có một câu hỏi nhỏ dám thỉnh hỏi Thế Tôn. Kính xin Thế Tôn từ bi giải thích cho chúng con.”

Lúc này, Diêm La Thiên Tử quỳ gối chắp tay thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, chúng con và các quỷ vương hôm nay đến được đại pháp hội ở Trời Đao Lợi, đều nhờ oai thần lực của Phật và sức lực của Bồ Tát Địa Tạng — và đây thực sự là phước duyên tốt lành của chúng con. Nay con có một câu hỏi nhỏ, khiêm cung dám thỉnh hỏi Thế Tôn. Mong Thế Tôn từ bi giải thích cho chúng con.”

Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Muốn hỏi gì cứ hỏi, Ta sẽ giải thích cho ông.”

Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Muốn hỏi gì cứ hỏi — Ta sẽ giải thích cho ông.”

Bấy giờ Diêm La Thiên Tử cung kính nhìn Thế Tôn, rồi ngoảnh lại nhìn Bồ Tát Địa Tạng, thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, con quan sát thấy Bồ Tát Địa Tạng, trong sáu cõi luân hồi, dùng trăm ngàn phương tiện cứu độ chúng sinh đang chịu khổ vì tội lỗi, không hề mệt mỏi. Vị Đại Bồ Tát này có thần lực không thể nghĩ bàn như vậy. Thế nhưng, sau khi những chúng sinh này được giải thoát khỏi quả báo nghiệp, chẳng bao lâu lại đọa trở lại ác đạo. Thưa Thế Tôn, Bồ Tát Địa Tạng đã có thần lực không thể nghĩ bàn như vậy, tại sao chúng sinh không an trú trong thiện đạo và được giải thoát vĩnh viễn? Kính xin Thế Tôn giải thích điều này cho con.”

Diêm La Thiên Tử cung kính nhìn Thế Tôn, rồi quay sang nhìn Bồ Tát Địa Tạng, và thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, con quan sát thấy Bồ Tát Địa Tạng, trong sáu cõi luân hồi (cõi trời, cõi người, cõi a tu la, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, và cõi địa ngục — sáu nơi mà chúng sinh luân chuyển tái sinh), dùng trăm ngàn phương pháp cứu độ chúng sinh đang chịu khổ vì tội lỗi, và không bao giờ mệt mỏi. Vị Đại Bồ Tát này có thần lực không thể nghĩ bàn. Thế nhưng, sau khi những chúng sinh đó được cứu thoát khỏi quả báo nghiệp, chẳng bao lâu lại đọa trở lại ác đạo. Thưa Thế Tôn, Bồ Tát Địa Tạng đã có thần lực không thể nghĩ bàn như vậy, tại sao chúng sinh không chịu ở lại thiện đạo và được giải thoát vĩnh viễn? Mong Thế Tôn giải thích điều này cho con.”

Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Chúng sinh ở Nam Diêm Phù Đề tánh tình cương cường, khó điều khó phục. Vị Đại Bồ Tát này, trải qua trăm ngàn kiếp, đã lần lượt cứu độ những chúng sinh như vậy, giúp họ sớm được giải thoát. Dù người có tội đã đọa vào ác đạo khủng khiếp nhất, Bồ Tát bằng sức phương tiện thiện xảo, nhổ tận gốc rễ nghiệp chướng ràng buộc và giúp họ giác ngộ những việc làm trong quá khứ. Nhưng chúng sinh ở Diêm Phù Đề tập khí ác sâu nặng đến nỗi vừa được giải thoát liền lại sa vào — ra rồi lại vào, ra rồi lại vào — khiến Bồ Tát phải nhọc nhằn qua vô lượng kiếp để cứu độ họ.”

Phật bảo Diêm La Thiên Tử: “Chúng sinh ở thế giới con người tánh tình cực kỳ cương cường — rất khó dạy và rất khó điều phục. Trải qua trăm ngàn kiếp, vị Đại Bồ Tát này đã cứu độ những chúng sinh này hết lần này đến lần khác, giúp họ sớm được giải thoát. Dù có người vì tội lỗi mà đọa vào ác đạo tệ nhất, Bồ Tát dùng đủ mọi phương tiện thiện xảo để nhổ tận gốc rễ nghiệp chướng và giúp họ tỉnh ngộ về những việc làm trong quá khứ. Nhưng chúng sinh ở thế giới con người có tập khí xấu ăn sâu đến mức vừa được cứu ra liền lại sa vào — ra rồi lại vào, cứ thế lặp đi lặp lại. Đó là lý do Bồ Tát Địa Tạng phải nhọc nhằn qua bao nhiêu kiếp để cứu độ họ.”

“Giống như một người lạc đường không tìm được lối về, lầm lỡ bước vào con đường nguy hiểm. Dọc con đường đó ẩn nấp đầy dạ xoa, hổ, sói, sư tử, rắn độc, và bọ cạp. Người lạc đường bước vào con đường đó, chẳng bao lâu sẽ bị tổn hại bởi đủ loại chất độc. Nhưng có một vị hướng đạo biết nhiều phương pháp hay, có thể chế ngự tất cả những chất độc đó, cũng như dạ xoa và các loài ác. Khi gặp người lạc đường sắp đi vào con đường nguy hiểm, vị hướng đạo gọi lớn: ‘Này anh kia! Sao lại đi vào con đường này? Anh có bản lĩnh gì đặc biệt để chống lại những hiểm nguy đó?’ Người lạc đường nghe xong, lập tức nhận ra con đường đó nguy hiểm và nhanh chóng quay lại, tìm lối thoát. Vị hướng đạo tốt bụng liền nắm tay dẫn người đó ra khỏi con đường nguy hiểm, cứu thoát khỏi mọi tai hại.”

“Con xin lấy một ví dụ. Giống như một người bị lạc đường không tìm được lối về nhà, vô tình đi lạc vào một con đường rất nguy hiểm. Con đường nguy hiểm đó đầy dạ xoa hung dữ, hổ, sói, sư tử, rắn độc, và bọ cạp. Người bị lạc đi trên đó, chẳng bao lâu sẽ bị tổn hại bởi đủ loại sinh vật độc hại. Bấy giờ xuất hiện một người tốt bụng có tài năng (một ’thiện tri thức’) biết cách đối phó với tất cả những chất độc và dạ xoa đó. Khi bất ngờ gặp người lạc đường sắp đi vào con đường nguy hiểm, người đó gọi lớn: ‘Này! Sao anh lại đi vào con đường này? Anh có kỹ năng gì đặc biệt để đối phó với những chất độc đó không?’ Người lạc đường nghe xong, bỗng nhận ra con đường đó nguy hiểm và nhanh chóng quay đầu, cố gắng thoát ra. Người tốt bụng liền nắm tay dẫn người lữ khách ra khỏi con đường nguy hiểm, cứu họ thoát khỏi mọi nguy nan.”

“Sau khi dẫn người đó đến con đường an toàn, vị hướng đạo trấn an nói: ‘Này anh bạn mê muội ơi — từ nay về sau, đừng bao giờ bước chân vào con đường đó nữa. Ai vào đó rất khó ra được, có khi còn mất mạng.’ Người lạc đường vô cùng biết ơn. Lúc chia tay, vị hướng đạo còn dặn thêm: ‘Nếu anh gặp bạn bè, người thân, hay bất kỳ lữ khách nào trên đường, dù nam hay nữ, hãy nói cho họ biết con đường đó đầy chất độc và hiểm nguy, có thể mất mạng. Đừng để họ tự đi vào chỗ chết.’”

“Sau khi dẫn người đó đến con đường an toàn, vị hướng đạo trấn an nói: ‘Này anh bạn mê muội ơi — từ nay đừng bao giờ đi con đường đó nữa. Ai vào đó rất khó ra được, có khi mất mạng.’ Người lạc đường vô cùng biết ơn. Lúc sắp chia tay, vị hướng đạo tốt bụng còn dặn thêm: ‘Nếu anh gặp bạn bè, người thân, hay lữ khách nào trên đường, dù nam hay nữ, hãy kể cho họ nghe về tất cả hiểm nguy và chất độc trên con đường đó, rằng nó có thể cướp đi mạng sống của họ. Đừng để họ tự đi vào chỗ chết.’”

“Bồ Tát Địa Tạng cũng vậy, với lòng đại từ bi, cứu vớt chúng sinh đang chịu khổ vì tội lỗi, đưa họ tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời, hưởng phước lạc vi diệu. Khi những chúng sinh có tội hiểu được nỗi khổ trên đường nghiệp, họ được giải thoát và không bao giờ bước lên đó nữa — giống như người lạc đường lầm lỡ vào con đường nguy hiểm, được vị thầy tốt bụng hướng dẫn ra, và không bao giờ bước vào lại. Khi gặp người khác, họ cũng khuyên đừng bước vào. Họ nói: ‘Vì tôi bị lạc mà rút ra bài học và được giải thoát — tôi sẽ không bao giờ vào lại nữa.’ Thế nhưng nếu lại bước chân vào con đường đó, có thể vẫn bị lạc và mê muội, không nhận ra con đường nguy hiểm mà mình từng sa vào, và lần này có thể mất mạng. Chúng sinh đọa vào ác đạo cũng như vậy — nhờ sức phương tiện thiện xảo của Bồ Tát Địa Tạng mà được giải thoát, tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời. Nhưng chẳng bao lâu lại bước vào ác đạo. Nếu ác nghiệp quá sâu nặng, có thể ở mãi trong địa ngục, không có lúc giải thoát.”

“Bồ Tát Địa Tạng cũng giống như vị hướng đạo tốt bụng đó, đầy lòng đại từ bi, cứu vớt chúng sinh đang chịu khổ vì tội lỗi, đưa họ tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời để hưởng phước lạc tuyệt vời. Nếu những chúng sinh có tội, sau khi được cứu, hiểu được quả báo cay đắng của ác nghiệp và không quay lại con đường cũ, thì giống như người lạc đường được vị hướng đạo tốt bụng dẫn ra khỏi đường nguy hiểm, không bao giờ bước vào lại, thậm chí còn cảnh báo người khác đừng đi vào, nói rằng: ‘Vì tôi bị lạc mà phải chịu khổ, nhưng sau khi được cứu thoát, tôi sẽ không bao giờ quay lại.’ Nhưng nếu lại bước vào con đường đó, vẫn sẽ bị lạc, vẫn không nhận ra chính là con đường nguy hiểm suýt giết mình trước đó — và lần này có thể thực sự mất mạng. Chúng sinh đọa vào ác đạo cũng vậy — Bồ Tát Địa Tạng dùng mọi phương tiện thiện xảo để cứu họ, đưa tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời, nhưng chẳng bao lâu lại đọa trở lại. Nếu ác nghiệp quá sâu nặng, có thể mãi mãi ở trong địa ngục, không còn hy vọng giải thoát.”

Bấy giờ, Quỷ Vương Ác Độc chắp tay cung kính thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, chúng con quỷ vương số lượng vô biên, đều hoạt động ở Diêm Phù Đề — có vị lợi ích cho người, có vị gây hại; mỗi vị mỗi khác. Thế nhưng, vì quả báo nghiệp mà quyến thuộc của con đi khắp thế gian, làm nhiều ác mà ít thiện. Khi đi qua nhà cửa, thành thị, thôn làng, vườn tược, hay nhà ở của người, nếu thấy có người nam hay người nữ nào làm dù chỉ một việc thiện nhỏ — dù chỉ treo một lá tràng phan hay một cái bảo cái, dâng chút hương hay vài bông hoa trước tượng Phật hoặc Bồ Tát, hoặc đọc tụng kinh điển, đốt hương cúng dường dù chỉ một câu hay một bài kệ — chúng con quỷ vương đều cung kính đảnh lễ người đó như đảnh lễ tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai. Chúng con sai khiến các tiểu quỷ và thần đất bản xứ có uy lực canh giữ bảo hộ người đó, đảm bảo không có điều ác, tai ương, bệnh tật, tai nạn bất ngờ, và không có bất kỳ việc gì khó chịu xảy ra gần nhà họ — huống chi là vào được cửa.”

Lúc này, Quỷ Vương Ác Độc chắp tay cung kính thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, chúng con quỷ vương nhiều không đếm xuể, đều hoạt động trong thế giới con người — có vị giúp người, có vị hại người, mỗi vị mỗi khác. Vì quả báo nghiệp, quyến thuộc của con đi khắp thế gian, phần nhiều làm ác mà ít làm thiện. Khi đi qua nhà cửa, thành thị, thôn làng, vườn tược, hay nhà ở của người, nếu thấy có người nam hay người nữ nào làm dù chỉ việc thiện nhỏ nhất — dù chỉ treo một lá tràng phan nhỏ, giương một cái bảo cái nhỏ, dâng chút hương và vài bông hoa trước tượng Phật hoặc Bồ Tát, hoặc đọc tụng kinh niệm Phật, đốt hương cúng dường dù chỉ một câu hay một bài kệ — chúng con quỷ vương đều đối xử với người đó bằng sự cung kính tột bậc, đảnh lễ như đảnh lễ chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai. Chúng con cũng sai khiến tiểu quỷ có đại uy lực và thần đất bản xứ bảo hộ người đó, đảm bảo không có điều ác, tai ương, bệnh tật, tai nạn bất ngờ, và không có bất kỳ việc gì khó chịu xảy ra gần nhà họ — huống chi là vào được cửa.”

Phật khen Quỷ Vương: “Lành thay! Lành thay! Ông và Diêm La Vương có thể bảo hộ thiện nam tử thiện nữ nhân như vậy — Ta cũng sẽ bảo Phạm Thiên và Đế Thích canh giữ bảo hộ các ông.”

Phật khen Quỷ Vương: “Lành thay! Lành thay! Ông và Diêm La Vương có thể bảo hộ thiện nam tử thiện nữ nhân như vậy — Ta cũng sẽ bảo Phạm Thiên (đại vương cõi trời) và Đế Thích (thiên đế) canh giữ bảo hộ các ông.”

Khi những lời này vừa nói xong, trong đại chúng có một vị quỷ vương tên là Quỷ Vương Chủ Mệnh thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, vai trò nghiệp duyên của con là cai quản mạng sống chúng sinh ở Diêm Phù Đề — con chủ trì cả lúc sinh và lúc tử. Bản nguyện của con là muốn đại lợi ích cho họ. Thế nhưng chúng sinh không hiểu ý con, nên cả lúc sinh lẫn lúc tử đều bất an. Tại sao vậy? Khi có trẻ sắp sinh ở Diêm Phù Đề — dù trai hay gái — gia đình nên làm việc thiện vào lúc sinh, từ đó tăng thêm phước đức cho gia đình, khiến thần đất bản xứ vô cùng hoan hỉ mà bảo hộ cả mẹ lẫn con, ban cho đại an lạc hạnh phúc, và lợi ích cả nhà. Sau khi trẻ sinh ra, gia đình tuyệt đối không được sát sinh, không được mua sắm các loại thịt tươi cho sản phụ ăn, cũng không nên tụ họp đông đảo bà con uống rượu ăn thịt vui chơi ca hát — vì những việc đó chỉ khiến cả mẹ lẫn con không được an ổn.”

Khi Phật đang nói, trong đại chúng có một vị quỷ vương tên là Quỷ Vương Chủ Mệnh thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, vì vai trò nghiệp duyên, con phụ trách cai quản mạng sống chúng sinh trong thế giới con người — từ lúc sinh đến lúc tử, đều thuộc thẩm quyền của con. Theo bản nguyện, con rất muốn giúp đỡ mọi người. Nhưng chúng sinh không hiểu thiện ý của con, nên cả lúc sinh lẫn lúc tử đều bất an. Tại sao? Khi có em bé sắp sinh ở thế giới con người — dù trai hay gái — gia đình nên làm việc thiện lúc sinh, từ đó tăng thêm phước đức cho gia đình. Như vậy, thần đất bản xứ sẽ vô cùng hoan hỉ mà bảo hộ cả mẹ lẫn con, ban cho cả nhà an lạc hạnh phúc. Nhưng có người, sau khi em bé sinh ra, lại đi giết gà giết cá mua sắm đủ loại thịt tươi cho sản phụ, và tụ họp đông đảo bà con uống rượu, ăn thịt, ca hát, vui chơi. Việc này thực ra chỉ khiến cả mẹ lẫn con không được an ổn.”

“Tại sao vậy? Vào lúc sinh nở khó khăn nhất, vô số ác quỷ và ma vương đến tìm máu tanh hôi để ăn. Chính con đã sai khiến thần hộ gia và thần đất bản xứ bảo hộ cả mẹ lẫn con, đảm bảo an lạc hạnh phúc. Khi gia đình thấy mẹ con bình an, đáng lẽ phải tu phước để tạ ơn thần đất. Nhưng thay vào đó, họ lại sát sinh và tụ họp bà con ăn uống linh đình. Vì vậy, tự chuốc lấy tai ương cho mình, và cả mẹ lẫn con đều bị tổn hại.”

“Tại sao? Vì vào lúc sinh nở khó khăn nhất, vô số ác quỷ và ma vương bị mùi máu tanh thu hút và tìm đến ăn. Chính con đã phái thần hộ gia và thần đất bản xứ bảo hộ mẹ con, đảm bảo an toàn hạnh phúc. Nhưng khi những người này thấy mẹ con bình an, thay vì làm việc thiện tạ ơn thần đất, họ lại đi sát sinh và tụ họp bà con mở tiệc ăn thịt uống rượu linh đình. Vì vậy, tự chuốc lấy tai ương cho mình, và cả mẹ lẫn con đều bị tổn hại.”

“Lại nữa, khi chúng sinh ở Diêm Phù Đề sắp lâm chung — dù là người thiện hay người ác — ý nguyện của con là mong người sắp chết đừng đọa vào ác đạo. Huống chi là người đã tu tập thiện căn, từ đó tăng cường thêm sức lực cho con! Thế nhưng, ngay cả những người thiện ở Diêm Phù Đề, lúc lâm chung vẫn phải đối mặt với trăm ngàn quỷ thần từ ác đạo có thể biến hóa thành hình dạng cha mẹ hay người thân, dẫn dụ thần thức người chết vào ác đạo. Huống chi là những người đã tạo nhiều ác nghiệp trong đời!”

“Lại nữa, khi người ở thế giới con người sắp lâm chung — dù là người tốt hay người xấu — ý nguyện của con là mong người sắp chết đừng đọa vào ác đạo. Huống chi là người đã tu tập thiện căn, từ đó tăng thêm sức lực cho con! Nhưng phải biết rằng: ngay cả những người đã làm nhiều việc thiện ở thế giới con người, vào lúc lâm chung vẫn phải đối mặt với trăm ngàn ác quỷ thần có thể biến hóa thành hình dạng cha mẹ hay người thân, dẫn dụ họ vào ác đạo. Huống chi là những người đã tạo nhiều ác nghiệp trong đời!”

“Thưa Thế Tôn, khi người nam người nữ ở Diêm Phù Đề sắp lâm chung, thần thức mờ mịt hôn ám, không phân biệt được thiện ác; mắt tai không thể thấy nghe. Lúc đó, gia quyến phải sắp đặt đại cúng dường, đọc tụng kinh điển, và niệm danh hiệu Phật và Bồ Tát. Những thiện duyên như vậy có thể giúp người mất rời khỏi ác đạo, và tất cả ma quỷ ác thần đều phải lui tán.”

“Thưa Thế Tôn, khi người nam người nữ ở thế giới con người sắp lâm chung, thần thức trở nên mờ mịt hôn ám, không phân biệt được thiện ác, và mắt tai không còn thấy nghe. Lúc đó, gia quyến nên sắp đặt đại cúng dường, đọc tụng kinh điển, và niệm danh hiệu Phật và Bồ Tát. Những thiện duyên này có thể giúp người mất rời khỏi tất cả ác đạo, và tất cả ma quỷ ác thần đều hoàn toàn lui tán.”

“Thưa Thế Tôn, khi bất kỳ chúng sinh nào sắp lâm chung, nếu nghe được danh hiệu một vị Phật, một vị Bồ Tát, hoặc thậm chí một câu hay một bài kệ trong kinh Đại Thừa — con quan sát thấy người đó, trừ tội ngũ vô gián liên quan đến sát sinh, ngay cả những người có ác nghiệp nhẹ hơn đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, đều lập tức được giải thoát.”

“Thưa Thế Tôn, khi bất kỳ chúng sinh nào sắp lâm chung, nếu nghe được danh hiệu dù chỉ một vị Phật, một vị Bồ Tát, hoặc thậm chí một câu hay một bài kệ trong kinh Đại Thừa — con quan sát thấy người đó, trừ những người đã phạm năm tội vô gián nặng nhất về sát sinh, ngay cả những người có ác nghiệp nhẹ hơn đáng lẽ phải đọa vào ác đạo, đều lập tức được giải thoát.”

Phật bảo Quỷ Vương Chủ Mệnh: “Vì ông có lòng đại từ bi mà có thể phát đại nguyện trang nghiêm như vậy — bảo hộ tất cả chúng sinh trong lúc sinh tử. Trong tương lai, nếu có người nam hay người nữ nào đến lúc sinh hoặc lúc tử, ông chớ thối lui nguyện này. Hãy đảm bảo tất cả đều được giải thoát và mãi mãi hưởng an lạc hạnh phúc.”

Phật bảo Quỷ Vương Chủ Mệnh: “Vì ông có lòng đại từ bi nên có thể phát đại nguyện trang nghiêm như vậy — bảo hộ tất cả chúng sinh trong vòng sinh tử. Trong tương lai, bất kỳ khi nào có người nam hay người nữ đến thời khắc quan trọng của sinh hoặc tử, ông chớ thối lui nguyện này. Hãy giúp tất cả đều được giải thoát và mãi mãi hưởng an lạc hạnh phúc.”

Quỷ Vương thưa với Phật: “Xin Thế Tôn đừng lo. Chừng nào thân này còn tồn tại, từng giây từng phút con đều sẽ bảo hộ chúng sinh ở Diêm Phù Đề, đảm bảo cả lúc sinh và lúc tử đều được an lạc hạnh phúc. Con chỉ mong tất cả chúng sinh, lúc sinh và lúc tử, tin tưởng và nghe theo lời con — thì không ai không được giải thoát, tất cả đều nhận được lợi ích lớn lao.”

Quỷ Vương thưa với Phật: “Xin Thế Tôn đừng lo. Chừng nào thân này còn tồn tại, từng giây từng phút con đều sẽ bảo hộ chúng sinh ở thế giới con người, đảm bảo dù lúc sinh hay lúc tử đều được an lạc hạnh phúc. Chỉ cần chúng sinh chịu tin lời con lúc sinh và lúc tử, thì không ai không được giải thoát — tất cả đều nhận được lợi ích lớn lao.”

Lúc đó, Phật bảo Bồ Tát Địa Tạng: “Đại Quỷ Vương Chủ Mệnh này đã trải qua trăm ngàn đời làm đại quỷ vương, bảo hộ chúng sinh trong lúc sinh tử. Vì lòng từ bi và nguyện lực của vị đại sĩ này mà thị hiện thân đại quỷ vương — thực ra đó không phải là quỷ. Sau một trăm bảy mươi kiếp, vị ấy sẽ thành Phật, hiệu là Vô Tướng Như Lai. Kiếp đó tên là An Lạc, thế giới tên là Tịnh Trụ. Thọ mạng Phật sẽ là vô lượng kiếp. Địa Tạng, công hạnh của Đại Quỷ Vương này thực sự không thể nghĩ bàn, và số lượng người và trời được Ngài cứu độ không thể tính đếm.”

Lúc này, Phật bảo Bồ Tát Địa Tạng: “Đại Quỷ Vương Chủ Mệnh này đã trải qua trăm ngàn đời làm đại quỷ vương, bảo hộ chúng sinh trong lúc sinh tử. Vị Đại Bồ Tát này chỉ thị hiện thân đại quỷ vương vì lòng từ bi và nguyện lực — thực ra không phải là quỷ. Sau một trăm bảy mươi kiếp, vị ấy sẽ thành Phật, hiệu là Vô Tướng Như Lai. Kiếp đó tên là An Lạc, thế giới tên là Tịnh Trụ. Sau khi thành Phật, thọ mạng sẽ dài vô lượng. Địa Tạng, công hạnh của Đại Quỷ Vương này thực sự không thể nghĩ bàn, và số lượng người và trời được cứu độ không sao tính đếm được.”

Phẩm Thứ 9: Xưng Niệm Danh Hiệu Chư Phật

Bồ Tát Địa Tạng tuyên nói danh hiệu chư Phật thời quá khứ, dạy chúng sinh rằng niệm danh hiệu Phật có thể mang lại công đức vô lượng và giải thoát khỏi nghiệp báo.

Lúc bấy giờ, Bồ Tát Địa Tạng Ma Ha Tát thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, nay con muốn vì chúng sinh đời vị lai mà nói về những việc sẽ mang lại lợi ích cho họ, để trong vòng sinh tử được lợi ích lớn lao. Kính xin Thế Tôn cho phép con nói.”

Lúc này, Bồ Tát Địa Tạng thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, nay con muốn vì chúng sinh đời vị lai mà nói về những việc sẽ mang lại lợi ích cho họ, để trong vòng sinh tử được lợi ích lớn lao. Mong Thế Tôn cho phép con nói.”

Phật bảo Bồ Tát Địa Tạng: “Nay ông muốn phát khởi lòng từ bi cứu vớt tất cả chúng sinh đang chịu khổ trong sáu cõi và tuyên nói những việc không thể nghĩ bàn — nay chính là lúc thích hợp. Hãy nói mau đi. Ta sắp nhập Niết Bàn; để ông sớm viên mãn nguyện này, thì Ta không còn lo lắng gì cho tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai nữa.”

Phật bảo Bồ Tát Địa Tạng: “Nay ông muốn phát khởi lòng từ bi cứu vớt tất cả chúng sinh đang chịu khổ vì tội lỗi trong sáu cõi và nói về những việc không thể nghĩ bàn — nay chính là lúc thích hợp. Hãy nói mau! Ta sắp nhập Niết Bàn (rời cõi này). Để ông sớm viên mãn nguyện này, thì Ta không còn lo lắng gì cho tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai.”

Bồ Tát Địa Tạng thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, trong quá khứ xa xôi vô lượng, cách đây vô số a tăng kỳ kiếp, có một vị Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà khởi chút lòng cung kính, sẽ vượt qua được trọng tội sinh tử tích lũy trong bốn mươi kiếp. Huống chi là người tạc tượng vẽ tượng, cúng dường, tán thán — phước đức nhận được thực sự vô biên vô lượng.”

Bồ Tát Địa Tạng thưa với Phật: “Thưa Thế Tôn, trong quá khứ vô cùng xa xôi — lâu xa đến mức không thể tính được (gọi là vô lượng a tăng kỳ kiếp) — có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Vô Biên Thân Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà dù chỉ thoáng khởi lòng cung kính, có thể tiêu trừ trọng tội sinh tử tích lũy trong bốn mươi kiếp. Huống chi là người tạc tượng, cúng dường, tán thán — phước đức nhận được vô biên vô lượng.”

“Lại nữa, trong quá khứ, cách đây nhiều kiếp nhiều như cát sông Hằng, có một vị Phật ra đời hiệu là Bảo Tánh Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này và trong khoảng búng ngón tay phát tâm quy y, thì người đó sẽ không bao giờ thối chuyển trên con đường giác ngộ tối thượng.”

“Lại nữa, trong quá khứ, cách đây nhiều kiếp nhiều như cát sông Hằng, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Bảo Tánh Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này và trong khoảng búng ngón tay phát tâm quy y (nguyện theo giáo pháp của Phật), thì người đó sẽ không bao giờ thối chuyển trên con đường giác ngộ tối thượng.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là Liên Hoa Thắng Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà lọt qua tai, thì người đó sẽ được tái sinh một ngàn lần trong sáu tầng trời Dục giới. Huống chi là người thành tâm niệm danh hiệu!”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Liên Hoa Thắng Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào chỉ cần cho danh hiệu Phật này lọt qua tai và nghe được, thì người đó sẽ được tái sinh một ngàn lần trong sáu tầng trời Dục giới (sáu nơi tuyệt đẹp ở cõi trời). Huống chi là người thành tâm niệm danh hiệu!”

“Lại nữa, trong quá khứ — cách đây vô số a tăng kỳ kiếp không thể nói, không thể tả — có một vị Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà khởi dù chỉ một niệm quy y, thì người đó sẽ gặp vô lượng chư Phật xoa đầu thọ ký thành Phật trong tương lai.”

“Lại nữa, trong quá khứ — lâu xa đến mức không thể mô tả, vô số kiếp không thể nói — có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Sư Tử Hống Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà khởi dù chỉ một niệm quy y, thì người đó sẽ gặp vô lượng chư Phật xoa đầu thọ ký (tiên tri rằng chắc chắn sẽ thành Phật trong tương lai).”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là Câu Lưu Tôn Phật. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà thành tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ, hoặc tán thán, thì người đó trong đại hội của ngàn vị Phật trong Hiền Kiếp này, sẽ làm Phạm Thiên Đại Vương, và được thọ ký thành Phật tối thượng.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Câu Lưu Tôn Phật.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà thành tâm chiêm ngưỡng đảnh lễ, hoặc tán thán, thì người đó trong đại hội của ngàn vị Phật trong Hiền Kiếp (đại kiếp mà chúng ta đang ở) sẽ làm Phạm Thiên Đại Vương (vị vương tôn quý nhất trên cõi trời), và được thọ ký thành Phật tối thượng.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Phật. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, sẽ không bao giờ đọa vào ác đạo và luôn luôn được tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời, hưởng phước lạc tối thắng vi diệu.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Tỳ Bà Thi Phật.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, sẽ không bao giờ đọa vào ác đạo và luôn luôn được tái sinh trong cõi người hoặc cõi trời, hưởng phước lạc tuyệt vời nhất.”

“Lại nữa, trong quá khứ — cách đây vô lượng vô số kiếp, nhiều như cát sông Hằng — có một vị Phật ra đời hiệu là Bảo Thắng Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, chắc chắn không bao giờ đọa vào ác đạo và luôn luôn trú trong cõi trời, hưởng phước lạc tối thắng vi diệu.”

“Lại nữa, trong quá khứ — cách đây vô lượng vô số kiếp, nhiều như cát sông Hằng — có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Bảo Thắng Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, chắc chắn không bao giờ đọa vào ác đạo và mãi mãi trú trong cõi trời, hưởng phước lạc tuyệt vời nhất.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là Bảo Tướng Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà khởi lòng cung kính, thì người đó không lâu sẽ chứng quả A La Hán.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Bảo Tướng Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này mà khởi lòng cung kính, thì người đó không lâu sẽ chứng quả A La Hán (bậc tu hành thành tựu, không còn phải luân hồi chịu khổ).”

“Lại nữa, trong quá khứ xa xôi vô lượng, cách đây vô số a tăng kỳ kiếp, có một vị Phật ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, sẽ vượt qua được tội lỗi sinh tử tích lũy trong một trăm đại kiếp.”

“Lại nữa, trong quá khứ xa xôi vô lượng, cách đây vô số a tăng kỳ kiếp, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Ca Sa Tràng Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, sẽ tiêu trừ được tội lỗi sinh tử tích lũy trong một trăm đại kiếp.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là Đại Thông Sơn Vương Như Lai. Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, thì người đó sẽ gặp chư Phật nhiều như cát sông Hằng rộng nói Pháp cho nghe, và chắc chắn sẽ chứng đạo Bồ Đề.”

“Lại nữa, trong quá khứ, có một vị Phật ra đời hiệu là ‘Đại Thông Sơn Vương Như Lai.’ Nếu có người nam hay người nữ nào nghe được danh hiệu Phật này, thì người đó sẽ gặp chư Phật nhiều như cát sông Hằng rộng nói Pháp chi tiết cho nghe, và chắc chắn sẽ chứng đạo Bồ Đề (giác ngộ tối thượng).”

“Lại nữa, trong quá khứ từng xuất hiện: Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Trí Thắng Phật, Tịnh Danh Vương Phật, Trí Thành Tựu Phật, Vô Thượng Phật, Diệu Thanh Phật, Mãn Nguyệt Phật, Nguyệt Diện Phật — và vô số chư Phật không thể nói hết như vậy. Thưa Thế Tôn, tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai — dù ở cõi trời hay cõi người, dù nam hay nữ — chỉ cần niệm danh hiệu một vị Phật là được công đức vô lượng. Huống chi là niệm danh hiệu nhiều vị Phật!”

“Lại nữa, trong quá khứ từng xuất hiện: Tịnh Nguyệt Phật, Sơn Vương Phật, Trí Thắng Phật, Tịnh Danh Vương Phật, Trí Thành Tựu Phật, Vô Thượng Phật, Diệu Thanh Phật, Mãn Nguyệt Phật, Nguyệt Diện Phật… và vô số chư Phật không thể nói hết như vậy. Thưa Thế Tôn, tất cả chúng sinh đời hiện tại và vị lai — dù ở cõi trời hay thế giới con người, dù nam hay nữ — chỉ cần niệm danh hiệu một vị Phật là được công đức vô lượng vô biên. Huống chi là niệm danh hiệu nhiều vị Phật!”

“Những chúng sinh như vậy, dù lúc sinh hay lúc tử, tự nhiên sẽ nhận được lợi ích lớn lao và không bao giờ đọa vào ác đạo. Nếu có ai sắp lâm chung mà chỉ cần một người thân thay mặt người sắp chết lớn tiếng niệm danh hiệu một vị Phật — trừ năm tội vô gián, tất cả nghiệp báo khác của người sắp chết đều được tiêu trừ hoàn toàn. Ngay cả năm tội vô gián, tuy cực kỳ nặng nề và bình thường phải chịu trong trăm triệu kiếp không có lối thoát — nhờ có người niệm Phật lúc lâm chung, những tội đó cũng dần dần được tiêu trừ. Huống chi là chúng sinh tự mình niệm Phật — phước đức nhận được vô lượng, và tội lỗi tiêu trừ cũng vô lượng!”

“Những chúng sinh như vậy, dù lúc sinh hay lúc tử, tự nhiên sẽ nhận được lợi ích lớn lao và không bao giờ đọa vào ác đạo. Nếu có ai sắp lâm chung mà chỉ cần một người thân lớn tiếng niệm danh hiệu một vị Phật thay cho họ, thì người sắp chết — trừ năm tội vô gián — tất cả nghiệp báo khác đều được tiêu trừ hoàn toàn. Ngay cả năm tội vô gián, nặng đến mức phải kẹt trong ác đạo trăm triệu kiếp không lối thoát — nhờ có người niệm Phật giúp lúc lâm chung, những tội đó cũng dần dần được tiêu trừ. Huống chi là chúng sinh tự mình niệm Phật — phước đức nhận được vô tận, và tội lỗi tiêu trừ cũng vô tận!”

Reference

All rights reserved,未經允許不得隨意轉載
Built with Hugo
Theme Stack thiết kế bởi Jimmy