Tóm tắt chính của Kinh Lăng Nghiêm Quyển 8
- Ba bước tu hành tiệm tiến:
- Tu tập, trừ bỏ trợ nhân.
- Chân tu, khoét bỏ chính tính.
- Tăng tiến, đi ngược lại nghiệp hiện tại.
- Người tu hành nên đoạn trừ ngũ tân, tránh gây ra tham dâm và sân hận.
- Người tu hành cần nghiêm trì giới luật thanh tịnh, vĩnh viễn đoạn trừ dâm tâm, không ăn rượu thịt.
- Thứ tự tu hành: Bắt đầu từ Càn Tuệ Địa, trải qua Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa, cuối cùng đạt đến Đẳng Giác và Diệu Giác.
- Giải thích mười loại tập khí (dâm, tham, mạn, sân, trá, cuống, oán, kiến, uổng, tụng) và quả báo mà chúng chiêu cảm.
- Sáu loại ác báo do sáu căn tạo nghiệp chiêu cảm (kiến, văn, khứu, vị, xúc, tư).
- Giải thích nguyên nhân hình thành các ác đạo như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh.
- Mô tả phương pháp tu hành và đặc điểm của mười loại tiên.
- Giải thích sự hình thành và đặc điểm của sáu cõi trời Dục giới.
- Nhấn mạnh rằng luân hồi của tất cả chúng sinh đều do vọng tưởng nghiệp lực của tự thân chiêu cảm, nếu ngộ được Bồ Đề thì có thể siêu thoát.
- Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu hành, chỉ ra sự nguy hiểm của việc không tu theo Chánh giác.
- Giải thích nguyên nhân và quá trình chúng sinh luân hồi trong sáu đạo.
Tập này chủ yếu trình bày về các giai đoạn tu tập, nguyên nhân của các quả báo nghiệp chướng khác nhau, và cơ chế luân hồi trong sáu đạo, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tu tập đúng đắn.
Toàn văn Kinh Lăng Nghiêm Quyển 8
“A Nam, tất cả những chúng sinh này trong mỗi loại của họ cũng được phú cho mười hai loại đảo ngược một cách đặc biệt. Nó giống như dụi mắt, khiến cho những bông hoa hỗn loạn xuất hiện. Với sự đảo ngược của tâm trí tuyệt diệu, hoàn hảo, chân thật, thanh tịnh, sáng suốt, họ đầy đủ những tư tưởng sai lầm và hỗn loạn như vậy. Bây giờ khi ngươi đang tu tập và chứng ngộ Tam Muội của Phật, liên quan đến những tư tưởng hỗn loạn phát sinh từ nguyên nhân cơ bản, ngươi phải thiết lập ba giai đoạn dần dần để loại bỏ chúng. Nó giống như loại bỏ mật độc khỏi một chiếc bình thanh tịnh, rửa chiếc bình bằng nước nóng trộn với tro và hương, và sau đó chứa cam lộ ngọt trong đó. Ba giai đoạn dần dần là gì? Thứ nhất là tu tập để loại bỏ các nguyên nhân hỗ trợ. Thứ hai là tu tập chân chính để làm rỗng bản tánh. Thứ ba là thực hành tiến bộ để đi ngược lại nghiệp hiện tại.
Các nguyên nhân hỗ trợ là gì? A Nam, mười hai loại chúng sinh trong thế giới này không thể tự duy trì mà không dựa vào bốn loại ăn: ăn bằng phần, ăn bằng xúc chạm, ăn bằng tư tưởng, và ăn bằng thức. Do đó, Phật nói rằng tất cả chúng sinh dựa vào ăn để sống. A Nam, tất cả chúng sinh sống nếu họ ăn những gì ngọt ngào và chết nếu họ ăn những gì độc hại. Chúng sinh tìm cầu Tam Muội nên cắt đứt năm loại thực vật cay nồng của thế gian. Nếu năm loại thực vật cay nồng này được ăn chín, chúng làm tăng dâm dục; nếu chúng được ăn sống, chúng làm tăng sân hận. Do đó, ngay cả khi những người trong thế gian này ăn thực vật cay nồng có thể thuyết giảng mười hai bộ kinh, các vị thần và tiên của mười phương sẽ tránh xa họ vì họ không thích mùi hôi. Tuy nhiên, ngạ quỷ sẽ liếm môi và hôn họ sau khi họ ăn. Họ luôn ở cùng với ma quỷ. Phước đức và công đức của họ giảm sút hàng ngày, và họ không có lợi ích gì. Khi những người ăn thực vật cay nồng tu tập Tam Muội, không có Bồ Tát, thần, tiên, hay thiện thần nào của mười phương đến bảo vệ họ. Các đại ma vương tìm thấy sự thuận tiện của chúng và hiện thân làm Phật để thuyết pháp cho họ, chê bai giới luật và ca ngợi dâm dục, sân hận, và ngu si. Khi mạng sống của họ kết thúc, họ sẽ trở thành tín đồ của ma vương. Khi phước báu ma quỷ của họ cạn kiệt, họ sẽ rơi vào Địa Ngục Vô Gián. A Nam, những người tu tập Bồ Đề phải xác minh cắt đứt năm loại thực vật cay nồng mãi mãi. Đây được gọi là giai đoạn dần dần đầu tiên của tu tập tiến bộ.
Chân tánh là gì? A Nam, nếu chúng sinh muốn vào Tam ma địa, trước tiên họ phải giữ giới thanh tịnh một cách nghiêm ngặt. Họ phải đoạn trừ tâm dâm dục vĩnh viễn và không dùng rượu hay thịt. Họ nên ăn thức ăn đã nấu chín và không ăn thức ăn sống. A Nam, nếu một người tu hành không cắt đứt dâm dục và sát sinh, thì không thể nào vượt qua ba cõi. Ông nên luôn xem dâm dục như rắn độc hoặc kẻ trộm oán hận. Trước hết, ông nên giữ tứ khí (bốn tội ba la di) và bát khí (tám tội ba la di) của Thanh Văn để giữ thân không động; sau đó, ông nên thực hành các quy tắc thanh tịnh của Bồ tát để giữ tâm không khởi. Khi giới luật được thành tựu, sẽ không có nghiệp tạo tác và giết hại lẫn nhau trong thế gian. Nếu ông không trộm cắp hay cướp bóc, ông sẽ không có nợ phải trả. Ông cũng sẽ không phải trả nợ quá khứ trong thế gian. Khi một người thanh tịnh như vậy tu tập Tam ma địa, thân xác thịt của cha mẹ ông, không cần đến thiên nhãn, tự nhiên thấy các thế giới mười phương, thấy chư Phật và nghe Pháp, đích thân nhận sự chỉ dạy của thánh nhân, đạt được đại thần thông để dạo chơi mười phương, và đạt được sự thanh tịnh của các đời quá khứ mà không gặp khó khăn hay nguy hiểm. Đây gọi là giai đoạn tiệm tiến thứ hai của sự tu tập tiến bộ.
Nghiệp hiện tại là gì? A Nam, người thanh tịnh giữ giới như vậy không có tham lam hay dục vọng trong tâm, và không chảy ra sáu trần bên ngoài. Vì không chảy ra, nên quay ngược về nguồn. Vì trần không bám vào các giác quan, nên các giác quan không có gì để đối chiếu. Dòng chảy ngược trở nên toàn vẹn và sáu chức năng không hoạt động. Các cõi nước trong mười phương sáng sủa và thanh tịnh. Nó giống như mặt trăng treo trong pha lê trong suốt. Thân và tâm vui vẻ, diệu kỳ, viên mãn và bình đẳng, đạt được sự an ổn lớn lao. Tất cả các khía cạnh bí mật, viên mãn, thanh tịnh và diệu kỳ của Như Lai đều hiện ra trong đó. Người này sau đó đạt được Vô Sinh Pháp Nhẫn. Từ đó trở đi, người ấy dần dần tu tập và thiết lập các địa vị thánh hiền theo sự thực hành của mình. Đây gọi là giai đoạn thứ ba của tiệm thứ tu tiến.
A Nam, dục vọng và ái tình của thiện nam tử này đã khô héo, và các giác quan của người ấy không đối chiếu với các đối tượng giác quan. Thân xác còn lại hiện tại của người ấy sẽ không tiếp tục tái sinh. Tâm người ấy trống rỗng và sáng sủa, thuần túy là trí tuệ. Tánh trí tuệ của người ấy sáng sủa và viên mãn, chiếu soi các thế giới mười phương. Vì người ấy có trí tuệ khô, nên gọi là Càn Tuệ Địa. Tập khí dục vọng của người ấy ban đầu khô, nhưng chưa kết nối với dòng nước pháp của Như Lai. Với tâm này, người ấy chảy vào trung tâm. Sự viên mãn diệu kỳ mở ra. Từ sự viên mãn diệu kỳ chân thật, cái diệu kỳ chân thật lại xuất hiện, và niềm tin diệu kỳ luôn an trụ. Mọi vọng tưởng đều bị dập tắt hoàn toàn không còn dư sót. Trung đạo thuần túy chân thật. Đây gọi là Tín Tâm Trụ. Niềm tin chân thật hiểu rõ ràng mọi sự thấu suốt viên mãn. Ba khía cạnh của ngũ uẩn, mười hai xứ và mười tám giới không thể cản trở người ấy. Do đó, ngay cả trong quá khứ và tương lai, trải qua vô số kiếp bỏ thân và nhận thân, mọi tập khí đều hiện ra trước mặt người ấy. Thiện nam tử này có thể nhớ lại tất cả mà không quên. Đây gọi là Niệm Tâm Trụ. Sự viên mãn diệu kỳ và chân lý thanh tịnh khởi sinh và biến hóa. Các tập khí vô thỉ hòa nhập vào một sự sáng sủa bản chất. Chỉ dùng sự sáng sủa bản chất để tiến tới sự thanh tịnh chân thật gọi là Tinh Tấn Tâm Trụ. Bản chất của tâm hiển lộ, thuần túy là trí tuệ. Đây gọi là Tuệ Tâm Trụ. Giữ gìn trí tuệ và sự sáng sủa, người ấy bao trùm sự tĩnh lặng và rõ ràng. Sự tĩnh lặng diệu kỳ luôn cô đọng. Đây gọi là Định Tâm Trụ. Ánh sáng của Tam muội phát ra sự sáng sủa, và tánh sáng thâm nhập sâu. Chỉ tiến tới và không bao giờ lùi bước gọi là Bất Thoái Tâm Trụ. Tâm tiến tới một cách an lạc và duy trì nó không mất mát. Năng lượng của chư Như Lai mười phương giao thoa với người ấy. Đây gọi là Hộ Pháp Tâm Trụ. Nhận thức và sự sáng sủa duy trì lẫn nhau. Dùng sức mạnh diệu kỳ, người ấy quay ánh sáng từ bi của Phật để an trụ trong Phật. Nó giống như hai tấm gương với ánh sáng đối diện nhau, nơi những hình ảnh diệu kỳ thâm nhập lẫn nhau tầng tầng lớp lớp. Đây gọi là Hồi Hướng Tâm Trụ. Ánh sáng của tâm bí mật quay trở lại và đạt được sự cô đọng thường hằng của Phật. Sự thanh tịnh diệu kỳ tối thượng an trụ trong vô vi và không bị mất. Đây gọi là Giới Tâm Trụ. An trụ trong giới một cách dễ dàng, người ấy có thể dạo chơi mười phương, đi bất cứ nơi đâu mình muốn. Đây gọi là Nguyện Tâm Trụ.
A Nam, thiện nam tử này dùng phương tiện chân thật để khởi sinh mười tâm này. Bản chất của tâm hiển thị chức năng, và mười chức năng giao thoa. Thành tựu viên mãn một tâm gọi là Phát Tâm Trụ. Tâm phát ra ánh sáng như pha lê tinh khiết, hiển lộ vàng ròng bên trong. Dùng tâm diệu kỳ trước đó làm đất để bước lên gọi là Trị Địa Trụ. Tâm địa bao gồm tri thức, và tất cả đều được hiểu rõ ràng. Dạo chơi khắp mười phương không chướng ngại gọi là Tu Hành Trụ. Hạnh kiểm của người ấy giống như Phật, và người ấy nhận năng lượng của Phật. Nó giống như thân trung ấm tìm cha mẹ. Âm tín bí mật thâm nhập và đi vào dòng giống Như Lai. Đây gọi là Sinh Quý Trụ. Một khi đã dạo chơi trong thai tạng của Đạo và đích thân nhận dòng giống giác ngộ, giống như thai nhi đã hình thành với đầy đủ đặc điểm con người, thì gọi là Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Tướng mạo của người ấy giống như Phật, và tâm cũng giống như vậy. Đây gọi là Chính Tâm Trụ. Thân và tâm hợp nhất và lớn lên mỗi ngày. Đây gọi là Bất Thoái Trụ. Mười đặc điểm tâm linh của thân thể được hoàn thiện cùng một lúc. Đây gọi là Đồng Chân Trụ. Hình thành và sinh ra từ thai tạng, người ấy đích thân là con Phật. Đây gọi là Pháp Vương Tử Trụ. Cư xử như một người trưởng thành, giống như đại vương của một nước giao việc nước cho thái tử. Khi con của vua Sát Để Lợi lớn lên, người ấy trải qua lễ quán đảnh. Đây gọi là Quán Đảnh Trụ.
A Nam, sau khi thiện nam tử này đã trở thành con Phật, người ấy hoàn thiện vô lượng công đức diệu kỳ của Như Lai. Tùy thuận mười phương gọi là Hoan Hỷ Hạnh. Giỏi làm lợi ích cho tất cả chúng sinh gọi là Nhiêu Ích Hạnh. Tự giác ngộ và giác ngộ người khác không chống đối gọi là Vô Sân Hận Hạnh. Sự sinh ra của các loại đều tận cùng đến giới hạn tương lai; ba thời bình đẳng và mười phương thông suốt. Đây gọi là Vô Tận Hạnh. Hài hòa tất cả các pháp môn khác nhau không sai lầm gọi là Ly Si Loạn Hạnh. Sau đó, trong cái giống nhau, người ấy hiển lộ nhiều sự khác biệt; trong mỗi sự khác biệt, người ấy thấy cái giống nhau. Đây gọi là Thiện Hiện Hạnh. Như vậy, cho đến khi hư không mười phương đầy ắp vi trần, và trong mỗi vi trần hiện ra các thế giới mười phương, hiện ra trần và hiện ra thế giới mà không chướng ngại lẫn nhau, đây gọi là Vô Trước Hạnh. Các hiện tướng khác nhau xuất hiện trước mặt người ấy đều là Ba La Mật tối thượng. Đây gọi là Tôn Trọng Hạnh. Sự dung thông viên mãn như vậy có thể thành tựu quy tắc của chư Phật mười phương. Đây gọi là Thiện Pháp Hạnh. Mỗi một hạnh đều thanh tịnh và vô vi, nương vào một tánh vô vi chân thật. Đây gọi là Chân Thực Hạnh.
A Nam, khi thiện nam tử này đã thỏa mãn các thần thông và hoàn thành Phật sự, ông ấy thanh tịnh, tinh yếu, và chân thật, xa rời mọi phiền não còn sót lại. Khi cứu độ chúng sinh, ông tiêu diệt ý niệm về sự cứu độ. Ông đưa tâm vô vi trở về con đường Niết bàn. Đây gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sinh Ly Chúng Sinh Tướng Hồi Hướng. Phá hủy những gì có thể phá hủy và tránh xa mọi sự chia cách gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Căn bản giác ngộ thì trong sáng và tĩnh lặng, và giác ngộ của ông bằng với giác ngộ của Phật. Đây gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng. Chân lý tinh yếu phát ra ánh sáng, và địa của ông giống như địa của Phật. Đây gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng. Thế giới và Như Lai thâm nhập lẫn nhau không chướng ngại. Đây gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng. Trong cùng một Phật địa, các nhân thanh tịnh khác nhau sinh khởi. Dựa vào các nhân, ông nỗ lực để đi theo con đường Niết bàn. Đây gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng. Vì chân căn đã thành tựu, tất cả chúng sinh mười phương là bản tánh của chính ta. Bản tánh hoàn toàn thành tựu mà không mất chúng sinh. Đây gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sinh Hồi Hướng. Tức thì là tất cả các pháp trong khi rời bỏ tất cả các tướng, không dính mắc vào sự hiện diện tức thì hay sự chia cách, gọi là Chân Như Tướng Hồi Hướng. Thật sự đạt được những gì là chân thật, mười phương không bị chướng ngại. Đây gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng. Đức hạnh của bản tánh hoàn toàn thành tựu, và ranh giới của Pháp giới bị dập tắt. Đây gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng.
A Nam, khi thiện nam tử này đã thanh tịnh hoàn toàn bốn mươi mốt tâm này, tiếp theo người ấy thành tựu bốn loại phương tiện gia hạnh diệu kỳ và viên mãn. Dùng sự giác ngộ của Phật làm tâm mình, giống như dùi gỗ lấy lửa: trước khi lửa ra, gỗ đã ấm. Đây gọi là Noãn Địa. Dùng tâm mình để bước lên nơi Phật đã bước, giống như nương tựa vào cái gì đó nhưng không hoàn toàn nương tựa, giống như leo núi cao: thân thể vào hư không, nhưng bên dưới vẫn còn chút chướng ngại. Đây gọi là Đảnh Địa. Tâm và Phật giống nhau, và người ấy đạt được trung đạo một cách tốt đẹp. Giống như một người nhẫn nhịn điều gì đó: người ấy không giữ nó bên trong cũng không để nó lộ ra ngoài. Đây gọi là Nhẫn Địa. Các con số bị phá hủy, và người ấy ở giữa mê và ngộ; không thể gọi tên là gì. Đây gọi là Thế Đệ Nhất Địa.
A Nam, thiện nam tử này thấu suốt Đại Bồ Đề thành công. Sự giác ngộ của người ấy kết nối với Như Lai, tận cùng cõi Phật. Đây gọi là Hoan Hỷ Địa. Sự khác biệt đi vào sự giống nhau, và sự giống nhau cũng bị dập tắt. Đây gọi là Ly Cấu Địa. Sự thanh tịnh tột cùng sinh ra ánh sáng. Đây gọi là Phát Quang Địa. Ánh sáng tột cùng và giác ngộ trọn vẹn. Đây gọi là Diễm Tuệ Địa. Tất cả sự giống nhau và khác biệt không thể chạm tới nó. Đây gọi là Nan Thắng Địa. Chân Như vô vi, bản tánh thanh tịnh và sáng sủa, được hiển lộ. Đây gọi là Hiện Tiền Địa. Tận cùng các ranh giới của Chân Như. Đây gọi là Viễn Hành Địa. Một tâm Chân Như. Đây gọi là Bất Động Địa. Khởi sinh chức năng của Chân Như. Đây gọi là Thiện Tuệ Địa.
“A Nam, từ đây trở đi, các vị Bồ tát này đã hoàn tất việc tu tập và công đức viên mãn. Vị trí này cũng gọi là Tu Tập Vị. Mây diệu kỳ của bóng mát từ bi che phủ biển Niết Bàn; đây gọi là Pháp Vân Địa. Như Lai đi ngược dòng, và các Bồ tát như vậy thuận dòng để đến ranh giới của giác ngộ và đi vào giao điểm; đây gọi là Đẳng Giác. A Nam, từ tâm Càn Tuệ đến Đẳng Giác, đây là sự khởi đầu của giác ngộ thức tỉnh đối với Càn Tuệ Địa ban đầu bên trong Kim Cang Tam Muội. Như vậy, có mười hai cấp độ chồng chéo đơn và kép, trước khi một người tận cùng Diệu Giác và viên mãn Vô Thượng Đạo. Tất cả các địa khác nhau này đều dùng Kim Cang để quán sát mười loại ví dụ sâu sắc như huyễn. Trong Xa Ma Tha, họ dùng Tỳ Bà Xá Na của chư Như Lai. Họ tu tập và chứng ngộ rõ ràng và thanh tịnh, dần dần đi vào sâu. A Nam, vì tất cả những vị này đều dùng ba sự tiệm tiến, nên họ có thể khéo thành tựu năm mươi lăm địa vị của con đường Bồ Đề chân thật. Người quán sát như vậy gọi là Chánh Quán. Nếu quán sát khác đi, gọi là Tà Quán.”
Lúc bấy giờ, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi từ chỗ ngồi đứng dậy giữa đại chúng, đảnh lễ chân Phật và bạch Phật rằng: “Kinh này nên đặt tên là gì? Con và tất cả chúng sinh nên phụng trì như thế nào?” Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: “Kinh này tên là ‘Đại Phật Đảnh Tất Đạt Đa, Vô Thượng Bảo Ấn, Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn’. Cũng tên là ‘Cứu Hộ Thân Nhân Độ Thoát A Nam Cập Thử Hội Trung Tỳ Kheo Ni Tánh, Đắc Bồ Đề Tâm Nhập Biến Tri Hải’. Cũng tên là ‘Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa’. Cũng tên là ‘Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú’. Cũng tên là ‘Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm’. Các ông nên phụng trì.”
Sau khi nghe điều này, A Nam và đại chúng liền lãnh thọ lời dạy của Như Lai về ý nghĩa của mật ấn và Tất Đạt Đa. Cũng đã nghe ý nghĩa trọn vẹn và tên của Kinh này, họ bỗng nhiên ngộ Thiền và tiến lên các thánh vị. Chân lý sâu xa tăng trưởng, và tâm họ trở nên trống rỗng và cô đọng, cắt đứt sáu loại phiền não vi tế của tâm trong ba cõi. A Nam đứng dậy từ chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính và bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn Đại Uy Đức, âm thanh từ bi của ngài không chướng ngại, khéo mở ra sự mê lầm vi tế của chúng sinh. Ngài đã làm cho thân tâm con hôm nay vui vẻ, đạt được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, nếu diệu tâm sáng sủa, chân thật và thanh tịnh này vốn cùng khắp và viên mãn, và do đó ngay cả đại địa, cỏ cây, và các loài nhúc nhích đều vốn là Chân Như và cấu thành chân thân Phật của Như Lai. Nếu thân Phật là chân thật, tại sao có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a tu la, người, trời, và các đường khác? Bạch Thế Tôn, những đường này vốn có sẵn, hay chúng sinh ra từ tập khí hư vọng của chúng sinh? Bạch Thế Tôn, ví dụ như Tỳ kheo ni Bảo Liên Hương giữ giới Bồ tát nhưng lén lút dâm dục. Bà ấy nói dối rằng hành dâm không phải là sát sinh hay trộm cắp và không có nghiệp báo. Sau khi bà ấy nói điều này, một ngọn lửa dữ dội lớn trước tiên bốc lên từ nữ căn của bà, và sau đó các khớp xương của bà bị lửa dữ thiêu đốt, và bà rơi vào Địa Ngục Vô Gián. Vua Lưu Ly và Tỳ kheo Thiện Tinh: Lưu Ly giết dòng họ Cồ Đàm, và Thiện Tinh nói dối rằng tất cả các pháp đều không. Họ bị chìm sống vào Địa Ngục A Tỳ. Những địa ngục này là nơi chốn cố định, hay chúng là kết quả tự nhiên? Có phải mỗi người tạo nghiệp và nhận lãnh riêng tư? Con chỉ mong ngài ban đại từ bi để khai sáng cho những kẻ ấu trĩ và ngu muội, khiến tất cả chúng sinh giữ giới nghe được nghĩa quyết định, vui vẻ kính thọ, và được trong sạch không vi phạm.”
Phật bảo A Nam: “Hay thay câu hỏi này! Nó ngăn ngừa tất cả chúng sinh đi vào tà kiến. Hãy lắng nghe kỹ, và ta sẽ giải thích cho ông. A Nam, tất cả chúng sinh vốn chân thật và thanh tịnh. Do vọng kiến của họ, vọng tập sinh khởi. Vì vậy, họ được chia thành nội phần và ngoại phần. A Nam, nội phần chỉ những gì bên trong chúng sinh. Do các loại ái và nhiễm, vọng tình sinh khởi. Khi những tình cảm này tích tụ không ngừng, chúng có thể sinh ra nước ái. Vì vậy, khi chúng sinh nghĩ đến thức ăn ngon, miệng họ chảy nước miếng. Khi họ nghĩ đến người xưa, hoặc thương xót hoặc căm ghét, mắt họ đẫm lệ. Khi họ tham lam tìm cầu của cải và châu báu, tâm họ sinh ra nước bọt của ái, và toàn thân họ trở nên bóng loáng. Khi tâm họ hướng về hành vi tình dục, các cơ quan nam và nữ tự nhiên tiết ra chất lỏng. A Nam, mặc dù các loại ái khác nhau, dòng chảy và sự trói buộc của chúng là giống nhau. Sự ẩm ướt không bốc lên; nó tự nhiên rơi xuống. Đây gọi là nội phần.
A Nam, ngoại phần chỉ những gì bên ngoài chúng sinh. Do các loại khát khao và mong cầu, vọng tưởng sinh khởi. Khi những ý tưởng này tích tụ không ngừng, chúng có thể sinh ra khí thăng lên. Vì vậy, khi chúng sinh giữ giới trong tâm, thân họ cảm thấy nhẹ nhàng và trong sáng. Khi họ giữ thần chú và ấn trong tâm, họ trông hùng dũng và kiên quyết. Khi họ muốn sinh lên trời, họ mơ thấy bay cao. Khi họ trân trọng các cõi Phật trong tâm, các cảnh giới thánh thiện bí mật hiện ra. Khi họ phụng sự một thiện tri thức, họ không tiếc thân mình. A Nam, mặc dù các ý tưởng khác nhau, sự nhẹ nhàng và bay bổng của chúng là giống nhau. Bay và di chuyển không chìm xuống; chúng tự nhiên vượt lên. Đây gọi là ngoại phần.
A Nam, trong tất cả các thế giới, sinh và tử tiếp tục nối tiếp nhau. Sinh đến từ thói quen thuận theo, và tử đến từ dòng chảy thay đổi. Khi mạng sống sắp kết thúc và hơi ấm chưa rời đi, tất cả các hành vi thiện và ác của một đời hiện ra cùng một lúc. Dòng chảy ngược của cái chết và dòng chảy thuận của sự sống giao nhau. Nếu ý tưởng thanh tịnh, người ta bay lên và chắc chắn sẽ sinh lên trời. Nếu có phước đức, trí tuệ và nguyện thanh tịnh trong tâm bay bổng, tâm sẽ tự nhiên mở ra và thấy chư Phật mười phương, và người ta có thể sinh vào bất kỳ tịnh độ nào tùy theo nguyện của mình. Nếu tình ít tưởng nhiều, người ta sẽ bay lên nhưng không xa, trở thành phi tiên, quỷ vương đầy quyền lực, dạ xoa du hành trong không gian, hoặc la sát du hành trên mặt đất, dạo chơi bốn cõi trời không chướng ngại. Trong số đó, nếu có những người có nguyện lành và tâm lành bảo vệ pháp của ta, hoặc bảo vệ giới luật và tuân theo những người giữ giới, hoặc bảo vệ thần chú và tuân theo những người trì chú, hoặc bảo vệ Thiền định và gìn giữ pháp nhẫn, họ sẽ đích thân an trụ dưới tòa của Như Lai. Nếu tình và tưởng bằng nhau, người ta không bay cũng không rơi mà sinh vào cõi người. Nếu tưởng sáng, người ta thông minh; nếu tình tối, người ta đần độn. Nếu tình nhiều tưởng ít, người ta chảy vào cõi súc sinh, trở thành loài có lông mao nếu nặng, hoặc loài có lông vũ nếu nhẹ. Nếu có bảy phần tình và ba phần tưởng, người ta chìm xuống dưới thủy luân và sinh tại rìa của lửa, chịu thân ngạ quỷ từ khí lửa dữ. Thường xuyên bị thiêu đốt, nước làm hại mình, và không có thức ăn hay đồ uống trong trăm ngàn kiếp. Nếu có chín phần tình và một phần tưởng, người ta đi xuống qua hỏa luân, và thân thể vào nơi gió và lửa giao nhau, sinh vào Địa Ngục Hữu Gián nếu nhẹ, hoặc Địa Ngục Vô Gián nếu nặng. Nếu thuần túy là tình, người ta chìm vào Địa Ngục A Tỳ. Nếu trong tâm chìm xuống có sự phỉ báng Đại Thừa, phá hoại giới luật của Phật, nói pháp sai lầm, tham lam giả dối sự bố thí của tín đồ, lạm dụng sự cúng dường cung kính, hoặc ngũ nghịch và thập trọng tội, người ta sẽ sinh vào Địa Ngục A Tỳ của mười phương. Mặc dù người ta tự tạo ác nghiệp, nhưng trong phần cộng nghiệp, cũng có nơi chốn cố định.
A Nam, tất cả những điều này đều do nghiệp của chính những chúng sinh đó gây ra. Tạo mười nhân tập khí, họ chịu sáu quả báo giao thoa. Mười nhân là gì? A Nam.
Thứ nhất là tập khí dâm dục và giao hợp, phát sinh từ sự cọ xát và mài giũa lẫn nhau không ngừng. Vì vậy, ánh sáng lửa dữ dội lớn được sinh ra từ bên trong, giống như khi người ta cọ xát hai tay vào nhau, vẻ ấm áp hiện ra. Vì hai tập khí kích thích lẫn nhau, nên có những thứ như giường sắt và cột đồng. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn hành vi dâm dục và gọi nó là lửa dục. Các vị Bồ tát xem dục vọng như tránh hầm lửa.
Thứ hai là tập khí tham lam và toan tính, phát sinh từ sự hút và nắm lẫn nhau không dừng. Vì vậy, băng lạnh tích tụ và rắn chắc hình thành bên trong, đóng băng và cắn, giống như khi người ta hút gió bằng miệng, cảm giác lạnh được tạo ra. Vì hai tập khí áp bức lẫn nhau, nên có những thứ như tiếng lập cập, lách cách, hoa sen xanh, đỏ, và trắng, và băng lạnh. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự tìm cầu quá mức và gọi nó là nước tham. Các vị Bồ tát xem tham lam như tránh biển độc.
Thứ ba là tập khí ngạo mạn và lăng nhục, phát sinh từ sự ỷ lại và hối hả lẫn nhau không nghỉ. Vì vậy, sóng trào tích tụ thành nước, giống như khi lưỡi người ta liếm môi, nước được tạo ra. Vì hai tập khí kìm hãm lẫn nhau, nên có những thứ như sông máu, sông tro, cát nóng, biển độc, và đồng nung chảy bị đổ và nuốt. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự ngạo mạn và gọi nó là uống nước ngu si. Các vị Bồ tát xem sự ngạo mạn như tránh bị chết đuối trong trận lụt lớn.
Thứ tư là tập khí giận dữ và xung đột, phát sinh từ sự chống đối và thắt nút lẫn nhau không dứt. Tâm trở nên nóng và phát ra lửa, đúc kim loại từ khí này. Vì vậy, có núi dao, cọc sắt, cây kiếm, bánh xe kiếm, rìu, việt, thương, và cưa. Giống như khi một người ôm hận, sát khí bay và di chuyển. Vì hai tập khí đánh nhau, nên có những thứ như cung hình, chặt, chém, dũa, đâm, và đóng đinh. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự giận dữ và gọi nó là dao và kiếm sắc bén. Các vị Bồ tát xem giận dữ như tránh bị chém đầu.
Thứ năm là tập khí gian trá và lừa gạt, phát sinh từ sự thao túng và chần chừ lẫn nhau không dừng. Vì vậy, có dây thừng, gỗ, siết cổ, và gông cùm, giống như cỏ và cây mọc lên khi nước thấm vào ruộng. Vì hai tập khí mở rộng lẫn nhau, nên có những thứ như còng tay, xiềng xích, roi, gậy, đánh đập, và dùi cui. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự phản bội và gian lận và gọi nó là kẻ trộm vu khống. Các vị Bồ tát xem gian trá như sợ chó sói.
Thứ sáu là tập khí nói dối và lừa đảo, phát sinh từ sự lừa dối và vu mạng (cáo buộc sai) lẫn nhau không dứt. Tâm bay nhảy tạo ra sự phản bội. Vì vậy, có bụi, đất, phân, nước tiểu, rác rưởi, và bất tịnh. Giống như bụi bay theo gió và không gì có thể nhìn thấy, vì hai tập khí thêm vào nhau, nên có những thứ như chìm, đuối, tung, ném, bay, rơi, và trôi dạt. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự nói dối và gọi nó là cướp bóc và giết chóc. Các vị Bồ tát xem nói dối như dẫm phải rắn độc.
Thứ bảy là tập khí oán hận và nghi ngờ, phát sinh từ việc nuôi dưỡng hận thù. Vì vậy, có đá bay, ném sỏi, chứa trong hộp và xe, và đựng trong hũ và túi. Giống như một người hoàn toàn ác độc nuôi dưỡng điều ác, vì hai tập khí nuốt lẫn nhau, nên có những thứ như ném, bắt, bắn, và chiếm đoạt. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự oán hận và gọi nó là quỷ dữ. Các vị Bồ tát xem oán hận như uống rượu độc.
Thứ tám là tập khí kiến chấp và sự sáng tỏ, như thân kiến (quan điểm về cái tôi), giới cấm thủ kiến, và tà ngộ nghiệp. Nó phát sinh từ sự chống đối và phủ nhận, tạo ra mâu thuẫn lẫn nhau. Vì vậy, có sứ giả của vua, quan lại chính, và kiểm tra văn bản. Giống như lữ khách gặp nhau qua lại trên đường, vì hai tập khí giao nhau, nên có những thứ như thẩm vấn, lừa gạt, tra tấn, điều tra, truy hỏi, phơi bày, chiếu sáng, và các đồng tử thiện và ác cầm sổ sách và tranh luận. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn ác kiến và gọi nó là hầm kiến chấp. Các vị Bồ tát xem tất cả các chấp trước hư vọng và lan tràn như đi vào thung lũng độc.
Thứ chín là tập khí bất công và áp đặt, phát sinh từ sự vu cáo sai lầm. Vì vậy, có hợp núi, hợp đá, nghiền, xay, cày, và đánh bóng. Giống như kẻ trộm vu khống ép buộc sự bất công lên người tốt, vì hai tập khí đẩy lẫn nhau, nên có những thứ như ép, giã, vắt, lọc, và nghiền. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự oán hận và vu khống và gọi nó là hổ vu khống. Các vị Bồ tát xem sự bất công như bị sét đánh.
Thứ mười là tập khí kiện tụng và tranh chấp, phát sinh từ sự che giấu và bao che. Vì vậy, có gương, sự nhìn thấy, chiếu sáng, và ánh nến, giống như người ta không thể giấu cái bóng của mình dưới ánh mặt trời. Vì vậy, có bạn ác, gương nghiệp, và hạt châu lửa phơi bày nghiệp quá khứ để xác minh. Vì vậy, tất cả chư Như Lai mười phương nhìn sự bao che và che giấu và gọi nó là kẻ trộm ẩn nấp. Các vị Bồ tát xem sự bao che như mang núi cao để lấp biển lớn.
Sáu quả báo là gì? A Nam, tất cả chúng sinh tạo nghiệp bằng sáu thức của họ, và các quả báo ác mà họ gánh chịu đến từ sáu giác quan. Làm thế nào các quả báo ác đến từ sáu giác quan?
Thứ nhất là quả báo của cái thấy, thu hút kết quả ác. Khi nghiệp mắt này giao nhau, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy lửa dữ dội lấp đầy các thế giới mười phương. Thần thức người chết bay và rơi, cưỡi trên khói, và vào Địa Ngục Vô Gián, nơi hai hình tướng được tạo ra. Thứ nhất là cái thấy sáng, nơi người ta có thể thấy tất cả các loại ác khắp nơi, sinh ra nỗi sợ hãi vô biên. Thứ hai là cái thấy tối, nơi người ta không thấy gì trong sự im lặng, sinh ra nỗi kinh hoàng vô biên. Cái thấy lửa như vậy đốt cháy cái nghe thành vạc nước sôi và đồng nung chảy; đốt hơi thở thành khói đen và lửa tím; đốt vị giác thành viên thuốc cháy và cháo sắt; đốt xúc giác thành tro nóng và than lò; và đốt tâm thức thành tia lửa phun và quạt vào hư không.
Thứ hai là quả báo của cái nghe, thu hút kết quả ác. Khi nghiệp tai này giao nhau, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy sóng nhấn chìm trời đất. Thần thức người chết đi xuống và cưỡi dòng chảy, vào Địa Ngục Vô Gián, nơi hai hình tướng được tạo ra. Thứ nhất là cái nghe mở, nơi người ta nghe tất cả các loại tiếng ồn và thần thức trở nên bối rối và hỗn loạn. Thứ hai là cái nghe đóng, nơi người ta không nghe gì trong sự im lặng và linh hồn chìm xuống. Cái nghe sóng như vậy, khi tiêm vào cái nghe, có thể trở thành mắng mỏ và thẩm vấn; khi tiêm vào cái thấy, có thể trở thành sấm sét, gầm rú, và khí độc ác; khi tiêm vào hơi thở, có thể trở thành mưa và sương mù, phun côn trùng độc khắp toàn thân; khi tiêm vào vị giác, có thể trở thành mủ, máu, và các loại rác rưởi; khi tiêm vào xúc giác, có thể trở thành thú vật, ma quỷ, phân, và nước tiểu; khi tiêm vào tâm thức, có thể trở thành sét và mưa đá, làm tan nát tim và linh hồn.
Thứ ba là quả báo của cái ngửi, thu hút kết quả ác. Khi nghiệp mũi này giao nhau, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy khí độc lấp đầy khoảng cách. Thần thức người chết phun ra từ mặt đất và vào Địa Ngục Vô Gián, nơi hai hình tướng được tạo ra. Thứ nhất là ngửi khắp, nơi người ta bị hun bởi tất cả các khí ác và tâm trí cực kỳ xáo trộn. Thứ hai là ngửi bị chặn, nơi hơi thở bị che phủ và chặn lại, và người ta ngất xỉu trên mặt đất. Cái ngửi khí như vậy, khi nó xông vào hơi thở, có thể trở thành chất liệu và giày dép; khi nó xông vào cái thấy, có thể trở thành lửa và đuốc; khi nó xông vào cái nghe, có thể trở thành chìm, đuối, đại dương, và sôi sục; khi nó xông vào vị giác, có thể trở thành thức ăn hôi thối và mục nát; khi nó xông vào xúc giác, có thể trở thành xé rách, thối rữa, và núi thịt lớn với hàng trăm ngàn con mắt và vô số miệng cắn xé và ăn; khi nó xông vào tư tưởng, có thể trở thành tro và chướng khí, hoặc cát bay và sỏi đá đánh và làm vỡ thân thể.
Thứ tư là quả báo của vị giác, thu hút kết quả ác. Khi nghiệp lưỡi này giao nhau, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy một lưới sắt với ngọn lửa dữ dội bao phủ thế giới. Thần thức người chết đi xuống qua lưới treo, treo ngược, và vào Địa Ngục Vô Gián, nơi hai hình tướng được tạo ra. Thứ nhất là hút khí, làm đông cứng thành băng rắn, nứt nẻ thân thể và thịt. Thứ hai là phun khí, bay vào lửa dữ, làm cháy sém và thối rữa xương tủy. Cái nếm hương vị như vậy, khi nó đi qua nếm, có thể trở thành chịu đựng và nhẫn nại; khi nó đi qua cái thấy, có thể trở thành kim loại và đá cháy; khi nó đi qua cái nghe, có thể trở thành vũ khí sắc bén; khi nó đi qua hơi thở, có thể trở thành lồng sắt lớn bao phủ đất đai; khi nó đi qua xúc giác, có thể trở thành cung, tên, nỏ, và bắn; khi nó đi qua tư tưởng, có thể trở thành sắt nóng bay mưa xuống từ bầu trời.
Thứ năm là quả báo của xúc giác, thu hút kết quả ác. Khi nghiệp xúc này giao nhau, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy những ngọn núi lớn hợp lại từ bốn phía không có lối thoát. Thần thức người chết thấy một thành sắt lớn, với rắn lửa, chó lửa, hổ, sói, sư tử, ngục tốt đầu trâu, và la sát đầu ngựa, cầm thương và giáo, lùa ông vào cổng thành. Vào Địa Ngục Vô Gián, hai hình tướng được tạo ra. Thứ nhất là xúc chạm hợp lại, nơi các ngọn núi khép lại ép thân thể, nghiền nát xương thịt thành máu. Thứ hai là xúc chạm tách ra, nơi kiếm và dao chạm vào thân thể, cắt lát tim và gan. Xúc chạm hợp lại như vậy, khi nó đi qua xúc giác, có thể trở thành đường đi, quán tưởng, sảnh đường, và vụ án; khi nó đi qua cái thấy, có thể trở thành thiêu đốt và cháy sém; khi nó đi qua cái nghe, có thể trở thành va chạm, đánh đập, đâm, và bắn; khi nó đi qua hơi thở, có thể trở thành đóng bao, bao tải, đánh đập, và trói buộc; khi nó đi qua vị giác, có thể trở thành cày, kìm, chặt, và cắt; khi nó đi qua tư tưởng, có thể trở thành rơi, bay, chiên, và nướng.
Thứ sáu là quả báo của tư tưởng, thu hút kết quả ác. Khi nghiệp ý này giao nhau, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy gió độc thổi và phá hủy đất đai. Thần thức người chết bị thổi lên bầu trời, quay cuồng và rơi xuống cưỡi gió, và rơi vào Địa Ngục Vô Gián, nơi hai hình tướng được tạo ra. Thứ nhất là bối rối, nơi người ta cực kỳ lạc lối và chạy không ngừng. Thứ hai là không bối rối, nơi người ta tỉnh táo và chịu đựng sự thiêu đốt vô lượng và đau đớn sâu sắc khó chịu đựng. Tư tưởng ác như vậy, khi nó thắt nút tư tưởng, có thể trở thành nơi chốn và vị trí; khi nó thắt nút cái thấy, có thể trở thành gương và bằng chứng; khi nó thắt nút cái nghe, có thể trở thành đá lớn khép lại, băng, sương giá, đất, và sương mù; khi nó thắt nút hơi thở, có thể trở thành xe lửa lớn, thuyền lửa, và lồng lửa; khi nó thắt nút vị giác, có thể trở thành tiếng la hét lớn, hối tiếc, và khóc lóc; khi nó thắt nút xúc giác, có thể trở thành lớn hay nhỏ, chết mười ngàn lần và sinh mười ngàn lần trong một ngày, nằm sấp hoặc nằm ngửa.
A Nam, những điều này được gọi là mười nhân và sáu quả báo của địa ngục. Chúng đều được tạo ra bởi sự bối rối và mê lầm của chúng sinh. Nếu chúng sinh tạo ác nghiệp hoàn toàn, họ vào Địa Ngục A Tỳ và chịu đau khổ vô lượng trong vô lượng kiếp. Nếu sáu giác quan mỗi giác quan tạo nghiệp, và những gì họ làm liên quan đến cả đối tượng giác quan và giác quan, người này vào Tám Địa Ngục Vô Gián. Nếu ba nghiệp thân, miệng, và ý phạm sát, đạo, và dâm, người này vào Mười Tám Địa Ngục. Nếu ba nghiệp không kết hợp, hoặc có lẽ một phạm một sát và một phạm một đạo, người này vào Ba Mươi Sáu Địa Ngục. Nếu chỉ một giác quan tạo một nghiệp, người này vào Một Trăm Lẻ Tám Địa Ngục. Vì chúng sinh tạo nghiệp riêng biệt, họ vào những nơi tương ứng trên thế giới. Chúng sinh khởi từ vọng tưởng và vốn không tồn tại.
Hơn nữa, A Nam, nếu chúng sinh không phá vỡ các quy tắc nhưng vi phạm giới Bồ tát hoặc phá hủy Niết bàn của Phật, và tạo các ác nghiệp tạp nhạp khác, sau khi họ đã bị đốt cháy trong nhiều kiếp và trả giá cho tội lỗi của mình, họ tái sinh thành các loại quỷ khác nhau. Nếu nguyên nhân căn bản là tham lam vật chất, sau khi người đó đã trả giá cho tội lỗi của mình, họ gặp vật chất và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Hạn Hán (Bà). Nếu tham lam tình dục là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp gió và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Mê Hoặc (Mị). Nếu tham lam sự bối rối là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp động vật và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Cổ Độc. Nếu tham lam hận thù là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp sâu bọ và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Độc. Nếu tham lam ký ức là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp sự mục nát và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Dịch Bệnh. Nếu tham lam ngạo mạn là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp khí lực và lấy hình dạng, gọi là Ngạ Quỷ. Nếu tham lam bất công là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp bóng tối và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Ác Mộng (Yểm). Nếu tham lam ánh sáng là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp tinh chất và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Võng Lượng. Nếu tham lam thành công là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp ánh sáng và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Sai Sử. Nếu tham lam bè phái là tội lỗi, sau khi trả giá cho nó, họ gặp con người và lấy hình dạng, gọi là Quỷ Truyền Tống. A Nam, những người này đều rơi xuống do tình cảm thuần túy. Lửa nghiệp đốt họ khô, và họ thăng lên thành quỷ. Những thứ này đều bị thu hút bởi vọng tưởng và nghiệp của chính họ. Nếu họ nhận ra Bồ đề, thì sự sáng tỏ viên mãn diệu kỳ vốn không có gì cả.
Hơn nữa, A Nam, khi nghiệp quỷ đã hết, tình và tưởng đều trở nên trống rỗng. Sau đó trong thế gian, họ gặp những người mà họ vốn mắc nợ hoặc oán hận, và sinh làm động vật để trả nợ quá khứ. Quỷ vật chất (Bà), khi quả báo vật chất đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Cụ (Cú). Quỷ gió (Mị), khi quả báo gió đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Cữu Trưng (điềm xấu). Quỷ động vật (Cổ), khi quả báo động vật đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Cáo. Quỷ sâu bọ (Độc), khi quả báo sâu bọ đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Độc. Quỷ mục nát (Dịch Bệnh), khi quả báo mục nát đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Giun Sán. Quỷ khí lực (Ngạ), khi quả báo khí lực đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Ăn Được. Quỷ bóng tối (Ác Mộng), khi quả báo bóng tối đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Quần Áo (Tằm). Quỷ tinh chất (Võng Lượng), khi quả báo tinh chất đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Ứng Đáp. Quỷ ánh sáng (Sai Sử), khi quả báo ánh sáng đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Điềm Lành (Hưu Trưng). Quỷ con người (Truyền Tống), khi quả báo con người đã hết, sinh ra trong thế gian phần lớn là loài Gia Súc. A Nam, những điều này đều là vì lửa nghiệp đã đốt họ khô, và họ sinh làm động vật để trả nợ quá khứ. Những thứ này cũng bị thu hút bởi nghiệp giả dối của chính họ. Nếu họ nhận ra Bồ đề, điều kiện giả dối này vốn không có gì cả. Như ông đã đề cập, Bảo Liên Hương, Vua Lưu Ly, và Tỳ kheo Thiện Tinh, ác nghiệp như vậy vốn sinh ra từ chính mình. Nó không rơi từ trên trời, cũng không ra từ đất, cũng không được người khác ban cho. Nó bị thu hút bởi sự giả dối của chính mình và do chính mình nhận lấy. Trong tâm Bồ đề, chúng đều là sự ngưng tụ của những vọng tưởng trôi nổi.
Hơn nữa, A Nam, từ việc là động vật, họ trả nợ quá khứ. Nếu sự trả nợ vượt quá những gì đã nợ, những chúng sinh này trở lại làm người để đòi lại phần dư. Nếu họ có sức mạnh và phước đức, họ không mất thân người trong cõi người trong khi trả lại sức mạnh. Nếu họ không có phước đức, họ trở lại làm động vật để trả lại giá trị còn lại. A Nam, ông nên biết rằng nếu một người dùng tiền hoặc hàng hóa, hoặc dùng sức lao động để trả đủ, thì dừng lại ở đó. Nếu trong quá trình đó một bên giết thân thể của bên kia hoặc ăn thịt họ, thì ngay cả sau khi trải qua vi trần kiếp, họ sẽ ăn và giết lẫn nhau như một bánh xe quay. Lên và xuống lẫn nhau không nghỉ. Trừ khi họ gặp Xa ma tha hoặc một vị Phật xuất hiện trên đời, nó không thể dừng lại.
Ông nên biết bây giờ rằng khi loại Cụ (cú) đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại ngoan cố. Khi loại Cữu Trưng (điềm xấu) đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại ngu si. Khi loại Cáo đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại xảo quyệt. Khi loại Độc đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại tầm thường. Khi loại Giun Sán đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại thấp hèn. Khi loại Ăn Được đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại yếu đuối. Khi loại Quần Áo (tằm) đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại lao động. Khi loại Ứng Đáp đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại văn hay. Khi loại Điềm Lành đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại thông minh. Khi loại Gia Súc đã trả đủ và lấy lại hình dạng, nó sinh vào đạo người và gia nhập loại tinh tế. A Nam, những người này đều sinh vào đạo người sau khi trả nợ quá khứ. Họ đều là những tính toán nghiệp đảo ngược từ vô thủy, tạo tác và giết hại lẫn nhau. Không gặp Như Lai và không nghe Chánh Pháp, họ tự nhiên xoay vần trong bụi trần và lao nhọc. Những người này được gọi là những kẻ đáng thương.
“A Nam, cũng có những người không tu tập Tam muội theo Chính Giác. Họ tu tập những vọng tưởng riêng biệt và củng cố hình tướng của họ, lang thang trong núi rừng. Như những nơi con người không đến, có mười loại tiên. A Nam, những chúng sinh này kiên quyết ăn những mồi đặc biệt không nghỉ ngơi, và khi đạo ăn uống được hoàn thiện, họ được gọi là địa hành tiên. Họ kiên quyết ăn cỏ và cây không nghỉ ngơi, và khi đạo thuốc được hoàn thiện, họ được gọi là phi hành tiên. Họ kiên quyết ăn kim loại và đá không nghỉ ngơi, và khi đạo biến hóa được hoàn thiện, họ được gọi là du hành tiên. Họ kiên quyết luyện tập động và tĩnh không nghỉ ngơi, và khi đạo khí và tinh được hoàn thiện, họ được gọi là không hành tiên. Họ kiên quyết luyện tập với dòng chảy và nước bọt không nghỉ ngơi, và khi đức hạnh của sự ẩm ướt được hoàn thiện, họ được gọi là thiên hành tiên. Họ kiên quyết hấp thụ màu sắc tinh khiết không nghỉ ngơi, và khi đạo hấp thụ được hoàn thiện, họ được gọi là thông tiên. Họ kiên quyết luyện tập thần chú và cấm giới không nghỉ ngơi, và khi đạo phép thuật được hoàn thiện, họ được gọi là đạo hành tiên. Họ kiên quyết luyện tập tư tưởng và chánh niệm không nghỉ ngơi, và khi đạo tư tưởng được hoàn thiện, họ được gọi là chiếu hành tiên. Họ kiên quyết luyện tập giao hợp không nghỉ ngơi, và khi đạo phản ứng được hoàn thiện, họ được gọi là tinh hành tiên. Họ kiên quyết luyện tập biến hóa không nghỉ ngơi, và khi đạo thức tỉnh được hoàn thiện, họ được gọi là tuyệt hành tiên. A Nam, tất cả những người này tinh luyện tâm trí của họ trong cõi người nhưng không theo Chính Giác. Họ đạt được một tuổi thọ sinh lý riêng biệt hàng ngàn hoặc hàng vạn năm, nghỉ ngơi trong núi sâu hoặc trên các đảo lớn ngoài biển, cắt đứt khỏi nơi ở của con người. Đây cũng là vọng tưởng trôi chảy và xoay chuyển trong luân hồi; họ không tu tập Tam muội. Khi quả báo của họ kết thúc, họ trở lại bị phân tán trong các cõi khác nhau.”
“A Nam, người đời không cầu sự thường trụ. Nhưng họ không thể từ bỏ tình yêu đối với vợ và thê thiếp của mình. Tuy nhiên, tâm trí họ không buông thả trong tà dâm và trở nên trong sáng. Sau khi chết, họ là láng giềng của mặt trời và mặt trăng. Loại này gọi là Tứ Thiên Vương. Đối với những người mà tình dục đối với vợ mình là nhẹ, và những người không hoàn toàn hưởng thụ hương vị khi sống trong sự thanh tịnh, sau khi chết họ vượt qua ánh sáng của mặt trời và mặt trăng và cư ngụ tại đỉnh của cõi người. Loại này gọi là Cõi Trời Đao Lợi. Đối với những người tạm thời tham gia khi gặp ham muốn nhưng không có ký ức về nó sau đó, và những người di chuyển ít và yên tĩnh nhiều trong thế giới loài người, sau khi chết họ sống an lạc trong hư không nơi ánh sáng của mặt trời và mặt trăng không chiếu tới. Những người này có ánh sáng riêng của họ. Loại này gọi là Cõi Trời Tu Dạ Ma. Đối với những người yên tĩnh mọi lúc, nhưng không thể cưỡng lại khi có sự tiếp xúc, sau khi chết họ thăng lên một mức độ tinh tế và không tiếp xúc với các cõi thấp hơn của con người và chư thiên. Ngay cả khi kiếp hoại diệt, ba tai họa cũng không đến được với họ. Loại này gọi là Cõi Trời Đâu Suất. Đối với những người đáp ứng công việc mà không có ham muốn, và hương vị của họ giống như nhai sáp trong khi giao hợp, sau khi chết họ sinh vào một nơi vượt qua sự biến hóa. Loại này gọi là Cõi Trời Hóa Lạc. Đối với những người không có tâm thế tục nhưng tham gia vào các công việc thế tục, và những người trong sáng và siêu việt trong sự tham gia của họ, sau khi chết họ có thể vượt qua mọi ranh giới của biến hóa và không biến hóa. Loại này gọi là Cõi Trời Tha Hóa Tự Tại. A Nam, sáu cõi trời này, mặc dù hình thức của họ đã rời bỏ sự chuyển động, nhưng dấu vết tâm trí của họ vẫn tương tác. Từ điểm này trở xuống, gọi là Cõi Dục.”
Giải thích Kinh Lăng Nghiêm Quyển 8 bằng Ngôn Ngữ Hiện Đại
“A Nam, tất cả chúng sinh trong mỗi loại của họ cũng đặc biệt được phú cho mười hai loại đảo ngược. Nó giống như dụi mắt, khiến những bông hoa hỗn loạn xuất hiện. Với sự đảo ngược của tâm mầu nhiệm, viên mãn, chân thật, thanh tịnh, sáng suốt, họ có đầy đủ những vọng tưởng hỗn loạn như vậy. Bây giờ ông đang tu tập và chứng ngộ Tam ma địa của Phật, đối với những vọng tưởng hỗn loạn phát sinh từ nguyên nhân căn bản, ông phải thiết lập ba giai đoạn tiệm tiến để loại bỏ chúng. Nó giống như loại bỏ mật độc khỏi một chiếc bình thanh tịnh, rửa chiếc bình bằng nước nóng pha tro và hương, và sau đó chứa cam lộ trong đó. Ba giai đoạn tiệm tiến là gì? Thứ nhất là tu tập để loại bỏ các nguyên nhân trợ giúp. Thứ hai là tu tập chân chính để làm rỗng bản tánh. Thứ ba là thực hành tiến bộ để đi ngược lại nghiệp hiện tại.”
Ngày xửa ngày xưa, có một người khôn ngoan tên là A Nam. Một ngày nọ, Phật nói với ông, “A Nam, tất cả chúng sinh trong thế giới này giống như những người bị bịt mắt và nhìn thấy những bông hoa không tồn tại; tất cả họ đều có mười hai loại mê lầm đảo ngược. Những mê lầm này ngăn cản họ nhìn thấy tâm vốn thanh tịnh và đẹp đẽ của mình.”
Phật tiếp tục giải thích, “Nếu ông muốn tu tập và trở thành Phật, ông phải trải qua ba giai đoạn để xóa bỏ những mê lầm này. Nó giống như làm sạch một vật chứa đã đựng mật độc; chúng ta cần rửa nó nhiều lần bằng nước, tro, và hương trước khi có thể chứa cam lộ trong đó.”
“Ba giai đoạn này là gì?” A Nam tò mò hỏi.
Phật mỉm cười và trả lời, “Thứ nhất, tu tập để loại bỏ các yếu tố khuyến khích mê lầm. Thứ hai, tu tập chân chính để cắt bỏ gốc rễ của mê lầm. Thứ ba, tiến bộ để đi ngược lại những thói quen xấu hiện tại.”
“Các nguyên nhân trợ giúp là gì? A Nam, mười hai loại chúng sinh trong thế giới này không thể tự duy trì mà không dựa vào bốn loại ăn: đoàn thực (ăn từng phần), xúc thực (ăn bằng tiếp xúc), tư thực (ăn bằng ý nghĩ), và thức thực (ăn bằng thức). Do đó, Phật nói rằng tất cả chúng sinh dựa vào việc ăn để sống. A Nam, tất cả chúng sinh sống nếu họ ăn những gì ngọt ngào và chết nếu họ ăn những gì có độc. Chúng sinh cầu Tam ma địa nên đoạn trừ năm loại cây cay nồng của thế gian (ngũ tân). Nếu năm loại cây cay nồng này được ăn chín, chúng làm tăng dâm dục; nếu chúng được ăn sống, chúng làm tăng sân hận. Do đó, ngay cả khi những người trong thế giới này ăn cây cay nồng có thể thuyết giảng mười hai bộ kinh, các vị thần và tiên trong mười phương sẽ tránh xa họ vì họ không thích mùi hôi. Tuy nhiên, ngạ quỷ sẽ liếm môi và hôn họ sau khi họ ăn. Họ luôn ở cùng với quỷ. Phước đức của họ giảm sút hàng ngày, và họ không có lợi ích gì. Khi những người ăn cây cay nồng tu tập Tam ma địa, không có Bồ tát, thần, tiên, hay thiện thần nào trong mười phương đến bảo vệ họ. Các đại ma vương thấy thuận tiện và hiện ra như Phật để thuyết pháp cho họ, chê bai giới luật và ca ngợi dâm dục, sân hận, và ngu si. Khi mạng sống kết thúc, họ sẽ trở thành quyến thuộc của ma vương. Khi phước ma đã hết, họ sẽ rơi vào Địa Ngục Vô Gián. A Nam, những người tu tập Bồ đề phải chứng thực đoạn trừ năm loại cây cay nồng mãi mãi. Đây gọi là giai đoạn tiệm tiến thứ nhất của sự tu tập tiến bộ.”
Phật tiếp tục giải thích, “Tất cả chúng sinh cần dựa vào thức ăn để tồn tại. Có bốn loại thức ăn: ‘đoàn thực’, ‘xúc thực’, ‘tư thực’, và ‘thức thực’. Ăn những thứ ngon giữ chúng ta sống, trong khi ăn những thứ có độc sẽ khiến chúng ta chết.”
Phật nói một cách nghiêm túc, “Do đó, nếu ông muốn tu tập, trước tiên ông phải bỏ năm loại thực phẩm cay nồng trong thế giới. Những thực phẩm này khơi dậy ham muốn và giận dữ. Ngay cả khi ai đó có thể tụng mười hai bộ kinh, nếu họ ăn những thực phẩm này, các vị chư thiên sẽ tránh xa họ vì mùi hôi, và thay vào đó, nó sẽ thu hút ngạ quỷ đến gần.”
Phật cuối cùng cảnh báo, “Những người ăn các thực phẩm này trong khi tu tập sẽ mất sự bảo vệ của Bồ tát và thiện thần, và thay vào đó bị ma vương lừa dối. Ma vương có thể cải trang thành Phật để làm họ lầm lạc, cuối cùng khiến họ rơi vào địa ngục. Vì vậy, A Nam, những người muốn tu tập phải bỏ năm loại thực phẩm cay nồng này mãi mãi. Đây là bước đầu tiên của sự tiến bộ trong tu tập.”
“Chân tánh là gì? A Nam, nếu chúng sinh muốn vào Tam ma địa (Samadhi), trước tiên họ phải giữ giới thanh tịnh một cách nghiêm ngặt. Họ phải đoạn trừ tâm dâm dục vĩnh viễn và không dùng rượu hay thịt. Họ nên ăn thức ăn đã nấu chín và không ăn thức ăn sống. A Nam, nếu một người tu hành không cắt đứt dâm dục và sát sinh, thì không thể nào vượt qua ba cõi. Ông nên luôn xem dâm dục như rắn độc hoặc kẻ trộm oán hận. Trước hết, ông nên giữ tứ khí (bốn tội ba la di) và bát khí (tám tội ba la di) của Thanh Văn để giữ thân không động; sau đó, ông nên thực hành các quy tắc thanh tịnh của Bồ tát để giữ tâm không khởi. Khi giới luật được thành tựu, sẽ không có nghiệp tạo tác và giết hại lẫn nhau trong thế gian. Nếu ông không trộm cắp hay cướp bóc, ông sẽ không có nợ phải trả. Ông cũng sẽ không phải trả nợ quá khứ trong thế gian. Khi một người thanh tịnh như vậy tu tập Tam ma địa, thân xác thịt của cha mẹ ông, không cần đến thiên nhãn, tự nhiên thấy các thế giới mười phương, thấy chư Phật và nghe Pháp, đích thân nhận sự chỉ dạy của thánh nhân, đạt được đại thần thông để dạo chơi mười phương, và đạt được sự thanh tịnh của các đời quá khứ mà không gặp khó khăn hay nguy hiểm. Đây gọi là giai đoạn tiệm tiến thứ hai của sự tu tập tiến bộ.”
A Nam tò mò tiếp tục hỏi Phật, “Vậy thì, làm thế nào để chúng ta điều chỉnh bản tánh của mình?”
Phật ân cần trả lời, “A Nam, để vào trạng thái thiền định sâu, trước tiên người ta phải nghiêm trì giới luật thanh tịnh. Phải đoạn trừ tâm dâm dục mãi mãi, không ăn thịt, không uống rượu, và chỉ ăn thức ăn đã nấu chín, không ăn đồ sống.”
Phật nói một cách nghiêm túc, “Nếu một người tu hành không thể cắt đứt dâm dục và sát sinh, thì hoàn toàn không thể vượt qua ba cõi. Phải luôn cảnh giác, xem dâm dục như rắn độc và sát sinh như kẻ thù.”
Sau đó, Phật giải thích các giai đoạn tu tập: “Thứ nhất, giữ các giới cơ bản để kiềm chế hành vi. Sau đó, thực hành thêm các giới sâu hơn để kiềm chế suy nghĩ. Khi giới luật thực sự được thành tựu, ông sẽ không còn nghiệp gây hại hay bị hại trong thế giới này, cũng không còn phiền não về trộm cắp hay nợ nần.”
Phật mỉm cười nói, “Khi một người thanh tịnh như vậy thiền định, ông không cần năng lực đặc biệt để tự nhiên thấy các thế giới mười phương, nghe Pháp, đạt được thần thông, dạo chơi mười phương, và hiểu các đời quá khứ và hiện tại mà không bị chướng ngại. Đây là giai đoạn tu tập thứ hai.”
“Nghiệp hiện tại là gì? A Nam, một người thanh tịnh giữ giới như vậy không có tham lam hay dâm dục trong tâm, và không chảy ra sáu trần bên ngoài. Vì không chảy ra, ông quay trở về nguồn. Vì trần không dính vào các giác quan, các giác quan không có gì để tương xứng. Dòng chảy ngược trở thành toàn thể và sáu chức năng không hoạt động. Các cõi nước mười phương sáng sủa và thanh tịnh. Nó giống như mặt trăng treo trong pha lê trong suốt. Thân và tâm hạnh phúc, mầu nhiệm, viên mãn, và bình đẳng, đạt được sự bình an và an ninh lớn lao. Tất cả các khía cạnh bí mật, viên mãn, thanh tịnh, và mầu nhiệm của Như Lai đều hiện ra trong đó. Người này sau đó đạt được Vô Sinh Pháp Nhẫn. Từ đó trở đi, ông dần dần tu tập và thiết lập các địa vị thánh nhân tùy theo sự thực hành của ông. Đây gọi là giai đoạn tiệm tiến thứ ba của sự tu tập tiến bộ.”
A Nam gật đầu trầm ngâm và hỏi lại, “Vậy thì, chúng ta đối phó với nghiệp hiện tại như thế nào?”
Phật trả lời, “Một người giữ giới thanh tịnh không có tham lam hay ham muốn trong tâm và sẽ không quá nghiện sáu loại kích thích giác quan từ thế giới bên ngoài. Vì không nghiện, ông có thể trở về bản tánh ban đầu của mình. Khi các kích thích bên ngoài không còn ảnh hưởng đến ông nữa, các giác quan của ông sẽ trở nên yên tĩnh.”
Phật giải thích bằng một ẩn dụ, “Nó giống như một mặt trăng sáng treo trong pha lê trong suốt; thân và tâm sẽ trở nên thoải mái, đạt đến trạng thái mầu nhiệm, viên mãn, và bình đẳng, và đạt được sự bình an lớn lao. Tất cả những bí mật của Như Lai sẽ hiện ra trong tâm ông, và ông có thể đạt đến trạng thái Vô Sinh Pháp Nhẫn.”
Cuối cùng, Phật tóm tắt, “Từ đây, người ta tu tập dần dần và thiết lập các địa vị thánh nhân tùy theo hạnh kiểm của mình. Đây là giai đoạn tu tập thứ ba.”
“A Nam, thiện nam tử này đã làm khô cạn ham muốn và tình yêu, và không có sự kết đôi nào giữa các giác quan và đối tượng giác quan. Thân xác còn lại hiện tại sẽ không tái sinh nữa. Tâm nắm giữ trống rỗng và sáng sủa, hoàn toàn khôn ngoan. Bản chất của trí tuệ sáng sủa, viên mãn, và chiếu soi mười phương. Có trí tuệ này trong sự khô cạn gọi là Càn Tuệ Địa (Giai đoạn Trí Tuệ Khô). Các ham muốn và thói quen ban đầu khô cạn, nhưng ông chưa kết nối với dòng nước Pháp của Như Lai. Ông chỉ đi vào dòng chảy với tâm này. Sự viên mãn mầu nhiệm mở ra và hiển bày. Từ sự viên mãn mầu nhiệm chân thật, niềm tin mầu nhiệm chân thật lại xuất hiện và an trụ mãi mãi. Mọi vọng tưởng hoàn toàn bị dập tắt không còn dư sót. Trung đạo thanh tịnh và chân thật. Đây gọi là Giai đoạn Niềm Tin (Tín Tâm). Niềm tin chân thật hiểu rõ tất cả các sự thâm nhập một cách viên mãn. Các uẩn, xứ, và giới là ba nhưng không thể cản trở ông. Do đó, ngay cả trong vô số kiếp quá khứ và tương lai, bỏ và nhận thân xác, mọi thói quen đều hiện ra trước mặt ông. Thiện nam tử này có thể nhớ tất cả mà không quên. Đây gọi là Giai đoạn Niệm Tâm. Sự viên mãn mầu nhiệm thanh tịnh và chân thật, và tinh chất chân thật mang lại sự biến hóa. Các thói quen vô thủy kết nối với một sự sáng sủa bản chất. Chỉ dùng sự sáng sủa bản chất để tiến về phía thanh tịnh chân thật gọi là Tinh Tấn Tâm. Tinh chất của tâm hiện ra trước mặt ông, thuần túy là trí tuệ. Đây gọi là Giai đoạn Huệ Tâm. Giữ trí tuệ và sự sáng sủa, ông tĩnh lặng và trong sáng khắp nơi. Sự tĩnh lặng và mầu nhiệm luôn ngưng tụ. Đây gọi là Giai đoạn Định Tâm. Ánh sáng của Tam ma địa phát ra sự sáng sủa, và bản chất sáng sủa đi vào sâu. Chỉ tiến tới mà không lùi bước gọi là Bất Thoái Tâm. Tâm tiến tới một cách bình an và duy trì mà không mất. Ông kết nối với năng lượng của các Như Lai mười phương. Đây gọi là Hộ Pháp Tâm. Sự sáng sủa của giác ngộ được duy trì và có thể dùng sức mạnh mầu nhiệm để đáp lại ánh sáng từ bi của Phật và an trụ trong Phật. Nó giống như hai tấm gương với ánh sáng đối diện nhau, và những hình ảnh mầu nhiệm trong đó đi vào nhau lặp đi lặp lại. Đây gọi là Hồi Hướng Tâm. Ánh sáng của tâm bí mật quay trở lại và đạt được sự ngưng tụ thường hằng của Phật. Sự thanh tịnh mầu nhiệm vô thượng an trụ trong vô vi mà không mất. Đây gọi là Giai đoạn Giới Tâm. An trụ trong giới, ông tự tại và có thể dạo chơi mười phương, đi bất cứ đâu tùy ý. Đây gọi là Giai đoạn Nguyện Tâm.”
Phật tiếp tục giải thích quá trình tu tập cho A Nam, giống như câu chuyện về một người dần dần trưởng thành. “A Nam, khi ham muốn của một người tu hành tốt bụng khô cạn và ông không còn bị quấy rầy bởi thế giới bên ngoài, thân xác hiện tại của ông sẽ không còn tiếp tục trong luân hồi (tái sinh). Tâm ông trở nên trống rỗng và sáng sủa, đầy trí tuệ, có khả năng chiếu sáng các thế giới của mười phương. Giai đoạn này gọi là ‘Càn Tuệ Địa’.”
Phật mỉm cười và nói, “Nó bén rễ giống như một cây non nhỏ mới bắt đầu phát triển. Lúc này, tâm của người tu hành dần dần hòa nhập vào dòng trí tuệ của Phật Pháp, hấp thụ chất dinh dưỡng giống như một cái cây nhỏ. Tâm ông bắt đầu nở hoa, phát triển niềm tin vững chắc vào chân lý, và mọi vọng tưởng biến mất. Giai đoạn này gọi là ‘Thập Tín Trụ’.”
“Khi đức tin trở nên vững chắc hơn, người tu hành bắt đầu có thể nhìn thấu mọi thứ rõ ràng, với những kinh nghiệm quá khứ, hiện tại và tương lai đều hiển hiện rõ ràng. Đây là ‘Giai đoạn Niệm Tâm’.”
Phật tiếp tục, “Tiếp theo, tâm người tu hành trở nên thanh tịnh hơn, phấn đấu vì sự thật; đây là ‘Tinh Tấn Tâm’. Khi trí tuệ tràn đầy toàn thân, người đó bước vào ‘Huệ Tâm’.”
Phật giải thích bằng một ẩn dụ sống động, “Tâm người tu hành trở nên tĩnh lặng như nước lặng; đây là ‘Định Tâm’. Sau đó, tâm người ấy chỉ tiến về phía trước, không bao giờ lùi bước; đây là ‘Bất Thoái Tâm’.”
“Khi một người tu hành có thể duy trì trạng thái này một cách ổn định, người ấy có thể cảm nhận được hơi thở của chư Phật; đây là ‘Hộ Pháp Tâm’.”
Mắt Phật sáng ngời ánh sáng trí tuệ, “Người tu hành có thể phản chiếu ánh sáng từ bi của Phật, giống như hai tấm gương đối diện nhau, với ánh sáng phản chiếu qua lại liên tục. Đây là ‘Hồi Hướng Tâm’.”
Phật kết luận, “Cuối cùng, tâm người tu hành hoàn toàn hòa nhập với trí tuệ của Phật và an trụ trong trạng thái cao nhất; đây là ‘Giới Tâm’. Ở giai đoạn này, người tu hành có thể tự do dạo chơi mười phương tùy ý; đây là ‘Nguyện Tâm’.”
“A Nam, thiện nam tử này dùng phương tiện chân thật để đem lại mười tâm này. Bản chất của tâm hiển bày chức năng, và mười chức năng giao nhau. Hoàn thành viên mãn một tâm gọi là Giai đoạn Phát Tâm Trụ. Tâm phát ra ánh sáng như pha lê thanh tịnh, hiển lộ vàng ròng bên trong. Dùng tâm mầu nhiệm trước đó làm đất để bước lên gọi là Giai đoạn Trị Địa Trụ. Tâm địa bao gồm sự hiểu biết, và tất cả đều được thấu hiểu rõ ràng. Dạo chơi qua mười phương không chướng ngại gọi là Giai đoạn Tu Hành Trụ. Hạnh kiểm của ông giống như Phật, và ông nhận năng lượng của Phật. Nó giống như thân trung ấm tìm cha mẹ. Lòng tin âm thầm thâm nhập và đi vào dòng giống Như Lai. Đây gọi là Giai đoạn Sinh Quý Trụ. Khi ông dạo chơi trong thai tạng của Đạo và đích thân nhận dòng giống giác ngộ, giống như một thai nhi đã hình thành với đầy đủ đặc điểm con người, nó được gọi là Giai đoạn Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Tướng mạo ông giống như Phật, và tâm ông cũng giống như vậy. Đây gọi là Giai đoạn Chính Tâm Trụ. Thân và tâm hợp nhất và lớn lên hàng ngày. Đây gọi là Giai đoạn Bất Thoái Trụ. Mười đặc điểm tâm linh của thân hoàn thành cùng một lúc. Đây gọi là Giai đoạn Đồng Chân Trụ. Hình thành và sinh ra từ thai tạng, ông đích thân là con của Phật. Đây gọi là Giai đoạn Pháp Vương Tử Trụ. Thể hiện rằng ông là một người trưởng thành, giống như đại vương của một nước giao việc nước cho thái tử. Khi con của Vua Sát Đế Lợi lớn lên, ông trải qua lễ quán đảnh. Đây gọi là Giai đoạn Quán Đảnh Trụ.”
Phật tiếp tục kể cho A Nam về con đường trưởng thành của người tu hành, ví nó như quá trình của một người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành. “A Nam, khi một người tu hành tốt tu tập mười tâm này với các phương pháp chân thành, tâm ông trở nên tinh tấn hơn và đi vào một trạng thái sâu hơn.
Nó giống như một em bé vừa mới sinh; chúng ta gọi đó là ‘Giai đoạn Phát Tâm Trụ’.”
Phật mỉm cười và nói, “Tiếp theo, tâm người tu hành trở nên giống như pha lê trong suốt, tỏa sáng ánh vàng bên trong. Đây là ‘Giai đoạn Trị Địa Trụ’, giống như một em bé bắt đầu tập bò.”
“Khi một người tu hành có thể tự do dạo chơi mười phương không chướng ngại, đây gọi là ‘Giai đoạn Tu Hành Trụ’, giống như một đứa trẻ tập đi.”
Phật tiếp tục giải thích, “Sau đó, người tu hành cảm nhận hơi thở của Phật và đi vào gia đình của Phật; đây là ‘Giai đoạn Sinh Quý Trụ’, giống như một đứa trẻ bắt đầu nhận ra gia đình mình.”
Phật dùng một ẩn dụ sống động, “Thân và tâm người tu hành lớn lên dần dần, giống như một thai nhi phát triển trong bụng mẹ; đây là ‘Giai đoạn Phương Tiện Cụ Túc Trụ’. Khi tướng mạo và bản tánh của ông giống như Phật, ông đi vào ‘Giai đoạn Chính Tâm Trụ’.”
“Tiếp theo, người tu hành tiến bộ liên tục và không bao giờ lùi bước; đây là ‘Giai đoạn Bất Thoái Trụ’. Khi ông sở hữu mười phẩm chất kỳ diệu, ông giống như một đứa trẻ thanh tịnh; đây là ‘Giai đoạn Đồng Chân Trụ’.”
Mắt Phật lấp lánh trí tuệ, “Cuối cùng, người tu hành trở thành người thừa kế của Phật, giống như một hoàng tử kế thừa ngai vàng; đây là ‘Giai đoạn Pháp Vương Tử Trụ’ và ‘Giai đoạn Quán Đảnh Trụ’.”
“A Nam, sau khi thiện nam tử này đã trở thành con Phật, ông có đầy đủ các công đức mầu nhiệm vô lượng của Như Lai. Tùy thuận mười phương gọi là Hoan Hỷ Hạnh. Giỏi làm lợi ích cho tất cả chúng sinh gọi là Nhiêu Ích Hạnh. Tự giác ngộ và giác ngộ người khác không đối lập gọi là Vô Sân Hận Hạnh. Sự sinh ra của các loại được tận cùng đến giới hạn tương lai; ba thời bình đẳng và mười phương thông suốt. Đây gọi là Vô Tận Hạnh. Hòa hợp tất cả các pháp môn khác nhau mà không sai lầm gọi là Ly Si Loạn Hạnh. Sau đó, trong cái giống nhau, ông hiện ra nhiều sự khác biệt; trong mỗi sự khác biệt, ông thấy cái giống nhau. Đây gọi là Thiện Hiện Hạnh. Như vậy, ngay cả cho đến khi hư không mười phương đầy những hạt bụi, và trong mỗi hạt bụi hiện ra các thế giới mười phương, hiện bụi và hiện thế giới mà không cản trở nhau, đây gọi là Vô Trước Hạnh. Các hiện tướng khác nhau xuất hiện trước mặt ông đều là Ba La Mật đệ nhất. Đây gọi là Tôn Trọng Hạnh. Sự dung hợp viên mãn như vậy có thể thành tựu các quy tắc của chư Phật mười phương. Đây gọi là Thiện Pháp Hạnh. Mỗi một hạnh đều thanh tịnh và vô vi, nương vào một bản tánh vô vi chân thật. Đây gọi là Chân Thực Hạnh.”
Phật sau đó mô tả mười loại hành vi của một người tu hành sau khi trở thành con Phật:
“Người tu hành sẽ giúp đỡ tất cả chúng sinh với niềm vui; đây là ‘Hoan Hỷ Hạnh’ và ‘Nhiêu Ích Hạnh’.”
“Ông sẽ không giận dữ với bất kỳ ai; đây là ‘Vô Sân Hận Hạnh’.”
“Trí tuệ của ông là vô tận; đây là ‘Vô Tận Hạnh’.”
“Ông có thể hiểu tất cả các pháp môn mà không nhầm lẫn; đây là ‘Ly Si Loạn Hạnh’.”
“Ông có thể thấy sự khác biệt trong cái giống nhau và cái giống nhau trong sự khác biệt; đây là ‘Thiện Hiện Hạnh’.”
“Tâm ông sẽ không dính mắc vào bất cứ điều gì; đây là ‘Vô Trước Hạnh’.”
Phật kết luận, “Người tu hành sẽ tôn trọng mọi thứ; đây là ‘Tôn Trọng Hạnh’.”
“Ông sẽ tuân theo lời dạy của chư Phật; đây là ‘Thiện Pháp Hạnh’.”
“Cuối cùng, ông sẽ đạt đến trạng thái thanh tịnh không ô nhiễm; đây là ‘Chân Thực Hạnh’.”
“A Nam, khi thiện nam tử này đã thỏa mãn các thần thông của mình và hoàn thành Phật sự, ông thanh tịnh, tinh yếu, và chân thật, xa rời mọi phiền não còn sót lại. Khi cứu độ chúng sinh, ông dập tắt ý niệm cứu độ. Ông quay tâm vô vi về hướng con đường Niết bàn. Đây gọi là Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sinh Ly Chúng Sinh Tướng Hồi Hướng. Phá hủy những gì có thể phá hủy và tránh xa mọi sự chia cách gọi là Bất Hoại Hồi Hướng. Giác ngộ căn bản thì rõ ràng và tĩnh lặng, và giác ngộ của ông bằng với giác ngộ của Phật. Đây gọi là Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng. Chân lý tinh yếu phát ra ánh sáng, và địa của ông giống như địa của Phật. Đây gọi là Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng. Thế giới và Như Lai thâm nhập lẫn nhau mà không chướng ngại. Đây gọi là Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng. Trong cùng một Phật địa, các nhân thanh tịnh khác nhau khởi lên. Nương vào các nhân, ông nỗ lực để đi theo con đường Niết bàn. Đây gọi là Tùy Thuận Bình Đẳng Thiện Căn Hồi Hướng. Vì căn chân thật đã thành tựu, tất cả chúng sinh mười phương là bản tánh của chính ta. Bản tánh được thành tựu viên mãn mà không mất chúng sinh. Đây gọi là Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sinh Hồi Hướng. Ngay lập tức là tất cả các pháp trong khi rời bỏ tất cả các tướng, không dính mắc vào sự hiện diện tức thời hay sự chia cách, gọi là Chân Như Tướng Hồi Hướng. Thực sự đạt được những gì là chân thật, mười phương không bị cản trở. Đây gọi là Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng. Các đức của bản tánh được thành tựu viên mãn, và các ranh giới của Pháp giới bị dập tắt. Đây gọi là Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng.”
Phật tiếp tục kể cho A Nam về trạng thái cao nhất của người tu hành, giống như mô tả một anh hùng đã hoàn thành một cuộc phiêu lưu vĩ đại: “A Nam, khi người tu hành tốt bụng này đã hoàn thành tất cả các thần thông và đạt được Phật sự, tâm ông trở nên thanh tịnh và không tì vết, xa rời mọi phiền não.”
Phật ân cần nói, “Lúc này, ông bắt đầu giúp đỡ tất cả chúng sinh, nhưng không dính mắc vào ý nghĩ rằng ‘Tôi đang cứu chúng sinh’. Nó đứng như một anh hùng cứu thế giới mà không đòi hỏi bất cứ điều gì đáp lại. Chúng ta gọi trạng thái này là ‘Cứu Hộ Nhất Thiết Chúng Sinh Ly Chúng Sinh Tướng Hồi Hướng’.”
Phật tiếp tục giải thích, “Người tu hành sẽ phá hủy mọi thứ có thể phá hủy và tránh xa mọi thứ cần tránh xa. Nó giống như một chiến binh phá hủy mọi chướng ngại vật; chúng ta gọi đây là ‘Bất Hoại Hồi Hướng’.”
“Sau đó, sự giác ngộ của người tu hành sẽ sâu sắc như của Phật; đây gọi là ‘Đẳng Nhất Thiết Phật Hồi Hướng’.”
“Nơi ông đứng sẽ trở nên giống như Tịnh Độ nơi Phật ở; đây là ‘Chí Nhất Thiết Xứ Hồi Hướng’.”
Phật mỉm cười và nói, “Người tu hành sẽ khám phá ra rằng tất cả các thế giới và chư Phật đan xen nhau mà không có bất kỳ chướng ngại nào. Nó giống như khám phá một kho báu vô tận; chúng ta gọi đây là ‘Vô Tận Công Đức Tạng Hồi Hướng’.”
“Trong trạng thái này, người tu hành sẽ khám phá ra rằng mỗi chúng sinh là một phần của bản tánh chính mình, giống như khám phá ra rằng tất cả mọi người là thành viên của một đại gia đình. Đây gọi là ‘Tùy Thuận Đẳng Quán Nhất Thiết Chúng Sinh Hồi Hướng’.”
Mắt Phật sáng ngời ánh sáng trí tuệ, “Cuối cùng, người tu hành sẽ nhận ra rằng tất cả các pháp không có tướng cố định, giống như nhìn thấu bản chất của thế giới. Đây là ‘Chân Như Tướng Hồi Hướng’.”
“Ông sẽ đạt được tự do thực sự; đây là ‘Vô Phược Giải Thoát Hồi Hướng’.”
“Cuối cùng, ông sẽ hoàn toàn hòa nhập vào Pháp Giới; đây là ‘Pháp Giới Vô Lượng Hồi Hướng’.”
“A Nam, khi thiện nam tử này đã hoàn toàn thanh tịnh bốn mươi mốt tâm này, ông tiếp theo thành tựu bốn loại gia hành mầu nhiệm, viên mãn. Dùng sự giác ngộ của Phật làm tâm mình, nó giống như khoan lấy lửa: trước khi lửa ra, gỗ đã ấm. Đây gọi là Giai đoạn Noãn (Hơi Ấm). Dùng tâm mình để bước lên nơi Phật đã bước, nó giống như nương tựa vào cái gì đó nhưng không hoàn toàn nương tựa vào nó, giống như leo lên núi cao: thân đi vào hư không, nhưng vẫn còn chướng ngại nhẹ bên dưới. Đây gọi là Giai đoạn Đảnh (Đỉnh). Tâm và Phật là một, và ông đạt được trung đạo tốt. Nó giống như một người chịu đựng điều gì đó: ông không giữ nó bên trong cũng không để nó ra ngoài. Đây gọi là Giai đoạn Nhẫn (Kiên Nhẫn). Các con số bị phá hủy, và ông ở giữa mê lầm và giác ngộ; cả hai đều không thể gọi tên. Đây gọi là Giai đoạn Thế Đệ Nhất (Đứng Đầu Thế Gian).”
Phật sau đó mô tả bốn giai đoạn tu tập cuối cùng: “Người tu hành sẽ dùng sự giác ngộ của Phật để đốt cháy tâm mình, giống như dùng gỗ để tạo ra lửa; đây là ‘Giai đoạn Noãn’.”
“Sau đó, ông sẽ bước trên con đường mà Phật đã đi, giống như leo lên một ngọn núi cao; đây là ‘Giai đoạn Đảnh’.”
“Khi tâm người tu hành hoàn toàn nhất quán với Phật, nó giống như một người có thể chịu đựng mọi thứ; đây là ‘Giai đoạn Nhẫn’.”
“Cuối cùng, khi tất cả các con số và ranh giới biến mất, người tu hành đi vào ‘Giai đoạn Thế Đệ Nhất’.”
“A Nam, thiện nam tử này thấu suốt Đại Bồ Đề thành công. Sự giác ngộ của ông kết nối với Như Lai, tận cùng cảnh giới Phật. Đây gọi là Hoan Hỷ Địa. Sự khác biệt đi vào sự giống nhau, và sự giống nhau cũng bị dập tắt. Đây gọi là Ly Cấu Địa. Sự thanh tịnh tột cùng sinh ra ánh sáng. Đây gọi là Phát Quang Địa. Sự sáng sủa tột cùng và giác ngộ viên mãn. Đây gọi là Diễm Huệ Địa. Tất cả sự giống nhau và khác biệt không thể chạm tới nó. Đây gọi là Nan Thắng Địa. Chân Như vô vi, bản tánh thanh tịnh và sáng sủa, được hiển lộ. Đây gọi là Hiện Tiền Địa. Tận cùng các ranh giới của Chân Như. Đây gọi là Viễn Hành Địa. Một tâm Chân Như. Đây gọi là Bất Động Địa. Đem lại chức năng của Chân Như. Đây gọi là Thiện Huệ Địa.”
Phật tiếp tục kể cho A Nam về trạng thái cao nhất của người tu hành, giống như mô tả một anh hùng leo lên một đỉnh núi kỳ diệu. Phật mỉm cười và nói:
“A Nam, khi người tu hành tốt bụng này hoàn toàn hiểu Đại Bồ Đề, nó giống như leo lên đỉnh núi đầu tiên; chúng ta gọi đó là ‘Hoan Hỷ Địa’. Lòng ông tràn đầy niềm vui, như thể ông nhìn thấy vẻ đẹp của cả thế giới.”
“Trên đỉnh núi thứ hai, ‘Ly Cấu Địa’, ông sẽ loại bỏ mọi nhơ bẩn.”
“Trên đỉnh núi thứ ba, ‘Phát Quang Địa’, tâm ông trở nên cực kỳ sáng sủa.”
“Trên đỉnh núi thứ tư, ‘Diễm Huệ Địa’, trí tuệ của ông cháy bỏng như ngọn lửa dữ dội.”
“Trên đỉnh núi thứ năm, ‘Nan Thắng Địa’, không gì có thể vượt qua ông.”
“Trên đỉnh núi thứ sáu, ‘Hiện Tiền Địa’, bản tánh của Chân Như hoàn toàn hiển lộ.”
“Trên đỉnh núi thứ bảy, ‘Viễn Hành Địa’, ông đạt đến giới hạn của Chân Như.”
“Trên đỉnh núi thứ tám, ‘Bất Động Địa’, tâm ông không lay động.”
“Trên đỉnh núi thứ chín, ‘Thiện Huệ Địa’, ông bắt đầu sử dụng sức mạnh của Chân Như.”
“A Nam, các Bồ tát đã đạt đến điểm này và hoàn thành sự tu tập của họ, với công đức tròn đầy thì sao? Đây cũng gọi là ‘Tu Tập Vị’. Mây mầu nhiệm của sự che chở từ bi bao phủ biển Niết bàn; đây gọi là ‘Pháp Vân Địa’. Như Lai đi ngược dòng, trong khi các Bồ tát như vậy theo dòng để đến ranh giới của sự thức tỉnh và đi vào giao điểm; đây gọi là ‘Đẳng Giác’. A Nam, từ tâm khô tuệ đến đẳng giác, sự thức tỉnh này bắt đầu đạt được đất khô tuệ ban đầu trong tâm kim cương. Thâm sâu. Như vậy, với các lớp đôi và đơn số lượng mười hai, cuối cùng người ta tận cùng diệu giác và thành tựu đạo vô thượng. Các giai đoạn khác nhau này đều dùng tâm kim cương để quan sát mười ẩn dụ sâu sắc của ảo tưởng. Trong Xa ma tha, họ dùng Tỳ bà xá na của Như Lai. Với sự tu tập và chứng đắc thanh tịnh, họ dần dần đi vào sâu. A Nam, nhờ ba sự tiến bộ dần dần này, người ta có thể thiết lập năm mươi lăm giai đoạn của con đường Bồ Đề chân thật. Sự quán chiếu như vậy gọi là chính quán; bất kỳ sự quán chiếu nào khác gọi là tà quán.”
Phật tiếp tục kể cho A Nam về trạng thái tu tập cao nhất, giống như mô tả một chiến binh đã hoàn thành một cuộc phiêu lưu khó khăn: “A Nam, khi những người tu hành Bồ tát này đạt đến bước này, họ đã hoàn thành tất cả sự tu tập và công đức của họ hoàn hảo. Chúng ta gọi giai đoạn này là ‘Tu Tập Vị’.”
Phật ân cần nói, “Hãy tưởng tượng lòng từ bi của họ giống như một đám mây đẹp bao phủ đại dương Niết bàn. Đây là những gì chúng ta gọi là ‘Pháp Vân Địa’.”
Phật giải thích bằng một ẩn dụ sống động, “Những Bồ tát này theo con đường tu tập và cuối cùng đạt đến một trạng thái gần như bình đẳng với Phật; chúng ta gọi đó là ‘Đẳng Giác’.”
Phật tiếp tục, “A Nam, từ ‘Tâm Khô Tuệ’ ban đầu đến ‘Đẳng Giác’, người tu hành trải qua nhiều giai đoạn. Giống như leo lên một ngọn núi cao, mỗi bước đưa họ đến gần đỉnh hơn. Quá trình này có mười hai giai đoạn quan trọng, cuối cùng đạt đến ‘Diệu Giác’ và thành tựu Phật Đạo tối thượng.”
“Trong quá trình này, người tu hành phải dùng trí tuệ vững chắc như kim cương để quan sát bản chất ảo tưởng của thế giới. Họ phải dùng các phương pháp ‘Xa ma tha’ (dừng lại) và ‘Tỳ bà xá na’ (quan sát) do Phật dạy để dần dần làm sâu sắc thêm sự tu tập của họ.”
Phật kết luận, “A Nam, thông qua ba phương pháp tiến bộ này, người tu hành có thể đạt được năm mươi lăm giai đoạn của con đường Bồ Đề chân thật. Nếu người ta có thể quan sát và tu tập theo cách này, đó là phương pháp tu tập đúng đắn. Nếu người ta dùng các phương pháp khác, người ta có thể đi lạc lối.”
“Lúc đó, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi đứng dậy từ chỗ ngồi giữa hội chúng, cúi đầu dưới chân Phật, và nói với Phật, ‘Kinh này nên đặt tên là gì? Con và tất cả chúng sinh nên thọ trì như thế nào?’ Phật bảo Văn Thù Sư Lợi, ‘Kinh này tên là “Đại Phật Đỉnh Tất Đát Đa Bát Đát La Vô Thượng Bảo Ấn Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn.” Cũng tên là “Cứu Hộ Thân Nhân Độ Thoát A Nam Cập Thử Hội Trung Tánh Tỷ Khâu Ni Đắc Bồ Đề Tâm Nhập Biến Tri Hải.” Cũng tên là “Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa.” Cũng tên là “Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú.” Cũng tên là “Quán Đảnh Chương Cú Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm.” Các ông nên thọ trì.’”
Sau khi Phật giảng xong giáo lý sâu sắc này, một vị Bồ tát với trí tuệ phi thường bất ngờ đứng dậy từ đám đông. Ông là Văn Thù Sư Lợi, được biết đến là “Pháp Vương Tử”.
Văn Thù Sư Lợi cung kính cúi chào Phật và hỏi, “Bạch Thế Tôn, Kinh này nên đặt tên là gì? Chúng con nên tuân theo lời dạy của nó như thế nào?”
Phật nhìn Văn Thù Sư Lợi ân cần, mỉm cười và trả lời, “Kinh này có nhiều tên, và mỗi tên phản ánh các đặc điểm và chức năng khác nhau của nó.”
Sau đó, Phật liệt kê một vài tên của Kinh này như thể đếm gia bảo: “Nó có thể gọi là ‘Đại Phật Đỉnh Tất Đát Đa Bát Đát La Vô Thượng Bảo Ấn Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn’. Tên này chỉ ra rằng nó quý giá như một ấn ngọc và cho phép chúng ta thấy trí tuệ của tất cả chư Phật.”
“Nó cũng có thể gọi là ‘Cứu Hộ Thân Nhân Độ Thoát A Nam’, bởi vì nó đã giúp A Nam và các Tỳ kheo ni khác đạt được Bồ đề tâm và đi vào đại dương trí tuệ bao la.”
“Nó cũng có thể gọi là ‘Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa’, bởi vì nó tiết lộ nguyên nhân bí mật của việc thành Phật và ý nghĩa tột cùng của sự tu tập.”
“Ngoài ra, nó có một tên khác gọi là ‘Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú’, có nghĩa là nó tuyệt vời như một bông hoa sen và chứa đựng trí tuệ của tất cả chư Phật.”
“Cuối cùng, chúng ta cũng có thể gọi nó là ‘Quán Đảnh Chương Cú Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm’, bởi vì nó chứa đựng tất cả các phương pháp tu tập của Bồ tát.”
Phật cuối cùng khuyên bảo, “Văn Thù Sư Lợi, bất kể ông dùng tên nào để gọi nó, điều quan trọng là phải thọ trì lời dạy của Kinh này bằng trái tim ông.”
Sau khi nghe những lời này, A Nam và đại chúng ngay lập tức nhận được sự chỉ dạy của Như Lai về ý nghĩa của ấn bí mật, Tất Đát Đa Bát Đát La, và cũng nghe tên ý nghĩa trọn vẹn của Kinh này. Họ đột nhiên nhận ra Thiền định và tiến lên vị trí thánh hiền. Họ tăng cường sự hiểu biết về nguyên lý mầu nhiệm, tâm họ trở nên trống rỗng và tập trung, và họ cắt đứt sáu cấp độ phiền não vi tế trong ba cõi tu tập. Ông ngay lập tức đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi đầu dưới chân Phật, chắp tay cung kính, và nói với Phật, “Đại Uy Đức Thế Tôn, giọng nói từ bi của Ngài không có chướng ngại, và Ngài khéo léo mở ra những nghi ngờ và mê lầm vi tế của chúng sinh, khiến con hôm nay được hạnh phúc nơi thân và tâm và đạt được lợi ích lớn. Bạch Thế Tôn, nếu tâm mầu nhiệm, sáng suốt, chân thật và thanh tịnh này vốn viên mãn và lan tỏa, thì ngay cả đất, núi, sông, cỏ, cây, côn trùng bò, và chúng sinh vốn là Chân Như, đó là thân chân thật của Như Lai thành Phật. Vì thân Phật là chân thật, làm sao có thể có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a tu la, người, trời, và các đường khác? Bạch Thế Tôn, những đường này vốn có tồn tại, hay chúng sinh ra từ những thói quen sai lầm của chúng sinh? Bạch Thế Tôn, giống như Tỳ kheo ni Bảo Liên Hương, bà giữ giới Bồ tát nhưng lén lút hành dâm. Bà nói dối rằng hành dâm không phải là giết hại hay trộm cắp và không có quả báo nghiệp. Sau khi nói điều này, một ngọn lửa dữ dội lớn trước tiên bốc lên từ cơ quan sinh dục nữ của bà, và sau đó các khớp xương của bà bị ngọn lửa dữ dội thiêu đốt, và bà rơi vào Địa ngục Vô Gián. Vua Lưu Ly và Tỳ kheo Thiện Tinh: Lưu Ly, vì ông giết dòng họ Cồ Đàm, và Thiện Tinh, vì ông nói dối rằng tất cả các pháp đều không, đã rơi vào Địa ngục A Tỳ khi còn sống. Những địa ngục này có nơi chốn cố định, hay chúng là tự nhiên? Có phải mỗi người chịu nghiệp của riêng mình? Con chỉ mong Ngài ban lòng đại bi để mở ra sự ngu dốt trẻ con của chúng con, để tất cả chúng sinh giữ giới sẽ nghe ý nghĩa xác quyết, vui vẻ chấp nhận, và cẩn thận và thanh tịnh mà không vi phạm.”
Sau khi Phật nói xong tên Kinh, A Nam và đại chúng vô cùng ngạc nhiên một cách thú vị. Cuối cùng họ đã hiểu những nguyên lý sâu sắc do Phật dạy, như thể một luồng ánh sáng đã chiếu vào tim họ.
A Nam cảm thấy nhẹ nhàng nơi thân và tâm, như thể một gánh nặng đã được trút bỏ. Ông đứng dậy, cung kính cúi chào Phật, và nói, “Đại Thế Tôn, lời dạy của Ngài giống như sương ngọt làm ẩm mát trái tim chúng con. Ngài đã giải quyết nhiều sự bối rối của chúng con và làm lợi ích cho chúng con rất nhiều.”
Tuy nhiên, A Nam vẫn còn một số nghi ngờ trong lòng. Ông tiếp tục hỏi, “Bạch Thế Tôn, nếu tâm mầu nhiệm và thanh tịnh này vốn viên mãn, thì tại sao lại có những con đường khác nhau trên thế giới như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, a tu la, người, và trời? Những thứ này vốn có tồn tại, hay chúng sinh ra từ những hành vi sai trái của chúng sinh?”
A Nam cũng đề cập đến một số ví dụ gây bối rối: “Ví dụ, Tỳ kheo ni Bảo Liên Hương đã vi phạm giới luật nhưng nói rằng không có hại gì khi làm như vậy. Kết quả là, bà phải chịu hình phạt khủng khiếp và rơi vào địa ngục.”
“Cũng như Vua Lưu Ly và Tỳ kheo Thiện Tinh, họ cũng rơi vào địa ngục vì những việc làm ác của họ.”
A Nam bối rối hỏi, “Những địa ngục này có ở những nơi cố định không? Hay chúng được hình thành tự nhiên theo hành vi của mỗi người? Có phải mọi người chỉ nhận hình phạt cho hành vi của riêng mình không?”
Cuối cùng, A Nam cầu xin, “Xin hãy từ bi và giải thích rõ ràng cho chúng con những người chưa hiểu. Bằng cách này, tất cả những ai giữ giới sẽ hiểu lời dạy của Ngài, chấp nhận chúng với niềm vui, và giữ giới cẩn thận hơn mà không phạm sai lầm.”
Phật bảo A Nam, “Thật tuyệt vời khi ông hỏi điều này! Nó ngăn chặn chúng sinh đi vào tà kiến. Bây giờ hãy lắng nghe chăm chú, và ta sẽ giải thích cho ông. A Nam, tất cả chúng sinh thực ra vốn chân thật và thanh tịnh, nhưng vì tà kiến của họ, những thói quen sai lầm nảy sinh. Do đó, họ được chia thành phần trong và phần ngoài. A Nam, phần trong ở bên trong chúng sinh. Vì ái dục và ô nhiễm, những cảm xúc sai lầm nảy sinh. Khi cảm xúc tích tụ không ngừng, chúng có thể sinh ra nước ái dục. Do đó, khi chúng sinh nghĩ đến thức ăn ngon, nước chảy ra từ miệng họ. Khi họ nghĩ đến những người trong quá khứ, hoặc với lòng thương hại hoặc ghét bỏ, nước mắt tràn đầy mắt họ. Khi họ tham lam tìm kiếm kho báu, nước bọt ái dục xuất hiện trong tim họ, và toàn thân họ trở nên bóng loáng. Khi tâm họ đặt vào sắc dục, chất lỏng tự nhiên chảy ra từ cơ quan nam và nữ. A Nam, mặc dù các loại ái dục khác nhau, dòng chảy và sự trói buộc của chúng là giống nhau. Sự ẩm ướt không bay lên; nó tự nhiên rơi xuống. Đây gọi là phần trong.”
Sau khi nghe câu hỏi của A Nam, Phật mỉm cười nhẹ nhõm và nói, “A Nam, ông đã hỏi một câu hỏi rất hay! Câu hỏi này có thể giúp mọi người tránh rơi vào những suy nghĩ sai lầm. Bây giờ, hãy lắng nghe cẩn thận lời giải thích của ta.”
Phật bắt đầu giải thích, “A Nam, tất cả sự sống vốn dĩ thanh tịnh. Nhưng vì họ có những khái niệm sai lầm, những thói quen sai lầm được sinh ra. Những thói quen này có thể được chia thành hai loại: trong và ngoài.”
Phật nói, “Hãy nói về phần trong trước, thuộc về nội tâm của chúng sinh. Vì những ham muốn khác nhau, ảo tưởng nảy sinh. Khi những ảo tưởng này tích tụ, chúng tạo ra thứ mà chúng ta gọi là ‘nước ái dục’.”
Phật giải thích bằng những ví dụ sống động, “Ví dụ, khi chúng ta nghĩ đến thức ăn ngon, miệng chúng ta tiết ra nước bọt. Khi chúng ta nghĩ đến ai đó, chúng ta có thể rơi nước mắt vì yêu hoặc ghét. Khi chúng ta tham lam tìm kiếm kho báu, toàn thân chúng ta trở nên bóng loáng. Khi chúng ta có ham muốn tình dục, cơ thể cũng phản ứng tương ứng. Đây đều là những biểu hiện bên trong.”
“A Nam, phần ngoài ở bên ngoài chúng sinh. Vì những khao khát khác nhau, những vọng tưởng được tạo ra. Khi suy nghĩ tích tụ không ngừng, chúng có thể sinh ra khí thắng. Do đó, khi chúng sinh giữ giới trong tâm, toàn thân họ nhẹ nhàng và trong sáng. Khi họ giữ thần chú và ấn trong tâm, họ trông anh hùng và kiên quyết. Khi tâm họ muốn sinh về cõi trời, họ mơ thấy bay. Khi tâm họ chìm đắm trong cõi Phật, cảnh giới thánh hiền xuất hiện bí mật. Khi họ phụng sự thiện tri thức, họ không màng đến mạng sống của mình. A Nam, mặc dù suy nghĩ khác nhau, sự nhẹ nhàng và nâng cao của chúng là giống nhau. Bay và di chuyển không chìm xuống; chúng tự nhiên vượt lên. Đây gọi là phần ngoài.”
Phật tiếp tục, “Bây giờ hãy nói về phần ngoài, thuộc về bên ngoài của chúng sinh. Vì những khao khát và mong mỏi khác nhau, một số suy nghĩ ảo tưởng được sinh ra. Khi những suy nghĩ này tích tụ, chúng tạo ra thứ mà chúng ta gọi là ‘khí thắng’.”
Phật đưa ra một số ví dụ: “Ví dụ, khi chúng ta kiên trì giữ giới, cơ thể chúng ta cảm thấy nhẹ nhàng. Khi chúng ta tập trung vào tu tập, chúng ta trông tràn đầy năng lượng. Khi chúng ta khao khát cõi trời, chúng ta có thể mơ thấy bay. Khi chúng ta nghĩ đến cõi Phật trong lòng, chúng ta có thể thấy một số cảnh thánh. Khi chúng ta theo thiện tri thức, chúng ta sẵn sàng không màng đến mạng sống của mình. Đây đều là những biểu hiện bên ngoài.”
Phật tóm tắt, “Mặc dù những biểu hiện bên trong và bên ngoài này khác nhau, chúng đều phản ánh trạng thái của tâm chúng ta. Hiểu những điều này có thể giúp chúng ta biết bản thân mình tốt hơn và do đó đạt đến mức độ tu tập cao hơn.”
“A Nam, mọi thứ trong thế gian tiếp tục trong sinh và tử. Sinh đến từ những thói quen tuân thủ, và tử đến từ những dòng chảy thay đổi. Vào thời điểm chết, trước khi sự chạm ấm áp rời đi, tất cả thiện và ác của một đời người xuất hiện cùng một lúc. Hai thói quen chết là nghịch cảnh và sinh là tuân thủ giao nhau. Những người có tư tưởng thanh tịnh sẽ bay lên và chắc chắn được sinh ra ở các cõi trời. Nếu trong tâm trí bay bổng có cả phước báu và trí tuệ, cũng như những lời nguyện thanh tịnh, tâm trí sẽ tự nhiên mở ra và thấy chư Phật mười phương, và họ sẽ tái sinh ở bất kỳ cõi tịnh độ nào như họ mong muốn. Những người ít cảm xúc và nhiều tư tưởng sẽ bay lên nhẹ nhàng nhưng không xa. Họ sẽ trở thành phi hành tiên, quỷ vương đại lực, phi hành dạ xoa, và địa hành la sát. Họ dạo chơi khắp bốn cõi trời mà không bị cản trở. Trong số họ, nếu một số người có lời nguyện tốt và tâm tốt để bảo vệ Pháp của ta, hoặc bảo vệ các cấm giới và theo những người giữ giới, hoặc bảo vệ thần chú linh thiêng và theo những người giữ thần chú, hoặc bảo vệ Thiền Định Tam Muội và bảo vệ sự kiên nhẫn của Pháp, họ sẽ đích thân trú ngụ dưới tòa của Như Lai. Những người có cảm xúc và tư tưởng ngang nhau sẽ không bay cũng không rơi, mà sẽ được sinh ra trong cõi người. Nếu tư tưởng của họ sáng suốt, họ sẽ thông minh; nếu cảm xúc của họ tối tăm, họ sẽ đần độn. Những người nhiều cảm xúc và ít tư tưởng sẽ trôi vào cõi súc sinh. Những người nặng cảm xúc sẽ trở thành động vật có lông, và những người nhẹ cảm xúc sẽ trở thành loài có cánh. Những người có bảy mươi phần trăm cảm xúc và ba mươi phần trăm tư tưởng sẽ chìm xuống dưới bánh xe nước và được sinh ra ở các vùng lửa. Nhận năng lượng của ngọn lửa dữ dội, họ trở thành ngạ quỷ, liên tục bị đốt cháy. Nước làm hại họ, và họ không có gì để ăn hoặc uống trong hàng trăm ngàn kiếp. Những người có chín mươi phần trăm cảm xúc và mười phần trăm tư tưởng sẽ rơi qua bánh xe lửa, và cơ thể họ sẽ đi vào nơi gió và lửa giao nhau. Những người có nghiệp nhẹ sẽ được sinh ra ở Địa Ngục Gián Đoạn, và những người có nghiệp nặng sẽ được sinh ra ở Địa Ngục Vô Gián. Những người có cảm xúc thuần túy sẽ chìm ngay lập tức vào Địa Ngục A Tỳ. Nếu trong tâm trí chìm xuống có sự phỉ báng Đại Thừa, phá hủy các cấm giới của Phật, nói Pháp sai lầm, tham lam cúng dường từ những người trung thành một cách trống rỗng, chấp nhận sự tôn trọng một cách liều lĩnh, năm hành động phản nghịch và mười tội nặng, họ sẽ tái sinh trong Địa Ngục A Tỳ ở mười phương. Mặc dù một người tạo ra nghiệp ác và mang nó vào mình, giữa phần chia sẻ tập thể, cũng có nơi chốn ban đầu.”
Phật tiếp tục giải thích sự bí ẩn của luân hồi cho A Nam, giống như kể một câu chuyện kỳ diệu: “A Nam, vòng sinh tử trong thế giới giống như một bánh xe lớn. Sự sinh ra tuân theo thói quen, và cái chết đi ngược lại dòng chảy.”
Phật ân cần nói, “Hãy tưởng tượng rằng khi một người sắp rời khỏi thế giới này, những việc thiện và ác trong đời người đó sẽ hiện ra trước mắt như một bộ phim. Vào lúc này, sức mạnh của sự sống và sức mạnh của cái chết đan xen trong người đó.”
Phật sau đó mô tả các tình huống khác nhau: “Nếu tâm của một người đầy những tưởng tượng đẹp đẽ, người đó có thể bay lên trời. Nếu người đó không chỉ có những tưởng tượng đẹp đẽ mà còn có phước báu, trí tuệ và những mong ước thanh tịnh, tâm người đó sẽ tự nhiên mở ra, thấy chư Phật mười phương, và có thể tái sinh vào bất kỳ cõi tịnh độ nào như ý muốn.”
“Một số người có trí tưởng tượng mạnh mẽ nhưng vẫn còn một số ham muốn. Họ có thể trở thành phi hành tiên, quỷ vương, hoặc dạ xoa, bay tự do trên trời. Nếu họ có mong muốn bảo vệ Phật Pháp, giữ giới, tụng chú, hoặc tu thiền, họ có thể sống dưới tòa của Phật.”
“Nếu một người có những ham muốn và tưởng tượng không kiểm soát được, người đó sẽ tái sinh làm người. Những người có trí tưởng tượng mạnh mẽ sẽ thông minh, trong khi những người có ham muốn nặng nề sẽ đần độn.”
“Nếu ham muốn nhiều hơn tưởng tượng, người đó có thể trở thành súc sinh. Nếu ham muốn còn nhiều hơn nữa, người đó có thể trở thành ngạ quỷ, thường bị lửa đốt, không thể ăn hoặc uống trong hàng trăm hoặc hàng ngàn năm.”
“Nếu một người đầy ham muốn và không có tưởng tượng, người đó sẽ rơi vào địa ngục khủng khiếp nhất. Đặc biệt là những người phỉ báng Phật Pháp, vi phạm giới luật, và lừa gạt tiền bạc của người khác, họ có thể rơi vào Địa ngục A Tỳ của mười phương.”
Phật kết luận, “Mặc dù số phận của mọi người dường như do chính họ gây ra, thực tế, chúng ta đều sống trong một thế giới chung và ảnh hưởng lẫn nhau.”
“A Nam, tất cả những điều này là do nghiệp của chính những chúng sinh đó gây ra. Họ tạo ra mười nguyên nhân thói quen và nhận sáu quả báo hư ảo. Mười nguyên nhân là gì? A Nam.”
Phật tiếp tục giải thích cho A Nam tại sao con người chịu những đau khổ khác nhau, giống như kể một câu chuyện sâu sắc nhưng gợi mở suy nghĩ.
Phật ân cần nói, “A Nam, mọi đau khổ đều do hành vi của chính chúng sinh gây ra. Có mười thói quen dẫn đến sáu kết quả đau đớn.”
“Thứ nhất là thói quen dâm dục và giao hợp, nảy sinh từ sự cọ xát lẫn nhau và nghiền nát không ngừng. Do đó, một ánh lửa dữ dội lớn được tạo ra bên trong, giống như khi một người cọ xát hai bàn tay vào nhau, hơi ấm xuất hiện. Vì hai thói quen đốt cháy lẫn nhau, nên có những thứ như giường sắt và cột đồng. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào hành vi dâm dục và gọi nó là lửa dục. Các Bồ tát xem ái dục như tránh hầm lửa.”
“Thứ nhất là thói quen dâm dục.” Phật giải thích, “Giống như hai người cọ xát liên tục sẽ sinh ra nhiệt. Thói quen này sẽ thắp lên một ngọn lửa lớn trong tim. Do đó, tất cả chư Phật gọi dâm dục là ‘lửa dục’, và các Bồ tát tránh ái dục giống như tránh hầm lửa.”
“Thứ hai là thói quen tham lam và toan tính, nảy sinh từ sự hút lẫn nhau và hấp thụ không ngừng. Do đó, cái lạnh tích tụ và băng cứng được tạo ra bên trong, đóng băng và nứt nẻ. Nó giống như một người hút gió bằng miệng, và một cảm giác lạnh được tạo ra. Vì hai thói quen xung đột với nhau, nên có những thứ như răng va lập cập, rùng mình, và băng lạnh hoa sen xanh, đỏ, và trắng. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự tìm kiếm quá mức và gọi nó là nước tham. Các Bồ tát xem tham lam như tránh biển chướng khí.”
“Thứ hai là thói quen tham lam.” Phật tiếp tục, “Nó giống như liên tục hút mọi thứ vào. Thói quen này sẽ tạo ra cái lạnh cực độ trong tim, giống như khi con người hút không khí bằng miệng và cảm thấy mát. Do đó, tất cả chư Phật gọi tham lam là ‘nước tham’, và các Bồ tát tránh tham lam giống như tránh biển đầy chướng khí.”
“Thứ ba là thói quen kiêu ngạo và cọ xát, nảy sinh từ sự dựa dẫm lẫn nhau và chảy không ngừng. Do đó, sóng tích tụ được tạo ra như nước. Nó giống như khi lưỡi của một người nếm hương vị, làm cho nước chảy ra. Vì hai thói quen thúc đẩy lẫn nhau, nên có những thứ như sông máu, sông tro, cát nóng, biển độc, và đồng nóng chảy được rót và nuốt. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự kiêu ngạo và gọi nó là uống nước ngu si. Các Bồ tát xem kiêu ngạo như tránh chết đuối trong biển lớn.”
“Thứ ba là thói quen kiêu hãnh.” Phật giải thích, “Giống như nước chảy không ngừng. Thói quen này sẽ tạo ra một trận lụt trong tim, giống như khi lưỡi của một người liếm môi liên tục và tiết ra nước bọt. Do đó, tất cả chư Phật gọi kiêu hãnh là ‘nước ngu si’, và các Bồ tát tránh kiêu hãnh giống như tránh một trận lụt lớn.”
“Thứ tư là thói quen giận dữ và xung đột, nảy sinh từ sự thách thức lẫn nhau và trói buộc không ngừng. Nhiệt của tâm phát ra lửa, đúc kim loại từ khí. Do đó, có những thứ như núi dao, gậy sắt, cây kiếm, bánh xe kiếm, rìu, kích, và giáo. Nó giống như một người giữ mối hận thù và có khí sát sinh bay xung quanh. Vì hai thói quen đánh nhau, nên có những thứ như thiến, chặt, chém, giũa, và đập. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự giận dữ và gọi nó là dao và kiếm sắc bén. Các Bồ tát xem giận dữ như tránh bị hành quyết.”
“Thứ tư là thói quen giận dữ.” Phật nói, “Giống như hai người liên tục xung đột. Thói quen này sẽ thắp lên một ngọn lửa trong tim và biến khí thành kim loại.”
Phật mô tả hậu quả của giận dữ bằng những ẩn dụ sống động: “Những người giận dữ có thể cảm thấy đau đớn như núi dao, cột sắt, cây kiếm, hoặc bánh xe kiếm. Giống như một người nuôi dưỡng lòng oán hận và đầy sát khí. Do đó, tất cả chư Phật gọi giận dữ là ‘kiếm sắc’, và các Bồ tát tránh giận dữ giống như tránh bị hành quyết.”
“Thứ năm là thói quen lừa dối và quyến rũ, nảy sinh từ sự thao túng lẫn nhau và thu hút không ngừng. Do đó, có những thứ như dây thừng, gỗ, ép, và kiểm tra. Nó giống như nước ngâm ruộng, làm cho cỏ và cây phát triển. Vì hai thói quen mở rộng lẫn nhau, nên có những thứ như còng tay, xiềng xích, gông, khóa, roi, gậy, dùi cui, và gậy tày. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự lừa dối và gọi nó là kẻ trộm phỉ báng. Các Bồ tát xem lừa dối như sợ chó sói.”
“Thứ năm là thói quen lừa dối.” Phật tiếp tục, “Giống như liên tục quyến rũ người khác. Thói quen này làm cho người ta cảm thấy đau đớn như bị trói bằng dây thừng. Giống như nước ngâm ruộng, cỏ và cây sẽ mọc lên.”
Phật giải thích, “Những kẻ lừa dối có thể cảm thấy đau đớn như bị xiềng xích hoặc bị roi vọt. Do đó, tất cả chư Phật gọi lừa dối là ‘kẻ trộm phỉ báng’, và các Bồ tát sợ lừa dối giống như sợ một bầy sói.”
“Thứ sáu là thói quen nói dối và gian lận, nảy sinh từ sự vu khống lẫn nhau và buộc tội không ngừng. Tâm bay nhảy và tạo ra cái ác. Do đó, có những thứ như bụi, đất, phân, nước tiểu, rác rưởi, và sự bất tịnh. Nó giống như bụi bay trong gió, và không thể nhìn thấy gì. Vì hai thói quen thêm vào nhau, nên có những thứ như chìm, chết đuối, tung, ném, bay, rơi, và trôi nổi. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự gian lận và gọi nó là cướp và giết. Các Bồ tát xem gian lận như giẫm phải rắn độc.”
“Thứ sáu là thói quen gian lận.” Phật nói, “Giống như liên tục vu khống người khác. Thói quen này làm cho người ta cảm thấy đau đớn như bị bao phủ bởi bụi bẩn và rác rưởi. Giống như bụi bay trong gió, mất phương hướng.”
Phật tóm tắt, “Những người gian lận có thể cảm thấy đau đớn như bị chìm hoặc rơi xuống. Do đó, tất cả chư Phật gọi gian lận là ‘cướp và giết’, và các Bồ tát sợ gian lận giống như giẫm phải rắn độc.”
“Thứ bảy là thói quen oán giận và nghi ngờ, nảy sinh từ sự thù hận lẫn nhau. Do đó, có những thứ như đá bay, ném sỏi, tráp, lồng, lồng xe, hũ, và túi. Nó giống như một người có chất độc tiềm ẩn chứa chấp cái ác. Vì hai thói quen nuốt chửng lẫn nhau, nên có những thứ như ném, tung, bắt, tóm, đánh, bắn, và kéo. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự oán giận và gọi nó là tinh linh vi phạm. Các Bồ tát xem oán giận như uống rượu độc.”
“Thứ bảy là thói quen oán giận.” Phật ân cần nói, “Giống như chứa chấp hận thù trong lòng. Thói quen này làm cho người ta cảm thấy đau đớn như bị ném đá, nhốt trong hộp, hoặc bỏ vào hũ.”
Phật giải thích, “Giống như một kẻ độc ác, những người oán giận có thể cảm thấy đau đớn như bị ném, bắt, hoặc bắn. Do đó, tất cả chư Phật gọi oán giận là ‘tinh linh vi phạm’, và các Bồ tát sợ oán giận giống như uống rượu độc.”
“Thứ tám là thói quen về quan điểm và hiểu biết, chẳng hạn như quan điểm về nhân cách, quan điểm về giới luật và cấm giới, và quan điểm về giác ngộ lệch lạc. Nó nảy sinh từ sự đối lập lẫn nhau và sinh ra trong sự đối lập. Do đó, có những thứ như sứ giả của vua, chủ nhân, quan lại, lời chứng thực, và tài liệu. Nó giống như mọi người gặp nhau trên đường. Vì hai thói quen giao nhau, nên có những thứ như thẩm vấn, tra hỏi, gian xảo, kiểm tra, điều tra, phơi bày, chiếu sáng, và những đứa trẻ thiện và ác cầm tài liệu và tranh luận. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào tà kiến và gọi chúng là hố quan điểm. Các Bồ tát xem tà kiến như đi vào hẻm núi độc.”
“Thứ tám là thói quen tà kiến.” Phật tiếp tục, “Giống như khăng khăng vào những quan điểm sai lầm hoặc hiểu sai các phương pháp tu tập. Thói quen này làm cho người ta cảm thấy đau đớn như bị tra hỏi hoặc điều tra.”
Phật mô tả bằng một ẩn dụ sống động, “Giống như những người lạ nhìn nhau trên đường, những người có tà kiến có thể cảm thấy đau đớn như bị tra hỏi hoặc thẩm vấn. Do đó, tất cả chư Phật gọi tà kiến là ‘hố quan điểm’, và các Bồ tát sợ tà kiến giống như rơi vào đầm lầy độc.”
“Thứ chín là thói quen bất công và vu khống, nảy sinh từ sự phỉ báng lẫn nhau. Do đó, có những thứ như kết hợp núi, kết hợp đá, cối xay, và cày. Nó giống như một tên trộm phỉ báng ép buộc một người vô tội. Vì hai thói quen loại trừ lẫn nhau, nên có những thứ như ép, đẩy, đập, nén, vắt, và lọc. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự bất công và gọi nó là hổ phỉ báng. Các Bồ tát xem bất công như bị sét đánh.”
“Thứ chín là thói quen bất công.” Phật nói, “Giống như liên tục vu khống người khác. Thói quen này làm cho người ta cảm thấy đau đớn như bị núi hoặc đá đè, hoặc bị nghiền nát.”
Phật tóm tắt, “Giống như một kẻ ác vu khống người tốt, những người vu khống người khác có thể cảm thấy đau đớn như bị vắt hoặc nghiền nát. Do đó, tất cả chư Phật gọi bất công là ‘hổ phỉ báng’, và các Bồ tát sợ bất công giống như bị sét đánh.”
“Thứ mười là thói quen kiện tụng và tranh chấp, nảy sinh từ sự che đậy lẫn nhau. Do đó, có những thứ như gương, chiếu sáng, và nến. Nó giống như ở dưới ánh mặt trời và không thể che giấu cái bóng của mình. Do đó, có những bạn ác, gương nghiệp, hạt châu lửa, sự phơi bày nghiệp quá khứ, và sự xác minh. Do đó, tất cả các Như Lai mười phương nhìn vào sự che đậy và gọi nó là kẻ trộm ẩn giấu. Các Bồ tát xem sự che đậy như mang một ngọn núi cao để che lấp biển lớn.”
“Thứ mười là thói quen kiện tụng.” Phật ân cần nói, “Giống như luôn cố gắng che giấu lỗi lầm của mình. Thói quen này làm cho người ta cảm thấy đau đớn như bị chiếu sáng bởi ánh sáng chói lọi, không có nơi nào để trốn.”
Phật giải thích, “Giống như một cái bóng không thể bị che giấu dưới ánh mặt trời, những người kiện tụng và tranh chấp có thể cảm thấy nỗi đau của những việc làm trong quá khứ của họ bị phơi bày. Do đó, tất cả chư Phật gọi việc che đậy lỗi lầm của mình là ‘kẻ trộm ẩn giấu’, và các Bồ tát xem việc che đậy lỗi lầm khó khăn như mang một ngọn núi cao để che lấp biển lớn.”
“Sáu quả báo là gì? A Nam, tất cả chúng sinh tạo nghiệp với sáu thức của họ, và những quả báo ác mà họ chiêu cảm đến từ sáu căn. Tại sao những quả báo ác đến từ sáu căn?”
Sau đó, Phật bắt đầu giải thích sáu loại quả báo: “A Nam, tất cả chúng sinh tạo nghiệp với sáu giác quan của họ, điều này sẽ chiêu cảm sáu loại quả báo ác.”
“Thứ nhất là quả báo của cái nhìn, chiêu cảm kết quả ác. Khi nghiệp của cái nhìn đan xen, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy một ngọn lửa dữ dội lấp đầy mười phương. Linh hồn người chết bay và rơi xuống, cưỡi trên khói, và đi vào Địa ngục Vô gián. Hai hiện tượng được tạo ra. Một là cái nhìn rõ ràng, trong đó người ta có thể thấy tất cả các loại điều ác và sinh ra nỗi sợ hãi vô biên. Hai là cái nhìn tối tăm, trong đó người ta không thấy gì trong sự tĩnh lặng và sinh ra nỗi kinh hoàng vô biên. Do đó, ngọn lửa của cái nhìn đốt cháy thính giác và có thể trở thành vạc súp và đồng nóng chảy; nó đốt cháy hơi thở và có thể trở thành khói đen và ngọn lửa tím; nó đốt cháy vị giác và có thể trở thành viên đạn cháy và cháo sắt; nó đốt cháy xúc giác và có thể trở thành tro nóng và than hồng; nó đốt cháy tâm trí và có thể tạo ra tia lửa phân tán và quạt các cõi hư không.”
“Thứ nhất là quả báo của thị giác.” Phật nói, “Khi một người đang chết, người đó có thể thấy một ngọn lửa dữ dội lấp đầy cả thế giới. Linh hồn người đó sẽ rơi vào địa ngục cùng với khói, trải qua hai tình huống: hoặc thấy những điều khủng khiếp và cảm thấy sợ hãi, hoặc không thấy gì và cảm thấy hoảng loạn. Ngọn lửa này sẽ ảnh hưởng đến các giác quan khác, làm cho người ta cảm thấy những đau đớn khác nhau.”
“Thứ hai là quả báo của thính giác, chiêu cảm kết quả ác. Khi nghiệp của thính giác đan xen, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy những con sóng lớn nhấn chìm trời và đất. Linh hồn người chết đổ xuống cưỡi trên dòng chảy và đi vào Địa ngục Vô gián. Hai hiện tượng được tạo ra. Một là thính giác mở, trong đó người ta nghe thấy tất cả các loại tiếng ồn và trở nên bối rối trong tinh thần. Hai là thính giác đóng, trong đó người ta không nghe thấy gì trong sự tĩnh lặng và linh hồn tối tăm chìm xuống. Do đó, những con sóng của thính giác đổ vào thính giác và có thể trở thành sự đổ lỗi và thẩm vấn; chúng đổ vào thị giác và có thể trở thành sấm sét, tiếng gầm, và khí độc; chúng đổ vào hơi thở và có thể trở thành mưa và sương mù, rắc tất cả các loại côn trùng độc lấp đầy cơ thể; chúng đổ vào vị giác và có thể trở thành mủ, máu, và tất cả các loại rác rưởi; chúng đổ vào xúc giác và có thể trở thành động vật, ma quỷ, phân, và nước tiểu; chúng đổ vào tâm trí và có thể trở thành sét và mưa đá, nghiền nát tim và linh hồn.”
“Thứ hai là quả báo của thính giác.” Phật tiếp tục, “Vào lúc chết, người này có thể thấy những con sóng lớn làm ngập lụt thế giới. Linh hồn người đó sẽ rơi vào địa ngục cùng với dòng nước, và cũng sẽ trải qua hai tình huống: hoặc nghe thấy những tiếng ồn khác nhau và cảm thấy bối rối, hoặc không nghe thấy gì và cảm thấy chìm xuống. Âm thanh này sẽ ảnh hưởng đến các giác quan khác, làm cho người ta cảm thấy những đau đớn khác nhau.”
“Thứ ba là quả báo của khứu giác, chiêu cảm kết quả ác. Khi nghiệp của khứu giác đan xen, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy khí độc lấp đầy gần xa. Linh hồn người chết phun ra từ mặt đất và đi vào Địa ngục Vô gián. Hai hiện tượng được tạo ra. Một là khứu giác lan tỏa, trong đó người ta bị hun bởi tất cả các loại khí ác và tâm trí cực kỳ xáo trộn. Hai là khứu giác bị chặn, trong đó khí bao phủ và không đi qua, và người ta ngạt thở trên mặt đất. Do đó, mùi khí lao vào hơi thở và có thể trở thành vật chất và dép xăng đan; nó lao vào thị giác và có thể trở thành lửa và đuốc; nó lao vào thính giác và có thể trở thành chìm, chết đuối, đại dương, và sôi sục; nó lao vào vị giác và có thể trở thành hôi thối và mục nát; nó lao vào xúc giác và có thể trở thành bị xé rách, mục nát, và những ngọn núi thịt lớn, với hàng trăm ngàn con mắt và vô số cái miệng đang ăn; nó lao vào suy nghĩ và có thể trở thành tro và chướng khí, và cát bay sỏi đá tấn công và phá vỡ cơ thể.”
“Thứ ba là quả báo của mùi.” Phật ân cần nói, “Khi một người đang chết, người đó có thể thấy khí độc lấp đầy xung quanh. Linh hồn người đó sẽ phun ra từ mặt đất và đi vào địa ngục, trải qua hai tình huống: hoặc ngửi thấy những mùi khủng khiếp khác nhau và cảm thấy khó chịu, hoặc không thể thở được chút nào và ngất xỉu trên mặt đất. Mùi này sẽ ảnh hưởng đến các giác quan khác, làm cho người ta cảm thấy những đau đớn khác nhau.”
“Thứ tư là quả báo của vị giác, chiêu cảm kết quả ác. Khi nghiệp của vị giác đan xen, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy một tấm lưới sắt với ngọn lửa dữ dội bao phủ thế giới. Linh hồn người chết đi xuống qua tấm lưới treo, treo ngược, và đi vào Địa ngục Vô gián. Hai hiện tượng được tạo ra. Một là hít vào hơi thở, tạo thành băng lạnh làm đóng băng và nứt cơ thể và thịt. Hai là thở ra hơi thở, bay và trở thành lửa dữ dội làm cháy xém và mục nát xương và tủy. Do đó, việc nếm hương vị đi qua vị giác và có thể trở thành chịu đựng và nhẫn nại; nó đi qua thị giác và có thể trở thành kim loại và đá đang cháy; nó đi qua thính giác và có thể trở thành vũ khí sắc bén; nó đi qua hơi thở và có thể trở thành một cái lồng sắt lớn bao phủ đất đai; nó đi qua xúc giác và có thể trở thành cung, tên, nỏ, và bắn; nó đi qua suy nghĩ và có thể trở thành sắt nóng bay mưa xuống từ bầu trời.”
“Thứ tư là quả báo của vị giác.” Phật tiếp tục, “Vào lúc chết, người này có thể thấy một tấm lưới sắt đang cháy bao phủ cả thế giới. Linh hồn người đó sẽ bị treo ngược trên tấm lưới và đi vào địa ngục, và cũng sẽ trải qua hai tình huống: hoặc hít vào không khí lạnh và đóng băng cả cơ thể, hoặc thở ra không khí biến thành lửa dữ dội đốt cháy tủy xương. Vị giác này sẽ ảnh hưởng đến các giác quan khác, làm cho người ta cảm thấy những đau đớn khác nhau.”
“Thứ năm là quả báo của xúc giác, chiêu cảm kết quả ác. Khi nghiệp của xúc giác đan xen, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy những ngọn núi lớn từ bốn phía ép lại, không có lối thoát. Linh hồn người chết thấy một thành phố sắt lớn, rắn lửa, chó lửa, hổ, sói, sư tử, ngục tốt đầu trâu, và la sát đầu ngựa, cầm giáo và mác lùa người đó vào cổng thành. Người đó tiến về phía Địa ngục Vô gián, và hai hiện tượng được tạo ra. Một là xúc giác kết hợp, trong đó những ngọn núi kết hợp ép cơ thể và thịt, xương, và máu sụp đổ. Hai là xúc giác tách rời, trong đó dao và kiếm chạm vào cơ thể và tim gan bị tàn sát và nứt nẻ. Do đó, sự kết hợp của xúc giác đi qua xúc giác và có thể trở thành con đường, quang cảnh, sảnh đường, và vụ án; nó đi qua thị giác và có thể trở thành đốt cháy và thiêu đốt; nó đi qua thính giác và có thể trở thành va chạm, đánh đập, nhuốm màu, và bắn; nó đi qua hơi thở và có thể trở thành trói buộc, đóng bao, tra tấn, và buộc; nó đi qua vị giác và có thể trở thành cày, véo, chặt, và cắt; nó đi qua suy nghĩ và có thể trở thành rơi, bay, chiên, và nướng.”
“Thứ năm là quả báo của xúc giác.” Phật nói, “Vào lúc chết, người này có thể thấy núi ở mọi phía, không có lối thoát. Người đó sẽ thấy một thành phố sắt khổng lồ với những ngục tốt và thú dữ khủng khiếp bên trong. Sau khi vào địa ngục, người đó sẽ trải qua hai tình huống: hoặc bị núi đè, hoặc bị kiếm cắt. Xúc giác này sẽ ảnh hưởng đến các giác quan khác, làm cho người ta cảm thấy những đau đớn khác nhau.”
Phật mô tả những quả báo này bằng những ẩn dụ sống động: “Giống như bị đốt, bị đánh, bị cắt, bị trói, bị nghiền nát, những nỗi đau này sẽ tra tấn thể xác và tinh thần theo nhiều cách khác nhau.”
“Thứ sáu là quả báo của suy nghĩ, chiêu cảm kết quả ác. Khi nghiệp của suy nghĩ đan xen, vào lúc chết, người ta trước tiên thấy một cơn gió ác thổi và phá hủy đất đai. Linh hồn người chết bị thổi lên trời, xoay tròn và rơi xuống cưỡi gió, và rơi vào Địa ngục Vô gián. Hai hiện tượng được tạo ra. Một là không nhận thức, trong đó người ta trở nên cực kỳ bối rối và chạy quanh không ngừng. Hai là không bối rối, trong đó người ta nhận thức và chịu đựng sự chiên và đốt vô lượng, với nỗi đau sâu sắc khó chịu đựng. Do đó, suy nghĩ ác thắt nút suy nghĩ và có thể trở thành phương hướng và địa điểm; nó thắt nút thị giác và có thể trở thành gương và bằng chứng; nó thắt nút thính giác và có thể trở thành đá nghiền lớn, băng, sương giá, bụi, và sương mù; nó thắt nút hơi thở và có thể trở thành xe lửa lớn, thuyền lửa, và lồng lửa; nó thắt nút vị giác và có thể trở thành tiếng la hét lớn, hối tiếc, và khóc lóc; nó thắt nút xúc giác và có thể trở thành mở rộng và co lại, trải qua vạn lần sinh và vạn lần tử trong một ngày, nằm sấp và nằm ngửa.”
“A Nam, nghiệp ác thứ sáu là chứa chấp oán giận, điều này sẽ chiêu cảm quả báo khủng khiếp. Khi một người rời khỏi thế giới với loại suy nghĩ này, người đó sẽ trải qua một số cảnh tượng khủng khiếp.”
Phật mô tả, “Vào lúc chết, người này trước tiên sẽ thấy một cơn gió ác phá hủy toàn bộ đất đai. Linh hồn người đó sẽ bị thổi vào không trung, và sau đó rơi cùng với gió trực tiếp vào Địa ngục Vô gián. Ở đó, người đó sẽ gặp hai tình huống.”
“Tình huống thứ nhất là người đó sẽ rơi vào sự bối rối cực độ, chạy quanh như điên.”
“Tình huống thứ hai là mặc dù người đó không bối rối, nhưng phải chịu đựng sự đau khổ và tra tấn không thể chịu đựng được.”
Phật tiếp tục giải thích, “Những suy nghĩ ác này sẽ dẫn đến những trải nghiệm đau đớn khác nhau. Ví dụ, bám chấp vào một suy nghĩ có thể làm cho người ta cảm thấy bị mắc kẹt ở một nơi. Bám chấp vào một quan điểm có thể làm cho người ta cảm thấy bị phán xét. Bám chấp vào thính giác có thể làm cho người ta cảm thấy bị đè bẹp bởi những tảng đá khổng lồ, hoặc bị bao quanh bởi băng, sương giá, đất, hoặc sương mù.”
“Bám chấp vào hơi thở có thể làm cho người ta cảm thấy bị đốt cháy bởi xe lửa, thuyền lửa, hoặc lồng lửa. Bám chấp vào vị giác có thể làm cho người ta khóc, hối tiếc, và khóc lóc không ngừng. Bám chấp vào xúc giác có thể làm cho người ta cảm thấy cơ thể mở rộng và co lại, hoặc trải qua vô số lần sinh và tử trong một ngày.”
“A Nam, đây được gọi là mười nguyên nhân và sáu quả báo của địa ngục. Tất cả chúng đều được tạo ra bởi sự bối rối và ảo tưởng của chúng sinh. Nếu chúng sinh tạo nghiệp ác hoàn toàn, họ sẽ vào Địa ngục A Tỳ và chịu đựng nỗi đau vô lượng trong vô số kiếp. Nếu sáu giác quan mỗi cái tạo nghiệp, và những gì họ làm liên quan đến cả trạng thái và gốc rễ, người đó sẽ vào Tám Địa ngục Vô gián. Nếu thân, miệng, và ý đều phạm tội giết người, trộm cắp, và dâm dục, người đó sẽ vào Mười tám Địa ngục. Nếu ba nghiệp không trọn vẹn, và có lẽ ở giữa người ta phạm tội giết người hoặc trộm cắp, người đó sẽ vào Ba mươi sáu Địa ngục. Nếu chỉ có một giác quan phạm một nghiệp, người đó sẽ vào Một trăm lẻ tám Địa ngục. Vì chúng sinh tạo nghiệp riêng biệt, họ vào cùng một số phận trong thế giới. Vọng tưởng sinh khởi và vốn dĩ không tồn tại.”
Phật kết luận, “A Nam, đây là mười nguyên nhân và sáu kết quả của địa ngục. Tất cả những điều này được tạo ra bởi chúng sinh do sự bối rối. Nếu ai đó phạm nghiệp ác nặng nề, họ sẽ rơi vào Địa ngục A Tỳ, nơi họ sẽ chịu đựng nỗi đau vô lượng trong vô số kiếp.”
“Nếu tất cả sáu giác quan đều phạm nghiệp ác, người này sẽ rơi vào tám Địa ngục Vô gián. Nếu thân, miệng, và ý đều phạm tội giết người, trộm cắp, và tà dâm, họ sẽ rơi vào mười tám địa ngục. Nếu chỉ là một hoặc hai loại nghiệp ác, họ có thể rơi vào ba mươi sáu địa ngục. Nếu chỉ có một giác quan phạm một loại nghiệp ác, họ có thể rơi vào một trăm lẻ tám địa ngục.”
Phật cuối cùng nói, “Chúng sinh tạo nghiệp khác nhau và vào các địa ngục tương ứng trong thế giới. Những trạng thái đau đớn này được sinh ra từ ảo tưởng và vốn dĩ không tồn tại.”
“Hơn nữa, A Nam, nếu những chúng sinh này không phá vỡ các quy tắc ứng xử, nhưng vi phạm giới Bồ Tát và phỉ báng Niết bàn của Phật, trải qua vô số kiếp bị đốt cháy vì các nghiệp tạp nham khác, sau khi trả hết tội lỗi, họ nhận hình thù của ma quỷ. Nếu nguyên nhân ban đầu là tham lam vật chất, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp vật chất và được gọi là quái quỷ. Nếu là tham lam dâm dục, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp gió và được gọi là hạn quỷ. Nếu là tham lam lừa dối, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp động vật và được gọi là mị quỷ. Nếu là tham lam hận thù, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp sâu bọ và được gọi là cổ độc quỷ. Nếu là tham lam oán giận, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp sự thoái hóa và được gọi là dịch lệ quỷ. Nếu là tham lam kiêu ngạo, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp khí và được gọi là ngạ quỷ. Nếu là tham lam vu khống, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp bóng tối và được gọi là yểm mộng quỷ. Nếu là tham lam kiến thức và ánh sáng, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp tinh khí và được gọi là võng lượng quỷ. Nếu là tham lam sự hoàn thành, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp ánh sáng và được gọi là dịch sử quỷ. Nếu là tham lam bè phái, khi tội lỗi của người đó được trả hết, người đó sẽ thành hình khi gặp con người và được gọi là sứ giả quỷ. A Nam, những người này đều sa ngã do tình cảm thuần túy. Lửa nghiệp đốt cháy họ khô khốc, và họ trỗi dậy thành ma. Những điều này đều do vọng tưởng và nghiệp của chính họ chiêu cảm. Nếu họ thức tỉnh với Bồ Đề, thì ánh sáng hoàn hảo tuyệt diệu vốn dĩ không tồn tại.”
Phật tiếp tục giải thích sự bí ẩn của nghiệp và quả báo cho A Nam: “A Nam, có một số chúng sinh, mặc dù họ không phá giới đến mức nghiêm trọng hoặc phỉ báng Phật Pháp, nhưng vẫn phải chịu đựng sự đau khổ lâu dài trong địa ngục vì nhiều nghiệp tạp nham khác nhau. Khi nghiệp tội của họ cuối cùng được trả hết, họ sẽ tái sinh thành nhiều loại ma quỷ khác nhau.”
Phật sau đó giải thích chi tiết loại hình thù ma quỷ nào mà những nghiệp tội khác nhau sẽ dẫn đến:
“Nếu một người phạm tội vì tham lam của cải, sau khi trả hết tội, người đó có thể trở thành một loại ma gọi là ‘Quái Quỷ’ (Bạt Quỷ), xuất hiện bất cứ khi nào gặp tài sản.”
“Nếu người đó phạm tội vì dâm dục, sau khi trả hết tội, người đó có thể trở thành ‘Hạn Quỷ’ (Mị Quỷ), xuất hiện bất cứ khi nào gặp gió.”
“Nếu người đó phạm tội vì tham lam lừa dối người khác, sau khi trả hết tội, người đó có thể trở thành một loại ‘Mị Quỷ’ khác, xuất hiện bất cứ khi nào gặp động vật.”
“Nếu người đó phạm tội vì hận thù, sau khi trả hết tội, người đó có thể trở thành ‘Cổ Độc Quỷ’, xuất hiện bất cứ khi nào gặp côn trùng.”
“Nếu người đó phạm tội vì bám chấp vào ký ức, sau khi trả hết tội, người đó có thể trở thành ‘Dịch Lệ Quỷ’, xuất hiện bất cứ khi nào gặp sự mục nát.”
“Nếu người đó phạm tội vì kiêu ngạo, sau khi trả hết tội, người đó có thể trở thành ‘Ngạ Quỷ’, xuất hiện bất cứ khi nào gặp khí.”
Phật tiếp tục, “Cũng có một số người có thể trở thành Yểm Mộng Quỷ, Võng Lượng Quỷ, Dịch Sử Quỷ, hoặc Sứ Giả Quỷ. Tất cả những điều này là kết quả do những loại tham lam khác nhau gây ra.”
Cuối cùng, Phật tóm tắt, “A Nam, những người này sa ngã vì sự bám chấp tình cảm thuần túy. Lửa nghiệp của họ đốt cháy họ khô khốc, và cuối cùng họ trỗi dậy thành ma. Tất cả những điều này đều do ảo tưởng và nghiệp của chính họ chiêu cảm.”
Phật từ bi nói, “Nhưng nếu họ có thể nhận ra chân lý của Bồ Đề, họ sẽ hiểu rằng tất cả điều này vốn dĩ là không.”
“Hơn nữa, A Nam, khi nghiệp của ma kết thúc, cả tình cảm và suy nghĩ đều trở nên trống rỗng. Sau đó trong thế giới, họ gặp những người mà họ vốn mang nợ hoặc có oán hận, và họ sinh ra làm động vật để trả nợ cũ. Quái quỷ, khi quả báo về vật chất của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là cú. Hạn quỷ, khi quả báo về gió của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là thú dữ thuộc loại kỳ lạ. Mị quỷ, khi quả báo về động vật của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là cáo. Cổ độc quỷ, khi quả báo về sâu bọ của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài có độc. Dịch lệ quỷ, khi quả báo về sự mục nát của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là sán dây. Ngạ quỷ, khi quả báo về khí của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài ăn được. Yểm mộng quỷ, khi quả báo về bóng tối của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài sản xuất tơ. Võng lượng quỷ, khi quả báo về tinh khí của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài phản ứng. Dịch sử quỷ, khi quả báo về ánh sáng của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài kiết tường. Sứ giả quỷ, khi quả báo về con người của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là người đi theo. A Nam, tất cả những loài này đều bị lửa nghiệp đốt khô và sinh ra làm động vật để trả nợ cũ. Những điều này cũng đều do nghiệp giả dối của chính họ chiêu cảm. Nếu họ thức tỉnh với Bồ Đề, thì những điều kiện giả dối này vốn dĩ không tồn tại. Như ngươi đã nói, Bảo Liên Hương và những người khác, và Vua Lưu Ly và Tỳ kheo Thiện Tinh, nghiệp ác như vậy vốn dĩ tự phát sinh. Nó không rơi từ trên trời xuống, cũng không chui từ dưới đất lên, cũng không phải do người khác ban cho. Nó được chiêu cảm bởi sự giả dối của chính mình và do chính mình nhận lấy. Trong tâm Bồ Đề, chúng đều là những vọng tưởng trôi nổi và sự đông đặc.”
Phật tiếp tục giải thích sự bí ẩn của luân hồi cho A Nam: “A Nam, khi nghiệp của cõi ma kết thúc, tình cảm và trí tưởng tượng của những chúng sinh này sẽ trở nên trống rỗng. Họ sẽ gặp những người mà họ từng mắc nợ hoặc giữ mối hận thù trong thế giới, và để trả nợ cũ, họ sẽ tái sinh thành động vật.”
Phật sau đó giải thích chi tiết tình hình của các loại ma khác nhau sau khi tái sinh:
“Những người bám chấp vào vật chất, khi quả báo kết thúc, chủ yếu tái sinh thành động vật sống về đêm như cú.”
“Những người là gió quỷ, khi quả báo kết thúc, chủ yếu tái sinh thành những sinh vật kỳ lạ được coi là điềm gở.”
“Mị quỷ, khi quả báo về động vật của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là cáo.”
“Cổ độc quỷ, khi quả báo về sâu bọ của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài có độc.”
“Dịch lệ quỷ, khi quả báo về sự mục nát của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là sán dây.”
“Ngạ quỷ, khi quả báo về khí của họ bị dập tắt, sinh ra trong thế giới chủ yếu là loài ăn được.”
Phật tiếp tục giải thích, “Cũng có một số ma quỷ sẽ tái sinh thành nhiều sinh vật khác nhau, một số trở thành vật người ta mặc, một số trở thành vật phản ứng, một số trở thành điềm lành, và một số trở thành sinh vật chu kỳ.”
Phật tóm tắt, “A Nam, những chúng sinh này tái sinh làm động vật để trả nợ cũ vì phước báu của họ đã bị lửa nghiệp đốt khô. Tất cả điều này được chiêu cảm bởi hành vi giả dối của chính họ.”
Phật từ bi nói, “Tuy nhiên, nếu họ có thể nhận ra chân lý của Bồ Đề, họ sẽ hiểu rằng những nguyên nhân giả dối này vốn dĩ không tồn tại.”
Cuối cùng, Phật nhắc nhở A Nam, “Giống như các ví dụ về Bảo Liên Hương, Vua Lưu Ly, và Tỳ kheo Thiện Tinh mà ngươi đã đề cập, những nghiệp ác này là do chính mình tạo ra, không rơi từ trên trời xuống, cũng không chui từ dưới đất lên, cũng không do người khác áp đặt. Chúng do chính mình chiêu cảm, và tự nhiên chính mình phải gánh chịu hậu quả. Trong tâm Bồ Đề, những điều này đều được hình thành bởi trí tưởng tượng giả dối trôi nổi.”
“Hơn nữa, A Nam, chính từ việc làm động vật mà họ trả lại những món nợ trước đây của mình. Nếu khoản trả vượt quá món nợ, những chúng sinh như vậy trở lại làm người để đòi phần thừa. Nếu người đó là người có quyền lực và phước báu, thì ngay cả khi ở cõi người, người đó sẽ không mất thân người để trả lại phần dư. Nếu người đó không có phước báu, người đó trở lại làm động vật để trả lại giá trị còn lại. A Nam, ngươi nên biết rằng nếu nợ được trả bằng tiền, vật chất, hoặc lao động, việc trả nợ dừng lại khi nó đủ. Nhưng nếu trong quá trình đó, người này giết thân thể người kia hoặc ăn thịt người kia, thì ngay cả khi trải qua số kiếp nhiều như hạt bụi, họ sẽ ăn và giết lẫn nhau như một bánh xe quay. Không có kết thúc cho sự trỗi dậy và sa ngã lẫn nhau của họ, trừ khi họ gặp Samatha hoặc một vị Phật xuất hiện trên thế giới.”
Phật tiếp tục giải thích sự bí ẩn của nghiệp và luân hồi cho A Nam: “A Nam, khi những chúng sinh này tái sinh làm động vật để trả nợ cũ, nếu họ trả nhiều hơn món nợ ban đầu, họ có cơ hội tái sinh làm người một lần nữa, nhưng họ vẫn phải tiếp tục trả món nợ còn lại.”
Phật giải thích thêm, “Nếu những chúng sinh này có cả quyền lực và phước báu, họ có thể giữ thân người để trả món nợ còn lại. Nhưng nếu họ không có phước báu, họ có thể phải tái sinh làm động vật một lần nữa để trả nợ.”
Phật nói, “Ngươi nên biết rằng nếu ai đó trả bằng tiền hoặc lao động, nó sẽ dừng lại khi đã trả hết. Nhưng nếu trong quá trình trả nợ, người này giết người kia hoặc ăn thịt họ, chu kỳ giết chóc và ăn thịt lẫn nhau này có thể tiếp tục trong vô số kiếp. Trừ khi gặp một người thực hành Samatha hoặc một vị Phật xuất hiện trên thế giới, chu kỳ này rất khó dừng lại.”
“Bây giờ ngươi nên biết rằng khi những con cú đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người bướng bỉnh. Khi những con thú điềm gở đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người ngu ngốc. Khi những con cáo đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người quanh co. Khi các loài có độc đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người ác độc. Khi sán dây đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người hèn hạ. Khi các loài ăn được đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người yếu đuối. Khi các vật dụng quần áo đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người lao động. Khi các loài phản ứng đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người biết chữ. Khi các loài điềm lành đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người thông minh. Khi các loài chu kỳ đã trả xong nợ và lấy lại hình dạng, chúng được sinh ra trong loài người giữa những người hiểu biết. A Nam, tất cả những loài này đã trả xong nợ cũ và lấy lại hình dạng trong loài người. Tất cả họ đã tham gia vào nghiệp đảo ngược giết chóc lẫn nhau từ vô thủy. Không gặp Như Lai và không nghe Chánh Pháp, họ xoay chuyển trong bụi trần mệt mỏi theo quy luật của sự vật. Những người này được gọi là đáng thương.”
Sau đó, Phật giải thích chi tiết về đặc điểm của các loại động vật khác nhau khi chúng tái sinh làm người sau khi trả nợ:
“Những người từng là cú có thể trở nên bướng bỉnh sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là điềm gở có thể trở nên ngu ngốc sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là cáo có thể trở nên xảo quyệt sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là sinh vật có độc có thể trở nên bình thường sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là ký sinh trùng có thể trở nên tầm thường sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là động vật ăn được có thể trở nên yếu đuối sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là vật dụng người ta mặc có thể trở nên chăm chỉ sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là vật phản ứng có thể trở nên có văn hóa sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là điềm lành có thể trở nên thông minh sau khi tái sinh làm người.”
“Những người từng là sinh vật chu kỳ có thể trở nên hiểu biết sau khi tái sinh làm người.”
Phật cuối cùng kết luận, “A Nam, những chúng sinh này tái sinh làm người vì họ đã trả xong nợ cũ. Nhưng bị thúc đẩy bởi nghiệp từ vô thủy, họ liên tục làm hại và giết lẫn nhau. Nếu họ không gặp Phật hoặc nghe Chánh Pháp, họ sẽ luân hồi vô tận trong bụi trần. Những chúng sinh này thực sự đáng được cảm thông và thương xót.”
“A Nam, cũng có những người không tu tập Tam Muội theo Chánh Giác. Họ tu tập những ý nghĩ sai lầm một cách riêng biệt và làm rắn chắc hình thức của họ, lang thang trong núi và rừng. Giống như những nơi người ta không đến, có mười loại tiên. A Nam, những chúng sinh này kiên quyết ăn những mồi đặc biệt không nghỉ ngơi, và khi đạo ăn uống được hoàn thiện, họ được gọi là địa hành tiên. Họ kiên quyết ăn cỏ và gỗ không nghỉ ngơi, và khi đạo thuốc được hoàn thiện, họ được gọi là phi hành tiên. Họ kiên quyết ăn kim loại và đá không nghỉ ngơi, và khi đạo biến hóa được hoàn thiện, họ được gọi là du hành tiên. Họ kiên quyết tu tập động và tĩnh không nghỉ ngơi, và khi đạo khí và tinh được hoàn thiện, họ được gọi là không hành tiên. Họ kiên quyết tu tập với dòng chảy và nước bọt không nghỉ ngơi, và khi đức của độ ẩm được hoàn thiện, họ được gọi là thiên hành tiên. Họ kiên quyết hấp thụ màu sắc tinh khiết không nghỉ ngơi, và khi đạo hấp thụ được hoàn thiện, họ được gọi là thông hành tiên. Họ kiên quyết tu tập thần chú và cấm giới không nghỉ ngơi, và khi đạo pháp thuật được hoàn thiện, họ được gọi là đạo hành tiên. Họ kiên quyết tu tập tư tưởng và chánh niệm không nghỉ ngơi, và khi đạo tư tưởng được hoàn thiện, họ được gọi là chiếu hành tiên. Họ kiên quyết tu tập giao hợp không nghỉ ngơi, và khi đạo phản ứng được hoàn thiện, họ được gọi là tinh hành tiên. Họ kiên quyết tu tập biến hóa không nghỉ ngơi, và khi đạo giác ngộ được hoàn thiện, họ được gọi là tuyệt hành tiên. A Nam, những người này đều rèn luyện tâm trí trong cõi người nhưng không theo Chánh Giác. Họ có được tuổi thọ sinh lý riêng biệt hàng ngàn hoặc hàng vạn năm, nghỉ ngơi trong núi sâu hoặc trên các đảo lớn ngoài biển, cách biệt với nơi ở của con người. Đây cũng là vọng tưởng trôi chảy và xoay chuyển trong luân hồi; họ không tu tập Tam Muội. Khi quả báo của họ kết thúc, họ trở lại tản mát trong các vận mệnh khác nhau.”
Phật tiếp tục giải thích các con đường tu tập khác nhau cho A Nam: “A Nam, cũng có một số người mặc dù đã rời khỏi đám đông, nhưng không tu tập Thiền theo con đường Chánh Giác. Họ khác thường, bướng bỉnh và tu tập trong núi sâu và rừng hoang. Ở những nơi ít người lui tới, mười loại tiên được hình thành.”
Sau đó, Phật giới thiệu chi tiết mười loại tiên này:
“Một số người kiên trì ăn thức ăn đặc biệt không gián đoạn. Khi họ hoàn hảo theo cách này, họ được gọi là địa hành tiên.”
“Một số người tập trung nghiên cứu thảo dược không gián đoạn. Khi họ hoàn hảo trong đạo thuốc, họ được gọi là phi hành tiên.”
“Một số người tập trung vào thuật giả kim không gián đoạn. Khi họ hoàn hảo theo cách này, họ được gọi là du hành tiên.”
“Một số người tập trung vào việc điều chỉnh động và tĩnh không gián đoạn. Khi hơi thở và tinh khí của họ hoàn hảo, họ được gọi là không hành tiên.”
“Một số người tập trung vào việc kiểm soát dịch cơ thể không gián đoạn. Khi họ hoàn hảo theo cách này, họ được gọi là thiên hành tiên.”
“Một số người tập trung vào việc hấp thụ tinh khí không gián đoạn. Khi họ hoàn hảo theo cách này, họ được gọi là thông hành tiên.”
“Một số người tập trung vào thần chú và cấm giới không gián đoạn. Khi pháp thuật của họ hoàn hảo, họ được gọi là đạo hành tiên.”
“Một số người tập trung vào thiền định không gián đoạn. Khi tư tưởng của họ hoàn hảo, họ được gọi là chiếu hành tiên.”
“Một số người tập trung vào giao hợp không gián đoạn. Khi họ hoàn hảo trong phản ứng, họ được gọi là tinh hành tiên.”
“Một số người tập trung vào nghệ thuật biến hóa không gián đoạn. Khi sự giác ngộ của họ hoàn hảo, họ được gọi là tuyệt hành tiên.”
Phật tóm tắt, “A Nam, những người này tu tập tâm trí trong thế giới loài người, nhưng họ không theo con đường Chánh Giác. Họ mỗi người có được một cách sống đặc biệt và có thể sống hàng ngàn hoặc hàng vạn năm. Họ hoặc sống ẩn dật trong núi sâu hoặc trên các đảo xa cách thế giới loài người.”
Phật thở dài, “Tuy nhiên, những người này vẫn trôi lăn trong luân hồi vì họ không tu tập Tam Muội chân chính. Khi phước báu của họ cạn kiệt, họ vẫn sẽ trở lại luân hồi và tản mát vào các vận mệnh khác nhau.”
“A Nam, người thế gian không tìm cầu sự vĩnh hằng. Nhưng họ không thể từ bỏ tình yêu đối với vợ và thê thiếp. Tuy nhiên, tâm trí họ không liều lĩnh trong tà dâm và trở nên trong sáng. Sau khi chết, họ là hàng xóm của mặt trời và mặt trăng. Loại này được gọi là Tứ Thiên Vương. Đối với những người có tình dục đối với vợ mình là nhẹ, và những người không tận hưởng trọn vẹn hương vị khi sống trong sự thanh tịnh, sau khi chết họ vượt qua ánh sáng của mặt trời và mặt trăng và sống ở đỉnh cao của cõi người. Loại này được gọi là Đao Lợi Thiên. Đối với những người tạm thời tham gia khi gặp ham muốn nhưng không có ký ức về nó sau đó, và những người di chuyển ít và yên tĩnh nhiều trong thế giới loài người, sau khi chết họ sống bình yên trong không gian trống rỗng nơi ánh sáng của mặt trời và mặt trăng không chiếu tới. Những người này có ánh sáng riêng của họ. Loại này được gọi là Tu Dạ Ma Thiên. Đối với những người yên tĩnh mọi lúc, nhưng không thể cưỡng lại khi có sự tiếp xúc, sau khi chết họ vươn lên một cấp độ tinh tế và không tiếp xúc với các cõi thấp hơn của con người và các vị thần. Ngay cả khi kiếp bị hủy diệt, ba tai họa không chạm tới họ. Loại này được gọi là Đâu Suất Thiên. Đối với những người trả lời các công việc mà không có ham muốn, và hương vị của họ giống như nhai sáp trong khi giao hợp, sau khi chết họ được sinh ra ở một nơi vượt qua sự biến hóa. Loại này được gọi là Hóa Lạc Thiên. Đối với những người không có tâm trí trần tục nhưng tham gia vào các công việc trần tục, và những người rõ ràng và siêu việt trong sự tham gia của họ, sau khi chết họ có thể vượt qua mọi ranh giới của biến hóa và không biến hóa. Loại này được gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên. A Nam, sáu cõi trời này, mặc dù hình thức của họ đã rời bỏ chuyển động, dấu vết tâm trí của họ vẫn tương tác. Từ điểm này trở xuống, nó được gọi là Dục Giới.”
Phật tiếp tục giải thích các cấp độ khác nhau của cõi trời cho A Nam: “A Nam, mặc dù người trong thế gian không tìm cầu cuộc sống vĩnh cửu, nếu họ có thể tiết chế trong một số khía cạnh, họ cũng có thể tái sinh ở các cõi trời khác nhau sau khi chết.”
Sau đó, Phật giới thiệu chi tiết sáu cõi trời dục:
“Một số người, mặc dù họ chưa hoàn toàn từ bỏ tình yêu vợ và thê thiếp, có thể duy trì sự kiềm chế trong các quan hệ tình dục không đúng đắn, vì vậy tâm trí họ trở nên trong sáng. Sau khi chết, những người như vậy sẽ được sinh ra ở một nơi rất gần mặt trời và mặt trăng và trở thành các vị thần của Tứ Thiên Vương Thiên.”
“Một số người có ít ham muốn đối với vợ mình và không đắm mình trong đó khi họ thanh tịnh. Sau khi chết, những người như vậy sẽ vượt qua mặt trời và mặt trăng và được sinh ra ở đỉnh cao của thế giới loài người, trở thành các vị thần của Đao Lợi Thiên.”
“Một số người, ngay cả khi họ thỉnh thoảng có ham muốn, không đắm chìm trong đó sau đó, và họ yên tĩnh hơn là hoạt động trong thế giới loài người. Sau khi chết, những người như vậy sẽ sống bình yên trong hư không, với ánh sáng riêng của họ, mà ánh sáng của mặt trời và mặt trăng không thể chiếu tới. Họ trở thành các vị thần của Tu Dạ Ma Thiên.”
“Một số người luôn giữ yên tĩnh, và có thể không bị lay chuyển ngay cả khi cám dỗ đến. Sau khi chết, những người như vậy sẽ vươn lên một cõi tinh tế hơn và không còn tiếp xúc với các cõi người và trời thấp hơn nữa. Ngay cả vào cuối kiếp, ba tai họa không thể làm hại họ. Họ trở thành các vị thần của Đâu Suất Thiên.”
“Một số người hoàn toàn không có ham muốn, và ngay cả khi phải giải quyết các công việc trần tục, họ cảm thấy vô vị như nhai sáp. Sau khi chết, những người như vậy sẽ được sinh ra ở một nơi vượt qua cõi biến hóa, trở thành các vị thần của Hóa Lạc Thiên.”
“Một số người, mặc dù sống trong thế gian, có tâm trí tách biệt, và rõ ràng và siêu việt về những điều trần tục. Sau khi chết, những người như vậy có thể vượt qua mọi cõi biến hóa và không biến hóa, trở thành các vị thần của Tha Hóa Tự Tại Thiên.”
Phật tóm tắt, “A Nam, mặc dù sáu loại thần này đã tách biệt về thể xác khỏi thế giới loài người, họ vẫn có một số chấp trước trong tâm trí. Từ đây trở xuống, tất cả được gọi là Dục Giới.”