Tóm tắt chính của Kinh Lăng Nghiêm Tập 6
-
Quá trình tu hành của Quán Thế Âm Bồ Tát:
- Từ Văn, Tư, Tu nhập vào Tam Ma Địa
- Đạt được hai loại thù thắng: trên hợp với từ lực của chư Phật, dưới hợp với bi ngưỡng của chúng sinh
-
Ba mươi hai ứng thân của Quán Thế Âm Bồ Tát:
- Có thể hiện ra các loại thân tướng (như thân Phật, thân Độc Giác, thân Duyên Giác, v.v.)
- Vì chúng sinh có căn cơ khác nhau mà thuyết pháp
-
Mười bốn loại công đức vô úy:
- Bao gồm giải thoát khổ não, tránh được hỏa hoạn thủy nạn, xa rời tham dục sân hận, v.v.
-
Bốn diệu đức vô tác bất tư nghị:
- Hiện ra nhiều loại thần thông biến hóa
- Có thể ban sự không sợ hãi cho chúng sinh
- Khiến chúng sinh xả thân cầu xin sự thương xót
- Có thể cúng dường chư Phật và chúng sinh
-
Sự lựa chọn của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát:
- So sánh hai mươi lăm pháp môn viên thông
- Ca ngợi pháp môn Nhĩ Căn Viên Thông của Quán Thế Âm Bồ Tát là thù thắng nhất
-
Lời thỉnh cầu của A Nan:
- Làm thế nào để an lập đạo tràng, xa rời ma sự
-
Bốn điều răn dạy thanh tịnh (Tứ Chủng Thanh Tịnh Minh Hối) của Đức Phật:
- Đoạn trừ dâm dục
- Giới sát sinh, giới ăn thịt
- Không trộm cắp
- Không vọng ngữ
-
Nhấn mạnh tầm quan trọng của bốn điều răn dạy thanh tịnh này:
- Nếu không đoạn trừ những điều này, dù có tu hành cũng khó thành tựu
- Tuân theo những lời dạy này mới có thể thực sự đạt được giải thoát
Những nội dung này thể hiện các khái niệm tu hành của Phật giáo Đại thừa, đặc biệt nhấn mạnh lòng từ bi và trí tuệ của Quán Thế Âm Bồ Tát, cũng như các giới luật cơ bản và phương pháp thanh lọc tâm trí mà người tu hành nên tuân theo.
Kinh Lăng Nghiêm Tập 6: Toàn văn
Khi ấy Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, và bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, con nhớ lại vô lượng kiếp về trước, có Đức Phật ra đời tên là Quán Thế Âm. Con ở nơi Đức Phật đó phát tâm Bồ Đề, Ngài dạy con từ Văn Tư Tu (Nghe, Suy nghĩ, Tu tập) mà nhập Tam Ma Địa. Ban đầu, con ở trong cái nghe (Văn) mà nhập vào dòng (lưu), vong mất sở (đối tượng nghe). Vì cái nhập đã vắng lặng, nên hai tướng động và tĩnh rõ ràng không sinh. Cứ như thế mà tiến tu, cái năng văn và sở văn đều dứt sạch. Dù cái nghe đã dứt, con cũng không trụ nơi đó; năng giác và sở giác đều không. Khi cái không giác ngộ ấy viên mãn tột bậc, cái không và cái sở không đều diệt. Vì sinh diệt đã diệt, nên tịch diệt hiện tiền. Bỗng nhiên, con vượt ra khỏi thế gian và xuất thế gian, mười phương viên mãn sáng suốt, đạt được hai điều thù thắng. Một là, trên hợp với bản giác diệu tâm vốn có của mười phương chư Phật, cùng chư Phật đồng một từ lực. Hai là, dưới hợp với tất cả chúng sinh trong sáu nẻo mười phương, cùng chúng sinh đồng một bi ngưỡng.”
“Bạch Thế Tôn, vì con cúng dường Quán Thế Âm Như Lai, nên nhờ Như Lai đó mà thọ nhận Kim Cang Tam Muội như huyễn văn tư tu. Vì con cùng chư Phật đồng một từ lực, nên có thể hiện ra ba mươi hai thân để vào các cõi nước. Bạch Thế Tôn, nếu có các vị Bồ Tát nhập Tam Ma Địa và tiến tu lậu vô lậu thắng giải, hiện ra sự viên thông, con sẽ hiện thân Phật để vì họ thuyết pháp và khiến họ được giải thoát. Nếu có các vị Độc Giác tịch tịnh diệu minh, thắng diệu hiện viên, con sẽ hiện thân Độc Giác trước họ để thuyết pháp và khiến họ được giải thoát. Nếu có những người học và tu để đoạn trừ mười hai nhân duyên, và khi đã đoạn trừ nhân duyên, tánh thắng hiện viên, con sẽ hiện thân Duyên Giác trước họ để thuyết pháp và khiến họ được giải thoát. Nếu có những người học và tu để đạt được cái không của Tứ Diệu Đế, tu hành nhập diệt, thắng tánh hiện viên, con sẽ hiện thân Thanh Văn trước họ để thuyết pháp và khiến họ được giải thoát.”
“Nếu có chúng sinh nhận rõ tâm mình và ngộ rằng không dục vọng thì sáng suốt, không phạm vào trần dục và thân thể thanh tịnh, con sẽ hiện thân Phạm Vương trước họ để thuyết pháp và khiến họ được giải thoát. Nếu có chúng sinh muốn làm Thiên Chủ và cai trị cõi trời, con sẽ hiện thân Đế Thích trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh muốn dùng thân mình tự tại dạo chơi trong mười phương, con sẽ hiện thân Tự Tại Thiên trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh muốn dùng thân mình bay lượn tự tại trong hư không, con sẽ hiện thân Đại Tự Tại Thiên trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích cai quản quỷ thần để bảo vệ cõi nước, con sẽ hiện thân Thiên Đại Tướng Quân trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích cai trị thế giới và bảo vệ chúng sinh, con sẽ hiện thân Tứ Thiên Vương trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích sinh vào cung trời và sai khiến quỷ thần, con sẽ hiện thân Tứ Thiên Vương Thái Tử trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích.”
“Nếu có chúng sinh thích làm vua cai trị mọi người, con sẽ hiện thân Nhân Vương trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích làm trưởng tộc và được kính trọng ở đời, con sẽ hiện thân Trưởng Giả trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích bàn luận những lời danh tiếng và sống cuộc đời thanh tịnh, con sẽ hiện thân Cư Sĩ trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích cai trị đất nước và quản lý việc nước, con sẽ hiện thân Tể Quan trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh thích các loại kỹ nghệ, phép thuật và sống ẩn dật, con sẽ hiện thân Bà La Môn trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có nam giới hiếu học, muốn xuất gia trì giới, con sẽ hiện thân Tỷ Kheo trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có nữ giới hiếu học, muốn xuất gia trì giới, con sẽ hiện thân Tỷ Kheo Ni trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có nam giới thích trì giữ năm giới, con sẽ hiện thân Ưu Bà Tắc trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có nữ giới sống theo năm giới, con sẽ hiện thân Ưu Bà Di trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích.”
“Nếu có nữ giới lo việc nội trợ và lập thân để làm lợi cho gia đình và đất nước, con sẽ hiện thân Nữ Chúa, Quốc Phu Nhân hoặc Mạng Phụ trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có chúng sinh không hoại nam căn, con sẽ hiện thân Đồng Nam trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có xử nữ thích giữ gìn thân thể và không muốn bị xâm phạm, con sẽ hiện thân Đồng Nữ trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có thiên nhân muốn vượt thoát khỏi loài trời của mình, con sẽ hiện thân Thiên trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có loài rồng muốn vượt thoát khỏi loài rồng của mình, con sẽ hiện thân Rồng trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu có Dạ Xoa muốn vượt thoát khỏi loài của mình, con sẽ hiện thân Dạ Xoa trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu Càn Thát Bà muốn vượt thoát khỏi loài của mình, con sẽ hiện thân Càn Thát Bà trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu A Tu La muốn vượt thoát khỏi loài của mình, con sẽ hiện thân A Tu La trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu Khẩn Na La muốn vượt thoát khỏi loài của mình, con sẽ hiện thân Khẩn Na La trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu Ma Hầu La Già muốn vượt thoát khỏi loài của mình, con sẽ hiện thân Ma Hầu La Già trước họ để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Nếu chúng sinh thích đời sống con người và tu tập nhân đạo, con sẽ hiện thân Người để thuyết pháp cho họ và giúp họ đạt được mục đích. Nếu phi nhân, dù có hình hay không hình, có tưởng hay không tưởng, muốn vượt thoát khỏi loài của mình, con sẽ hiện ra trước họ trong hình tướng tương ứng để thuyết pháp và giúp họ đạt được mục đích. Đây gọi là ba mươi hai ứng thân vi diệu thanh tịnh đi vào các cõi nước. Tất cả đều thành tựu nhờ sức mạnh mầu nhiệm vô tác của tam muội văn tư tu.”
“Bạch Thế Tôn, con cũng dùng sức mạnh mầu nhiệm vô tác của Kim Cang Tam Muội văn tư tu này, vì con cùng chung bi ngưỡng với tất cả chúng sinh trong sáu nẻo mười phương và ba đời, để khiến tất cả chúng sinh nhận được mười bốn loại công đức vô úy từ thân tâm của con. Thứ nhất, vì con không quán âm thanh mà quán kẻ quán, nên khiến những chúng sinh đau khổ và phiền não ở mười phương được giải thoát nhờ quán âm thanh của họ. Thứ hai, vì tri kiến quay về nguồn, nên khiến chúng sinh dù vào lửa lớn cũng không bị thiêu đốt. Thứ ba, vì quán và nghe quay về nguồn, nên khiến chúng sinh không bị chết đuối nếu bị nước lớn cuốn trôi. Thứ tư, vì vọng tưởng đoạn dứt và tâm không có ý định giết hại, nên khiến chúng sinh đi vào cõi quỷ không bị quỷ làm hại. Thứ năm, vì cái nghe được tu tập và quay về nguồn, sáu căn tan hòa và trở lại đồng như cái nghe, nên khiến chúng sinh khi gặp nạn, dao gãy từng đoạn, khiến binh khí như cắt nước hay thổi ánh sáng, không có tác dụng gì. Thứ sáu, vì văn tư tu trong sáng, bao trùm Pháp giới, bóng tối không thể tồn tại, nên khiến chúng sinh không bị Dạ Xoa, La Sát, Cưu Bàn Trà, Tỳ Xá Giá, Phú Đan Na, v.v. nhìn thấy, dù chúng ở gần. Thứ bảy, vì tánh của âm thanh tan hòa hoàn toàn, và quán nghe quay về nguồn, xa rời mọi trần vọng, nên khiến chúng sinh không bị gông cùm xiềng xích trói buộc. Thứ tám, vì âm thanh tiêu diệt và cái nghe viên mãn, sinh tâm từ bi phổ quát, nên khiến chúng sinh đi qua đường nguy hiểm không bị giặc cướp. Thứ chín, vì cái nghe được tu tập và lìa khỏi trần, và sắc không thể cướp đoạt nó, nên khiến tất cả chúng sinh dâm dục xa rời tham dục. Thứ mười, vì âm thanh thanh tịnh và không nhiễm trần, và căn cùng trần hòa hợp không hay, nên khiến tất cả chúng sinh sân hận xa rời nóng giận và oán hờn. Mười một, vì trần tan và ánh sáng trở lại, thân tâm Pháp giới như lưu ly, trong suốt và không bị chướng ngại, nên khiến tất cả những chúng sinh ngu tối và bị chướng ngại, những kẻ Nhất Xiển Đề, vĩnh viễn xa rời vô minh và bóng tối. Mười hai, vì hình tướng hòa hợp và cái nghe quay về, con không rời Đạo Tràng mà vào thế gian, không hoại thế gian mà bao trùm mười phương, cúng dường vô số chư Phật, làm Pháp Vương Tử bên cạnh mỗi Đức Phật, khiến những chúng sinh không con trong Pháp giới cầu con trai thì sinh con trai phước đức và trí tuệ. Mười ba, vì sáu căn viên mãn và không chướng ngại, chiếu soi rõ ràng không hai và bao trùm mười phương, lập Đại Viên Cảnh và Không Như Lai Tạng, kính nhận vô tận chư Phật mười phương và pháp môn bí mật của các Ngài mà không sót, khiến những chúng sinh không con trong Pháp giới cầu con gái thì sinh con gái đoan chính, phước đức, nhu thuận và được mọi người yêu mến. Mười bốn, vì chúng sinh trong tam thiên đại thiên thế giới này với mười tỷ mặt trời và mặt trăng, và các Pháp Vương Tử hiện đang trụ thế, có sáu mươi hai Hằng hà sa các phương pháp tu tập và khuôn mẫu, giáo hóa chúng sinh tùy theo nhu cầu của họ với các phương tiện và trí tuệ thiện xảo khác nhau, và vì con đã đắc được căn viên thông và mở cửa tai mầu nhiệm, thân tâm con vi diệu và bao trùm Pháp giới, nên khiến chúng sinh trì niệm danh hiệu con cũng có công đức như những người trì niệm danh hiệu của sáu mươi hai Hằng hà sa các Pháp Vương Tử. Bạch Thế Tôn, một danh hiệu của con không khác gì nhiều danh hiệu của họ. Nhờ sự tu hành của con, con đạt được chân viên thông. Đây gọi là mười bốn sức mạnh thí vô úy, ban phước cho chúng sinh.”
“Bạch Thế Tôn, bởi vì con đã chứng được viên thông này và ngộ được đạo vô thượng, nên con cũng khéo léo đạt được bốn công đức diệu dụng vô tác không thể nghĩ bàn. Một là, vì ban đầu con chứng được diệu tâm văn tánh, tâm tinh văn đã dứt bỏ sự nghe, và cái thấy, nghe, hay, biết không thể phân chia, trở thành một viên trạm bảo giác. Do đó, con có thể hiện ra nhiều hình tướng vi diệu và nói vô biên thần chú bí mật. Trong đó, con có thể hiện ra một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, cho đến một trăm lẻ tám đầu, một ngàn đầu, mười ngàn đầu, hoặc tám mươi bốn ngàn đầu Kim Cang. Hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười tay, mười hai tay, mười bốn, mười sáu, mười tám, hai mươi, đến hai mươi bốn tay, cho đến một trăm lẻ tám tay, một ngàn tay, mười ngàn tay, hoặc tám mươi bốn ngàn tay Mẫu Đà La. Hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt, cho đến một trăm lẻ tám mắt, một ngàn mắt, mười ngàn mắt, hoặc tám mươi bốn ngàn con mắt thanh tịnh báu. Hoặc từ bi, hoặc oai dũng, hoặc định, hoặc tuệ, cứu độ và bảo hộ chúng sinh đạt được đại tự tại.”
“Hai là, vì con dùng cái nghe và suy tư để thoát khỏi sáu trần, giống như âm thanh qua tường không bị ngăn ngại, con có thể khéo léo hiện ra từng hình tướng và tụng từng thần chú. Những hình tướng và thần chú này có thể ban sự vô úy cho chúng sinh. Do đó, trong vô lượng quốc độ ở mười phương, con được gọi là Đấng Thí Vô Úy.”
“Ba là, vì con tu tập bản căn thanh tịnh viên thông vi diệu, nên ở những thế giới con đi qua, con khiến cho chúng sinh xả bỏ thân mạng và trân bảo để cầu sự thương xót của con.”
“Bốn là, con đã chứng được tâm Phật và đạt đến cứu cánh. Con có thể cúng dường nhiều loại trân bảo lên mười phương Như Lai, và cả chúng sinh trong sáu đường của Pháp Giới. Nếu họ cầu vợ, được vợ; cầu con, được con; cầu Chánh Định, được Chánh Định; cầu trường thọ, được trường thọ; cho đến cầu Đại Niết Bàn, được Đại Niết Bàn.”
“Phật hỏi về viên thông. Con từ cửa nhĩ căn chứng được viên chiếu tam muội, duyên tâm tự tại nhờ nhập lưu, đắc tam ma đề và thành tựu Bồ Đề. Đây là đệ nhất. Bạch Thế Tôn, Đức Phật Như Lai kia khen ngợi con khéo léo đắc pháp môn viên thông, và giữa đại chúng thọ ký cho con hiệu là Quán Thế Âm. Vì con quán sát và lắng nghe âm thanh viên minh khắp mười phương, nên danh hiệu Quán Thế Âm biến khắp mười phương.”
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn từ tòa Sư Tử phóng ra ánh sáng báu từ năm vóc, chiếu soi đỉnh đầu của mười phương Như Lai và các Pháp Vương Tử Bồ Tát nhiều như vi trần. Các Đức Như Lai kia cũng phóng ánh sáng báu từ năm vóc trong các thế giới vi trần để chiếu soi đỉnh đầu Phật, cũng như đỉnh đầu của tất cả Đại Bồ Tát và A La Hán trong hội. Cây cối và ao hồ đều tấu lên tiếng pháp, và ánh sáng giao thoa như lưới lụa báu. Đại chúng cảm nhận điều chưa từng có, và tất cả đều chứng được Kim Cang Tam Muội. Lúc đó, trời mưa xuống hàng trăm hoa sen báu, xen lẫn các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Hư không trong mười phương biến thành màu của bảy báu. Núi sông đất đai của thế giới Ta Bà này đều không còn thấy, chỉ thấy các quốc độ mười phương nhiều như vi trần hợp lại thành một giới. Tiếng ca ngợi của chư thiên tự nhiên hòa tấu.
Rồi Như Lai bảo Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi: “Ông nay hãy quán sát hai mươi lăm vị Đại Bồ Tát và A La Hán Vô Học này. Mỗi vị đã nói về phương tiện mà ban đầu họ chứng đạo, và tất cả đều xưng là đã tu tập chân thật viên thông. Sự tu tập của họ thật không có cao thấp, và không có sai biệt về trước sau. Nay Ta muốn A Nan giác ngộ xem trong hai mươi lăm hạnh môn nào phù hợp với căn cơ của ông ấy. Lại nữa, vì chúng sinh trong cõi này sau khi Ta diệt độ, muốn nhập Bồ Tát thừa và cầu đạo vô thượng, thì phương tiện nào là dễ thành tựu?” Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi vâng lời dạy từ bi của Phật, đứng dậy khỏi tòa, đảnh lễ chân Phật, và nương oai thần của Phật, nói kệ trình Phật.
Biển giác tánh đứng lặng
Đứng lặng đồng nguyên diệu
Nguyên minh chiếu sanh sở
Sở lập chiếu tánh vọng
Mê vọng có hư không
Nương không lập thế giới
Tưởng lặng thành quốc độ
Tri giác là chúng sanh
Hư không sanh trong đại giác
Như bọt nổi biển cả
Hữu lậu vi trần quốc
Đều nương không sanh ra
Bọt diệt không vốn không
Huống là các tam hữu
Về nguồn tánh không hai
Phương tiện có nhiều cửa
Thánh tánh không chẳng thông
Thuận nghịch đều phương tiện
Sơ tâm nhập Tam muội
Chậm nhanh có khác nhau
Sắc tưởng kết thành trần
Tinh liễu không thể thấu
Sắc tướng sao thông triệt
Đâu được gọi viên thông.
Âm thanh tạp ngôn ngữ
Đều là những danh tự
Một chẳng hàm tất cả
Sao gọi được viên thông.
Hương lấy hợp mới biết
Ly hợp vốn không có
Chẳng thường được nghe biết
Sao gọi được viên thông.
Vị tánh vốn chẳng nhiên
Phải nếm mới có biết
Cái biết chẳng thường một
Sao gọi được viên thông.
Xúc lấy sở xúc rõ
Không xúc không rõ sở
Hợp ly tánh chẳng định
Sao gọi được viên thông.
Pháp gọi là nội trần
Nương trần tất có sở
Năng sở chẳng cùng khắp
Sao gọi được viên thông.
Tánh thấy tuy không ngại
Rõ trước chẳng rõ sau
Bốn hướng thiếu một nửa
Sao gọi được viên thông.
Mũi thở, hơi ra vào
Hiện tiền không giao khí
Chi ly chẳng thiệp nhập
Sao gọi được viên thông.
Lưỡi chẳng phải vô đoan
Nhân vị sanh giác liễu
Vị mất, liễu không có
Sao gọi được viên thông.
Thân cùng sở xúc đồng
Mỗi thứ chẳng viên giác
Ngằn mé chẳng rõ ràng
Sao gọi được viên thông.
Ý căn tạp loạn tư
Lặng trong trọn chẳng thấy
Tưởng niệm chẳng thể thoát
Sao gọi được viên thông.
Thức kiến tạp ba hòa
Cật bổn xưng phi tướng
Tự thể trước chẳng định
Sao gọi được viên thông.
Tâm nghe suốt mười phương
Sanh nơi đại nhân lực
Sơ tâm chẳng thể nhập
Sao gọi được viên thông.
Tưởng mũi vốn quyền cơ
Chỉ khiến nhiếp tâm trụ
Trụ thành tâm sở trụ
Sao gọi được viên thông.
Thuyết pháp lộng âm văn
Khai ngộ người tiên thành
Danh cú chẳng vô lậu
Sao gọi được viên thông.
Trì giới chỉ thúc thân
Phi thân không sở thúc
Vốn chẳng khắp tất cả
Sao gọi được viên thông.
Thần thông vốn túc nhân
Đâu quan sự phân biệt
Niệm duyên chẳng lìa vật
Sao gọi được viên thông.
Nếu dùng tánh đất quán
Kiên ngại chẳng thông đạt
Hữu vi chẳng thánh tánh
Sao gọi được viên thông.
Nếu dùng tánh nước quán
Tưởng niệm vốn chẳng chơn
Như Như chẳng giác quán
Sao gọi được viên thông.
Nếu dùng tánh lửa quán
Chán có chẳng chơn ly
Chẳng phương tiện sơ tâm
Sao gọi được viên thông.
Nếu dùng tánh gió quán
Động tĩnh chẳng không đối
Đối chẳng phải vô thượng
Sao gọi được viên thông.
Nếu dùng tánh không quán
Hôn độn trước chẳng giác
Không giác khác Bồ-đề
Sao gọi được viên thông.
Nếu dùng tánh thức quán
Quán thức vốn chẳng thường
Hữu tâm là hư vọng
Sao gọi được viên thông.
Các hạnh là vô thường
Tánh niệm vốn sanh diệt
Nhân quả nay sai khác
Sao gọi được viên thông.
Con nay bạch Thế Tôn
Phật ra đời Ta-bà
Bản thể chơn giáo phương này
Thanh tịnh ở âm nghe
Muốn chứng Tam-ma-đề
Thật do nghe mà nhập
Lìa khổ được giải thoát
Lành thay Quán Thế Âm!
Ở trong hằng sa kiếp
Vào vi trần nước Phật
Được sức đại tự tại
Vô úy thí chúng sanh.
Diệu Âm Quán Thế Âm
Phạm Âm Hải Triều Âm
Cứu thế đều an ninh
Xuất thế được thường trụ.
Con nay bạch Như Lai
Như lời Quán Âm nói
Ví như người ở yên
Mười phương đồng đánh trống
Mười nơi cùng nghe được
Đó là viên chơn thật.
Mắt chẳng thấy bên kia
Mũi miệng cũng như thế
Thân đụng mới hay biết
Tâm niệm rối không manh
Cách tường nghe tiếng vang
Xa gần đều nghe được
Năm căn chẳng đồng đều
Đó là thông chơn thật.
Tánh âm thanh động tĩnh
Trong nghe làm có, không
Không tiếng gọi không nghe
Chẳng phải thật không tánh
Tiếng không đã không diệt
Tiếng có cũng chẳng sanh
Sanh diệt hai đều lìa
Đó là thường chân thật.
Dẫu cho trong mộng tưởng
Chẳng vì không suy nghĩ mà không
Cái nghe vượt ngoài suy nghĩ
Thân tâm chẳng thể đến.
Nay cõi Ta-bà này
Thanh luận được tuyên minh
Chúng sanh mê bản văn
Theo tiếng nên luân chuyển.
A-nan tuy nhớ giỏi
Khó miễn lọt tà tư
Đâu bằng xoay dòng nghe
Dòng xoay vọng liền dứt.
A-nan ông lắng nghe
Con nương oai lực Phật
Tuyên thuyết Kim Cang Vương
Như huyễn chẳng nghĩ bàn
Phật Mẫu chơn Tam-muội.
Ông nghe vi trần Phật
Tất cả những pháp môn
Dục lậu chẳng trừ trước
Chứa nghe thành lầm lỗi.
Đem nghe trì Phật Phật
Sao chẳng tự nghe mình?
Nghe chẳng tự nhiên sanh
Nhân tiếng có tên gọi
Xoay nghe cùng tiếng thoát
Thoát rồi ai gọi tên?
Một căn đã về nguồn
Sáu căn thành giải thoát.
Thấy nghe như huyễn ế
Ba cõi như hoa đốm
Nghe lại ế căn trừ
Trần tiêu, giác viên tịnh
Tịnh cực quang thông đạt
Tịch chiếu khắp hư không
Quay lại nhìn thế gian
Dường như việc trong mộng,
Ma-đăng-già tại mộng
Ai có thể buộc hình?
Như người khéo huyễn sư
Huyễn làm các nam nữ
Tuy thấy các căn động
Cốt yếu một máy rút
Nghỉ máy về tịch nhiên
Các huyễn thành vô tánh.
Sáu căn cũng như thế
Vốn nương một tinh minh
Chia thành sáu hòa hợp
Một nơi thành hưu phục
Sáu dụng đều chẳng thành
Trần cấu ứng niệm tiêu
Thành viên minh tịnh diệu.
Dư trần còn Chư học
Minh cực tức Như Lai.
Đại chúng và A-nan
Xoay cơ nghe đảo lại
Phản văn, văn tự tánh
Tánh thành đạo Vô thượng.
Viên thông thật như thế
Đây là vi trần Phật
Một đường đến Niết-bàn.
Quá khứ các Như Lai
Pháp môn này thành tựu
Hiện tại các Bồ-tát
Nay đều nhập viên minh
Tương lai người tu học
Nên y pháp như thế
Con cũng chứng trong ấy.
Chẳng những Quán Thế Âm
Thành như Phật Thế Tôn
Hỏi con các phương tiện
Để cứu độ mạt kiếp
Cầu xuất thế gian nhân
Thành tựu tâm Niết-bàn
Quán Thế Âm là nhất.
Ngoài ra các phương tiện
Đều là Phật oai thần
Tức sự bỏ trần lao
Chẳng phải trường tu học
Cạn sâu đồng thuyết pháp.
Đảnh lễ Như Lai Tạng
Vô lậu chẳng nghĩ bàn
Nguyện gia bị vị lai
Nơi pháp môn không lầm
Phương tiện dễ thành tựu
Để dạy cho A-nan
Và mạt kiếp chìm đắm
Chỉ dùng căn này tu
Viên thông siêu dư giả
Chơn thật tâm như thế.
Bấy giờ A Nan và đại chúng đều thấu hiểu và nhận được sự khai thị lớn lao. Họ chiêm ngưỡng Bồ Đề và Đại Niết Bàn của Phật, giống như người đi làm ăn xa chưa trở về, nay biết rõ đường về nhà. Toàn thể đại chúng, bao gồm Bát Bộ Thiên Long, những vị nhị thừa hữu học, và tất cả các Bồ Tát sơ phát tâm, số nhiều như cát mười sông Hằng, đều ngộ được bản tâm, xa lìa trần cấu, và đắc Pháp Nhãn Tịnh. Tỳ kheo ni Tánh Giác nghe kệ và chứng A La Hán. Vô lượng chúng sinh đều phát tâm Vô Thượng Bồ Đề.
A Nan chỉnh lại y phục, hướng về phía đại chúng, chắp tay đảnh lễ. Tâm ông viên minh, cảm thấy vui buồn lẫn lộn. Muốn làm lợi ích cho chúng sinh đời sau, ông đảnh lễ và bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn Đại Từ, con nay đã ngộ được pháp môn thành Phật và không còn nghi ngờ gì về sự tu tập trong đó. Con thường nghe Như Lai nói rằng những ai tự độ mình trước khi độ người là Bồ Tát phát tâm, còn những ai đã hoàn thiện giác ngộ của mình và có thể giác ngộ người khác là Như Lai ứng thế. Tuy con chưa được độ, nhưng con nguyện độ tất cả chúng sinh trong đời Mạt Pháp. Bạch Thế Tôn, những chúng sinh này đang dần xa rời Phật, và các tà sư thuyết pháp nhiều như cát sông Hằng. Nếu con muốn nhiếp tâm họ nhập tam ma đề, làm sao con có thể giúp họ lập Đạo Tràng, giữ họ xa lìa ma sự, và đảm bảo họ không thoái chuyển tâm Bồ Đề?”
Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn khen ngợi A Nan trước đại chúng: “Lành thay, lành thay! Như ông đã hỏi, làm sao để thiết lập Đạo Tràng cứu độ chúng sinh đang chìm đắm trong đời Mạt Pháp. Ông hãy lắng nghe kỹ, Ta sẽ vì ông mà giải nói.” A Nan và đại chúng kính cẩn chờ nghe giáo pháp.
Phật bảo A Nan: “Ông thường nghe Ta giảng ba nghĩa quyết định của sự tu hành trong Luật nghi. Đó là, nhiếp tâm gọi là Giới; nhân Giới sinh Định; nhân Định phát Tuệ. Đây gọi là Tam Vô Lậu Học. A Nan, tại sao Ta gọi nhiếp tâm là Giới? Nếu chúng sinh trong sáu đường của tất cả thế giới không có lòng dâm dục trong tâm, họ sẽ không theo dòng sinh tử tương tục. Ông tu tập Tam Muội vốn là để xuất ly trần lao. Nếu tâm dâm dục không trừ, trần lao không thể xuất ly. Dù có nhiều trí tuệ và thiền định hiện tiền, nếu không đoạn trừ dâm dục, chắc chắn sẽ rơi vào ma đạo. Hạng trên thành ma vương, hạng giữa thành ma dân, và hạng dưới thành ma nữ. Các loài ma này cũng có đồ chúng, và mỗi loài đều xưng là đã thành đạo vô thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời Mạt Pháp, nhiều ma dân này sẽ thịnh hành ở thế gian, thực hành tham dục rộng rãi trong khi giả làm thiện tri thức. Chúng sẽ khiến chúng sinh rơi vào hầm hố của ái kiến và mất đạo Bồ Đề. Ông nên dạy người đời tu Tam Muội trước hết phải đoạn trừ tâm dâm dục. Đây là lời dạy quyết định rõ ràng về thanh tịnh đầu tiên của Như Lai và chư Phật quá khứ. Vì thế, A Nan, nếu tu Thiền Định mà không đoạn trừ dâm dục, thì cũng như nấu cát sạn mong thành cơm; dù trải qua trăm ngàn kiếp, cũng chỉ là cát nóng. Tại sao? Vì đây không phải là bản nhân của cơm, mà là từ cát sạn. Nếu ông cầu diệu quả của Phật với thân dâm dục, dù có đạt được diệu ngộ, cũng đều gốc rễ từ dâm dục. Lấy dâm dục làm gốc, ông sẽ luân chuyển trong ba đường ác và chắc chắn không thể thoát khỏi. Làm sao có thể tu tập và chứng đắc Niết Bàn của Như Lai? Ông phải đảm bảo rằng cơ chế của dâm dục trong thân tâm đều đoạn tận, và ngay cả cái tánh đoạn trừ cũng không còn; thì mới có thể hy vọng chứng đắc Bồ Đề của Phật. Lời Ta nói đây là lời Phật dạy. Giảng giải trái ngược thế này là lời của Ma Ba Tuần.”
“A Nan, lại nữa, nếu chúng sinh trong sáu đường của tất cả thế giới không có lòng sát sinh trong tâm, họ sẽ không theo dòng sinh tử tương tục. Ông tu tập Tam Muội vốn là để xuất ly trần lao. Nếu tâm sát sinh không trừ, trần lao không thể xuất ly. Dù có nhiều trí tuệ và thiền định hiện tiền, nếu không đoạn trừ sát sinh, chắc chắn sẽ rơi vào thần đạo. Hạng trên thành đại lực quỷ, hạng giữa thành phi hành dạ xoa hoặc quỷ soái, và hạng dưới thành địa hành la sát. Các loài quỷ thần này cũng có đồ chúng, và mỗi loài đều xưng là đã thành đạo vô thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời Mạt Pháp, nhiều quỷ thần này sẽ thịnh hành ở thế gian, tuyên bố rằng ăn thịt cũng đắc đạo Bồ Đề. A Nan, Ta cho phép Tỳ kheo ăn năm loại tịnh nhục, nhưng thịt này đều do thần lực của Ta biến hóa và vốn không có mạng căn. Vì đất đai của các ông ẩm ướt và đầy cát đá, rau cải không mọc, nên Ta dùng đại bi thần lực tạo ra thứ này, gọi là thịt do lòng đại bi. Các ông nếm được vị của nó, nhưng tại sao, sau khi Như Lai diệt độ, những kẻ ăn thịt chúng sinh lại xưng là đệ tử dòng họ Thích Ca? Ông nên biết những kẻ ăn thịt này, dù tâm có mở mang và dường như đắc Tam Muội, đều là đại La Sát. Cuối cùng, họ chắc chắn sẽ chìm trong biển khổ sinh tử và không phải là đệ tử Phật. Những người như thế giết hại và ăn nuốt lẫn nhau không dứt; làm sao họ thoát khỏi ba cõi? Ông nên dạy người đời tu Tam Muội tiếp theo phải đoạn trừ sát sinh. Đây là lời dạy quyết định rõ ràng về thanh tịnh thứ hai của Như Lai và chư Phật quá khứ. Vì thế, A Nan, nếu tu Thiền Định mà không đoạn trừ sát sinh, thì cũng như người bịt tai và hét lớn, mong không ai nghe thấy. Đây gọi là muốn giấu mà lại càng lộ. Tỳ kheo và Bồ Tát thanh tịnh, khi đi trên đường hẹp, thậm chí không dẫm lên cỏ sống, huống chi là dùng tay nhổ. Làm sao giữ lòng đại bi mà lại lấy máu thịt chúng sinh làm thức ăn? Nếu Tỳ kheo không mặc tơ lụa phương đông, vải bông, hay lụa là, hoặc dùng giày ủng, da lông, sữa, kem, hay bơ từ đất này, những Tỳ kheo ấy thực sự giải thoát trong thế gian này và sẽ trả nợ quá khứ mà không còn lang thang trong ba cõi. Tại sao? Vì sử dụng các bộ phận thân thể của chúng sinh tạo ra duyên nợ với họ. Giống như người ăn ngũ cốc từ đất; chân họ không thể rời khỏi mặt đất. Nếu một người không mặc hoặc ăn thân thể hay bộ phận của chúng sinh cả về thân lẫn tâm, Ta nói người này thực sự giải thoát. Lời Ta nói đây là lời Phật dạy. Giảng giải trái ngược thế này là lời của Ma Ba Tuần.”
“A Nan, lại nữa, nếu chúng sinh trong sáu đường của tất cả thế giới không có lòng trộm cắp trong tâm, họ sẽ không theo dòng sinh tử tương tục. Ông tu tập Tam Muội vốn là để xuất ly trần lao. Nếu tâm trộm cắp không trừ, trần lao không thể xuất ly. Dù có nhiều trí tuệ và thiền định hiện tiền, nếu không đoạn trừ trộm cắp, chắc chắn sẽ rơi vào tà đạo. Hạng trên thành tinh linh, hạng giữa thành yêu mị, và hạng dưới thành người tà bị ma ám. Các nhóm tà đạo này cũng có đồ chúng, và mỗi loài đều xưng là đã thành đạo vô thượng. Sau khi Ta diệt độ, trong đời Mạt Pháp, nhiều yêu tà này sẽ thịnh hành ở thế gian, ngấm ngầm hành tra dối và xưng là thiện tri thức. Mỗi kẻ đều xưng là đắc pháp thượng nhân, lừa dối và làm mê muội kẻ ngu, khiến họ mất trí. Bất cứ nơi nào chúng đi qua, gia đình đều tan nát. Ta dạy Tỳ kheo khất thực theo thứ lớp để giúp họ bỏ lòng tham và thành tựu đạo Bồ Tát. Tỳ kheo không tự nấu ăn, phó thác mạng sống thừa để tạm trú trong ba cõi, cho thấy một khi đi rồi, họ sẽ không trở lại. Tại sao kẻ trộm lại mặc y của Ta và buôn bán Như Lai, tạo ra vô lượng nghiệp? Họ đều nói là Phật Pháp, nhưng họ không thực sự là người xuất gia. Họ gọi Tỳ kheo giữ giới đầy đủ là thuộc Tiểu Thừa. Vì thế, họ làm mê muội vô lượng chúng sinh đọa vào Vô Gián Địa Ngục. Nếu sau khi Ta diệt độ, có Tỳ kheo quyết tâm tu Tam Muội và có thể, trước tượng Như Lai, đốt đèn trên thân, đốt một đốt ngón tay, hoặc đốt một liều hương trên thân, Ta nói người này đã trả nợ từ vô thủy kiếp cùng một lúc, từ biệt thế gian và vĩnh viễn thoát khỏi mọi lậu hoặc. Dù họ chưa hiểu đạo giác ngộ vô thượng, nhưng tâm người này đã quyết định nơi Đạo Pháp. Nếu không hy sinh chút thân mạng nhỏ bé này, dù có chứng đắc vô vi, cũng phải trở lại làm người để trả nợ xưa. Cũng giống như nghiệp ăn lúa ngựa của Ta vậy. Ông nên dạy người đời tu Tam Muội tiếp theo phải đoạn trừ trộm cắp. Đây là lời dạy quyết định rõ ràng về thanh tịnh thứ ba của Như Lai và chư Phật quá khứ. Vì thế, A Nan, nếu tu Thiền Định mà không đoạn trừ trộm cắp, thì cũng như người rót nước vào chén thủng mong cho đầy; dù trải qua trần sa kiếp, cũng không bao giờ đầy. Nếu Tỳ kheo không sở hữu gì ngoài ba y và bình bát, đem thức ăn dư thí cho chúng sinh đói khổ, chắp tay xá chào đại chúng trong các buổi họp lớn, và thấy ai đánh mắng mình, đều coi như lời khen ngợi, họ phải hy sinh cả thân và tâm, chia sẻ thịt, xương, và máu của mình cho chúng sinh. Không được lấy những lời giải thích chưa trọn vẹn của Như Lai mà tự ý hiểu theo ý mình để làm mê lầm người sơ học. Phật ấn chứng người như thế đắc chân Tam Muội. Lời Ta nói đây là lời Phật dạy. Giảng giải trái ngược thế này là lời của Ma Ba Tuần.”
“A-nan, dù chúng sinh trong sáu nẻo của các thế giới ấy thân tâm không còn sát sinh, trộm cắp và dâm dục, ba hạnh này đã viên mãn, nhưng nếu nói đại vọng ngữ, thì Tam-muội của họ chẳng được thanh tịnh, họ sẽ thành ma ái kiến, mất hạt giống Như Lai. Tức là chưa được bảo là được, chưa chứng bảo là chứng, hoặc cầu mong mình là đệ nhất, tối thượng ở đời. Họ bảo người rằng: ‘Ta nay đã chứng quả Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, đạo A-la-hán, Bích Chi Phật thừa, hoặc các địa vị Bồ-tát trước Thập địa.’ Họ mong người khác lễ bái, sám hối, tham cầu sự cúng dường của người. Đây là những kẻ Nhất-xiển-đề hủy hoại hạt giống Phật, như người dùng dao chặt cây Đa-la. Phật thọ ký cho những người này vĩnh viễn mất căn lành, không còn tri kiến, chìm trong ba biển khổ, chẳng thành Tam-muội. Sau khi ta diệt độ, ta sẽ bảo các Bồ-tát và A-la-hán ứng thân sinh vào đời Mạt pháp kia, hiện đủ mọi thân hình để cứu độ những người trong vòng luân hồi. Họ hoặc hiện thân làm Sa-môn, cư sĩ áo trắng, vua chúa, quan lại, đồng nam, đồng nữ, cho đến kỹ nữ, quả phụ, kẻ trộm, đồ tể, kẻ bán hàng rong, cùng làm việc với họ và khen ngợi Phật thừa, khiến thân tâm họ nhập vào Tam-muội. Rốt cuộc họ chẳng bao giờ tự nói: ‘Ta là chân Bồ-tát’ hay ‘chân A-la-hán’, làm tiết lộ mật nhân của Phật, nói khinh suất với người chưa học. Chỉ trừ khi mạng chung mới âm thầm để lại di chúc. Sao những người kia lại mê hoặc chúng sinh, thành tựu đại vọng ngữ? Ông nên dạy người đời tu Tam-muội, kế đó phải đoạn trừ các đại vọng ngữ. Đây là lời dạy rõ ràng, quyết định về sự thanh tịnh thứ tư của Như Lai và chư Phật đời quá khứ. Cho nên, A-nan, nếu không đoạn trừ đại vọng ngữ, cũng như khắc phân người làm hình dáng đàn hương, mong cầu có mùi thơm, thì không bao giờ có chuyện đó. Ta dạy các Tỳ-kheo tâm phải ngay thẳng ở đạo tràng, cho đến trong bốn oai nghi và mọi hành động đều không hư dối. Làm sao lại tự xưng đã đắc pháp của người thượng nhân? Ví như kẻ nghèo cùng vọng xưng là Đế vương, tự chuốc lấy tru diệt; huống chi là Đấng Pháp Vương? Sao dám vọng thiết trộm lấy danh hiệu ấy? Vì nhân địa không ngay thẳng thì quả chiêu cảm sẽ cong vạy; cầu Bồ-đề của Phật như người cắn rốn mình, làm sao mà thành được? Nếu tâm của các Tỳ-kheo thẳng như dây đàn, mọi sự đều chân thật, thì sẽ vào được Tam-muội, vĩnh viễn không có ma sự. Ta ấn chứng cho người ấy sẽ thành tựu Vô thượng tri giác của Bồ-tát. Lời ta nói đây là lời Phật dạy. Lời giải thích trái ngược với lời này là lời của ma Ba-tuần.”
Bản Dịch Nghĩa Thường Lăng Nghiêm Kinh Quyển 6
Bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, con nhớ vô lượng hằng hà sa kiếp về trước, có Đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm. Con ở nơi Đức Phật kia phát tâm Bồ-đề, Đức Phật kia dạy con từ nơi nghe, tư duy, tu tập (văn tư tu) mà vào Tam-muội. Ban đầu ở trong tính nghe, vào được dòng viên thông thì quên mất sở văn (đối tượng nghe). Sự sở nhập đã vắng lặng, thì hai tướng động và tĩnh rõ ràng chẳng sinh. Cứ như thế mà tăng tiến, thì cái năng văn và sở văn đều dứt. Cái văn tận đã không trụ, thì cái giác và sở giác đều không. Cái không giác cực viên mãn, thì cái không và cái sở không đều diệt. Sinh diệt đã diệt, thì tịch diệt hiện tiền. Bỗng nhiên vượt ra ngoài thế gian và xuất thế gian, mười phương viên minh, được hai thứ thù thắng. Một là trên hợp với bản giác diệu tâm của mười phương chư Phật, cùng chư Phật Như Lai đồng một từ lực. Hai là dưới hợp với tất cả chúng sinh trong sáu nẻo mười phương, cùng các chúng sinh đồng một bi ngưỡng.”
Ngày xưa, có một vị Bồ Tát tên là Quán Thế Âm. Một hôm, ngài đứng dậy, cung kính đảnh lễ Đức Phật và bắt đầu kể câu chuyện của mình. Quán Thế Âm Bồ Tát nói: “Kính bạch Đức Phật tôn quý, con nhớ lại vô số kiếp trước, có một vị Phật đã xuất hiện trên thế gian, cũng có hiệu là Quán Thế Âm. Khi ấy, con bắt đầu con đường tu tập dưới sự chỉ dẫn của ngài.”
Ngài giải thích tiếp: “Đức Phật ấy đã dạy con cách đạt được Tam muội (trạng thái thiền định sâu sắc) thông qua việc lắng nghe, suy ngẫm và thực hành. Con bắt đầu bằng cách tập trung vào việc lắng nghe, và dần dần đạt đến trạng thái tĩnh lặng, không còn bị xao động bởi âm thanh hay sự yên tĩnh. Sự tu tập của con ngày càng sâu sắc, và cuối cùng con đã vượt qua mọi thứ thế gian và xuất thế gian, đạt được hai khả năng đặc biệt.”
Quán Thế Âm mô tả hai khả năng này: “Thứ nhất, con có thể kết nối với tâm giác ngộ của tất cả chư Phật trong mười phương, và chia sẻ sức mạnh từ bi như chư Phật. Thứ hai, con có thể đồng cảm với tất cả chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, thấu hiểu và chia sẻ nỗi khổ đau của họ.”
“Bạch Thế Tôn, do con cúng dường Đức Quán Thế Âm Như Lai, nên được Đức Như Lai kia truyền cho cái Kim Cang Tam-muội như huyễn văn huân văn tu này (nghe, huân tập, tu tập như huyễn). Vì cùng chư Phật Như Lai đồng một từ lực, nên con khiến được thân thành ba mươi hai phân thân (ứng thân), vào các cõi nước. Bạch Thế Tôn, nếu các Bồ-tát vào Tam-muội, tiến tu quả Vô lậu thắng giải, hiện chư viên thông, con sẽ hiện thân Phật mà vì họ thuyết pháp, khiến họ được giải thoát. Nếu các bậc Hữu học tịch tĩnh diệu minh, thắng diệu hiện viên, con sẽ hiện thân Độc Giác trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được giải thoát. Nếu các bậc học tập để dứt mười hai nhân duyên, nhân duyên đã dứt, thắng tính hiện viên, con sẽ hiện thân Duyên Giác trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được giải thoát. Nếu các bậc học tập đắc cái không của Tứ đế, tu đạo nhập diệt, thắng tính hiện viên, con sẽ hiện thân Thanh Văn trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được giải thoát.”
Ngài tiếp tục: “Vì con đã hết lòng cúng dường Đức Quán Thế Âm Như Lai, ngài đã truyền cho con phương pháp tu tập đặc biệt này. Nhờ đó, con có thể hóa hiện thành ba mươi hai hình tướng khác nhau để cứu độ chúng sinh trong các cõi nước.”
Quán Thế Âm Bồ Tát giải thích cách ngài giúp đỡ các hành giả ở những trình độ khác nhau: “Nếu các vị Bồ Tát nhập định sâu, con sẽ hiện thân Phật để thuyết pháp cho họ.” “Đối với những ai tu tập sự tĩnh lặng và trí tuệ sáng suốt, con sẽ hiện thân là Độc Giác (người tự mình giác ngộ).”
“Đối với những hành giả đang đoạn trừ mười hai nhân duyên, con sẽ hiện thân là Duyên Giác (người giác ngộ nhờ quán chiếu nhân duyên).”
“Đối với những ai thấu hiểu Tứ Diệu Đế và đang tu tập con đường diệt khổ, con sẽ hiện thân là Thanh Văn (đệ tử trực tiếp của Phật).”
Quán Thế Âm nói: “Trong mọi trường hợp, con sẽ xuất hiện và giảng pháp phù hợp với nhu cầu của họ để giúp họ đạt được giải thoát.”
“Nếu có chúng sinh dục tâm sáng tỏ, không phạm bụi trần, muốn thân thanh tịnh, con sẽ hiện thân Phạm Vương trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh muốn làm Thiên chủ, thống lãnh cõi trời, con sẽ hiện thân Đế Thích trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh muốn thân tự tại dạo chơi mười phương, con sẽ hiện thân Tự Tại Thiên trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh muốn thân tự tại bay đi trong hư không, con sẽ hiện thân Đại Tự Tại Thiên trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích thống lãnh quỷ thần để cứu hộ quốc-độ, con sẽ hiện thân Thiên Đại Tướng Quân trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích thống lãnh thế giới để bảo hộ chúng sinh, con sẽ hiện thân Tứ Thiên Vương trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích sinh vào thiên cung, sai khiến quỷ thần, con sẽ hiện thân Thái tử của Tứ Thiên Vương trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện.”
Quán Thế Âm Bồ Tát tiếp tục mô tả cách ngài giúp đỡ các loại chúng sinh khác nhau:
“Đối với những người muốn giữ tâm thanh tịnh và xa rời dục vọng, con sẽ hiện thân là Phạm Vương (vua cõi trời Phạm Thiên) để chỉ dạy họ.”
“Nếu ai muốn làm chủ cõi trời, con sẽ hiện thân là Đế Thích (Ngọc Hoàng).”
“Đối với những người khao khát tự do và muốn du hành khắp mười phương, con sẽ hiện thân là Tự Tại Thiên.”
“Và với những ai muốn bay lượn trên không trung, con sẽ hiện thân là Đại Tự Tại Thiên.”
Ngài nói thêm: “Một số người muốn thống lãnh quỷ thần để bảo vệ đất nước, con sẽ hiện thân làm Thiên Đại Tướng Quân. Với những ai muốn bảo vệ thế giới và chúng sinh, con sẽ là Tứ Thiên Vương. Nếu ai muốn sinh lên thiên cung và sai khiến quỷ thần, con sẽ hiện thân là Thái tử của Tứ Thiên Vương.”
“Nếu có chúng sinh vui thích làm vua người để cai trị thế gian, con sẽ hiện thân Nhân Vương (vua loài người) trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích làm chủ gia tộc, được người đời kính nể, con sẽ hiện thân Trưởng giả trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích bàn luận danh ngôn, sống thanh tịnh, con sẽ hiện thân Cư sĩ trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích trị nước, quản lý việc bang giao, con sẽ hiện thân Tể quan trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh thích các số thuật, gìn giữ bản thân, con sẽ hiện thân Bà-la-môn trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có người nam hiếu học, muốn xuất gia trì giới luật, con sẽ hiện thân Tỳ-kheo trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có người nữ hiếu học, muốn xuất gia trì giới luật, con sẽ hiện thân Tỳ-kheo-ni trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có người nam vui thích trì năm giới, con sẽ hiện thân Ưu-bà-tắc trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có người nữ vui thích giữ năm giới, con sẽ hiện thân Ưu-bà-di trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện.”
Ngài giải thích tiếp: “Trong thế giới loài người, con cũng biến hiện tùy theo nhu cầu của nhiều người khác nhau.”
“Đối với người muốn làm vua, con hiện thân là Nhân Vương.”
“Đối với người muốn làm chủ gia tộc được kính trọng, con hiện thân là Trưởng giả.”
“Đối với người thích bàn luận đạo lý và sống thanh tịnh, con hiện thân là Cư sĩ (học giả ẩn dật).”
“Đối với người muốn trị nước an dân, con hiện thân là Tể quan.”
“Đối với người thích học thuật số và tự bảo vệ mình, con hiện thân là Bà-la-môn.”
Quán Thế Âm Bồ Tát cũng nói: “Đối với nam giới muốn xuất gia tu hành, con hiện thân là Tỳ-kheo. Đối với nữ giới muốn xuất gia, con hiện thân là Tỳ-kheo-ni.”
“Nếu có nam cư sĩ muốn giữ năm giới, con hiện thân là Ưu-bà-tắc; nếu là nữ cư sĩ muốn giữ năm giới, con hiện thân là Ưu-bà-di.”
Cuối cùng, Quán Thế Âm Bồ Tát nói: “Trong mọi trường hợp, con đều xuất hiện và thuyết pháp tùy theo mong muốn và nhu cầu của họ, để giúp họ đạt được mục tiêu và giải thoát.”
“Nếu có phụ nữ muốn quản lý việc trong nhà, lập thân để giúp nước nhà, con sẽ hiện thân Hoàng hậu, Vương phi hay Mệnh phụ phu nhân trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh không hoại nam căn, con sẽ hiện thân Đồng nam trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có xử nữ muốn giữ thân trinh tiết, không chịu xâm phạm, con sẽ hiện thân Đồng nữ trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có thiên nhân muốn thoát khỏi loài trời, con sẽ hiện thân Trời trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có rồng muốn thoát khỏi loài rồng, con sẽ hiện thân Rồng mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có Dược-xoa muốn thoát khỏi loài mình, con sẽ hiện thân Dược-xoa trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có Càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài mình, con sẽ hiện thân Càn-thát-bà trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có A-tu-la muốn thoát khỏi loài mình, con sẽ hiện thân A-tu-la trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có Khẩn-na-la muốn thoát khỏi loài mình, con sẽ hiện thân Khẩn-na-la trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có Ma-hầu-la-già muốn thoát khỏi loài mình, con sẽ hiện thân Ma-hầu-la-già trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có chúng sinh vui thích làm người, tu đạo nhân, con sẽ hiện thân Người mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Nếu có các loài phi nhân, hữu hình hay vô hình, hữu tưởng hay vô tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, con sẽ hiện thân đúng loài đó trước họ mà thuyết pháp, khiến họ được như nguyện. Đó gọi là ba mươi hai ứng thân mầu nhiệm thanh tịnh, vào các quốc độ. Tất cả đều do sức mầu nhiệm vô tác của Tam-muội văn huân văn tu mà thành tựu.”
Quán Thế Âm Bồ Tát tiếp tục mô tả cách ngài giúp đỡ các chúng sinh khác nhau:
“Đối với những phụ nữ muốn quán xuyến việc nhà, giúp nước, con sẽ hiện thân là Hoàng hậu, Vương phi hoặc Phu nhân để hướng dẫn họ.”
“Đối với những người nam giữ mình trong sạch, con sẽ hiện thân là Đồng nam để dạy dỗ họ.”
“Và đối với những thiếu nữ thích giữ gìn trinh tiết và không muốn bị xâm hại, tôi sẽ hiện thân trong hình ảnh của một Trinh Nữ.”
Quan Thế Âm Bồ Tát tiếp tục: “Các hóa thân của tôi không giới hạn trong thế giới loài người, mà còn bao gồm nhiều thế giới phi nhân khác nhau.”
“Nếu một chúng sinh cõi trời muốn vượt thoát khỏi cõi trời, tôi sẽ hiện thân là một vị trời.”
“Đối với loài rồng muốn vượt thoát thân phận rồng, tôi sẽ hiện thân là rồng.”
“Khi Dạ-xoa muốn thoát khỏi bộ tộc của họ, tôi sẽ hiện thân là Dạ-xoa.”
“Tương tự, đối với Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, và Ma-hầu-la-già, tôi sẽ hiện thân trong hình dáng tương ứng của họ để giúp họ vượt qua những giới hạn của mình.”
“Nếu ai đó muốn tu tập để trở thành người tốt hơn, tôi sẽ hiện thân trong hình ảnh con người.”
“Ngay cả đối với những chúng sinh phi nhân, dù có hình tướng hay không có hình tướng, có tư tưởng hay không có tư tưởng, miễn là họ muốn vượt thoát đồng loại, tôi sẽ hiện thân cùng hình dáng với họ để giáo hóa họ.”
Cuối cùng, Quan Thế Âm Bồ Tát kết luận: “Đây là những gì tôi gọi là ba mươi hai ứng thân. Tôi có thể đi vào các cõi nước khác nhau và hiện ra trong những hình dáng khác nhau. Tất cả điều này đạt được nhờ vào Tam-ma-địa sâu thẳm và sự tu tập, và là một sức mạnh tâm linh không thể nghĩ bàn.”
“Bạch Thế Tôn, con cũng dùng sức mạnh diệu dụng không cần nỗ lực của Kim Cang Tam Muội văn, tư, tu này, vì con cùng chung nỗi bi thương và lòng ngưỡng mộ với tất cả chúng sinh trong sáu đường của mười phương và ba đời, để khiến tất cả chúng sinh đạt được mười bốn loại đức vô úy từ thân và tâm con. Thứ nhất, vì con không quán âm thanh mà quán người quán, con khiến chúng sinh đau khổ và phiền não trong mười phương được giải thoát bằng cách quán âm thanh của họ. Thứ hai, vì tri kiến quay về nguồn cội, con khiến chúng sinh dù vào lửa lớn cũng không bị thiêu đốt. Thứ ba, vì quán và nghe quay về nguồn cội, con khiến chúng sinh không bị chết đuối nếu bị nước lớn cuốn trôi. Thứ tư, vì vọng tưởng bị đoạn trừ và tâm không có ý định giết hại, con khiến chúng sinh đi vào cõi quỷ không bị quỷ làm hại. Thứ năm, vì tánh nghe được huân tu và quay về nguồn cội, sáu căn tan rã và trở lại đồng như tánh nghe, khiến chúng sinh khi đối mặt với sự hãm hại, dao gậy đều gãy nát, làm cho binh khí như cắt nước hay thổi ánh sáng, không có bất kỳ tác dụng nào. Thứ sáu, vì tánh nghe và sự huân tu trong sáng và rực rỡ, bao trùm Pháp Giới, bóng tối không thể tồn tại, khiến chúng sinh không bị Dạ-xoa, La-sát, Cưu-bàn-trà, Tỳ-xá-già, Phú-đan-na, v.v… nhìn thấy, dù chúng ở ngay bên cạnh. Thứ bảy, vì tánh của âm thanh hoàn toàn tan biến, và quán nghe quay về nguồn cội, lìa bỏ mọi trần cấu và vọng tưởng, con khiến chúng sinh không bị xiềng xích trói buộc. Thứ tám, vì âm thanh bị diệt và tánh nghe viên mãn, sinh khởi lòng từ bi phổ quát, con khiến chúng sinh đi qua đường nguy hiểm không bị trộm cướp. Thứ chín, vì tánh nghe được huân tu và tách rời khỏi trần cảnh, và sắc tướng không thể cướp đoạt nó, con khiến tất cả chúng sinh tham dục rời bỏ tham lam và dục vọng. Thứ mười, vì âm thanh thanh tịnh và không còn trần cấu, căn và trần hòa hợp không hai, con khiến tất cả chúng sinh sân hận rời bỏ nóng giận và oán hờn. Thứ mười một, vì trần cấu tan biến và ánh sáng quay về, thân tâm của Pháp Giới như ly, trong suốt và không chướng ngại, khiến tất cả chúng sinh ngu độn và bị che lấp, những Nhất-xiển-đề, vĩnh viễn rời bỏ vô minh và bóng tối. Thứ mười hai, vì các hình tướng hòa hợp và tánh nghe quay về, con không rời khỏi Đạo Tràng mà đi vào thế gian, không phá hoại thế gian mà bao trùm mười phương, cúng dường vô số chư Phật, làm Pháp Vương Tử bên cạnh mỗi vị Phật, khiến chúng sinh không con trong Pháp Giới mong cầu con trai sẽ sinh được con trai phước đức và trí tuệ. Thứ mười ba, vì sáu căn viên mãn và không chướng ngại, chiếu soi rõ ràng không hai và bao trùm mười phương, thiết lập Đại Viên Cảnh và Không Như Lai Tạng, cung kính thọ nhận vô tận chư Phật trong mười phương và các pháp môn bí mật của các Ngài mà không sót mất, khiến chúng sinh không con trong Pháp Giới mong cầu con gái sẽ sinh được con gái đoan chính, phước đức, nhu thuận và được mọi người yêu mến. Thứ mười bốn, vì chúng sinh trong thế giới ba nghìn đại thiên này với mười tỷ mặt trời và mặt trăng, và các Pháp Vương Tử hiện đang trụ thế, có sáu mươi hai hằng hà sa pháp môn tu tập và mô phạm, giáo hóa chúng sinh tùy theo nhu cầu của họ với các phương tiện thiện xảo và trí tuệ khác nhau, và vì con đã đắc viên thông và mở cửa tai diệu dụng, thân tâm con vi diệu và bao trùm Pháp Giới, khiến chúng sinh trì niệm danh hiệu con có công đức ngang bằng với những người trì niệm danh hiệu của sáu mươi hai hằng hà sa Pháp Vương Tử. Bạch Thế Tôn, một danh hiệu của con không khác gì nhiều danh hiệu của họ. Nhờ sự tu tập của con, con đạt được chân viên thông. Đây gọi là mười bốn sức mạnh ban cho sự vô úy, làm lợi ích cho chúng sinh.”
Quan Thế Âm Bồ Tát tiếp tục kể lại những thần lực của mình: “Kính thưa Đức Phật, vì tôi đã tu tập phương pháp thiền định đặc biệt này, tôi có thể đồng cảm với tất cả chúng sinh. Điều này cho phép chúng sinh nhận được mười bốn loại công đức vô úy từ tôi.” Ngài bắt đầu giải thích chi tiết mười bốn công đức này:
“Thứ nhất, tôi có thể giúp đỡ những chúng sinh đau khổ. Chỉ cần họ gọi tên tôi, họ có thể được giải thoát.”
“Thứ hai, tôi có thể bảo vệ chúng sinh khỏi bị lửa lớn thiêu đốt.”
“Thứ ba, tôi có thể ngăn người chết đuối không bị chết đuối.”
“Thứ tư, tôi có thể bảo vệ mọi người khỏi bị ma quỷ làm hại.”
“Thứ năm, tôi có thể làm cho vũ khí trở nên vô hại, giống như cắt nước hoặc thổi gió.”
“Thứ sáu, tôi có thể khiến các loài quỷ mị không thể nhìn thấy và làm hại con người.”
“Thứ bảy, tôi có thể làm cho xiềng xích của tù nhân tự động nới lỏng.”
“Thứ tám, tôi có thể bảo vệ người lữ hành không bị cướp bóc làm hại.”
“Thứ chín, tôi có thể giúp mọi người tránh xa dục vọng.”
“Thứ mười, tôi có thể giúp những người nóng giận nguôi cơn giận.”
“Thứ mười một, tôi có thể giúp những người ngu si tránh xa sự ngu muội.”
“Thứ mười hai, tôi có thể giúp những người muốn có con trai sinh được đứa bé thông minh và phước đức.”
“Thứ mười ba, tôi có thể giúp những người muốn có con gái sinh được bé gái xinh đẹp và hiền lành.”
“Thứ mười bốn, tôi có thể khiến những người niệm danh hiệu tôi nhận được phước báo giống như niệm danh hiệu vô số Bồ Tát khác.”
Quan Thế Âm Bồ Tát kết luận: “Đây là mười bốn loại sức mạnh vô úy mà tôi có thể ban cho chúng sinh. Miễn là họ niệm danh hiệu tôi, họ có thể nhận được sự bảo vệ và phước lành này.”
“Bạch Thế Tôn, vì con đã đắc viên thông này và chứng ngộ đạo vô thượng, con cũng khéo léo đạt được bốn đức diệu dụng không thể nghĩ bàn và không cần nỗ lực. Thứ nhất, vì ban đầu con đắc diệu tâm văn (nghe), tinh hoa của tâm lìa bỏ cái nghe, và cái thấy, cái nghe, cái hay, cái biết không thể tách rời, trở thành một tánh giác viên mãn, thanh tịnh và quý báu. Do đó, con có thể hiện ra nhiều hình tướng vi diệu và nói vô lượng thần chú bí mật. Trong đó, con có thể hiện một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, cho đến một trăm lẻ tám đầu, một ngàn đầu, mười ngàn đầu, hoặc tám mươi bốn ngàn đầu Kim Cang. Hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười tay, mười hai tay, mười bốn, mười sáu, mười tám, hai mươi, đến hai mươi bốn tay, cho đến một trăm lẻ tám tay, một ngàn tay, mười ngàn tay, hoặc tám mươi bốn ngàn tay Thủ Ấn. Hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt, cho đến một trăm lẻ tám mắt, một ngàn mắt, mười ngàn mắt, hoặc tám mươi bốn ngàn mắt bảo báu thanh tịnh. Hoặc từ bi, hoặc oai nghiêm, hoặc trong định, hoặc trí tuệ, cứu độ và bảo vệ chúng sinh để đạt được đại tự tại.”
Quan Thế Âm Bồ Tát tiếp tục kể lại thần lực của mình: “Kính thưa Đức Phật, vì tôi đã tu tập đến cảnh giới cao nhất, tôi cũng đạt được bốn khả năng kỳ diệu không thể nghĩ bàn.” Ngài bắt đầu giải thích chi tiết bốn khả năng này:
“Thứ nhất, tâm tôi trở nên thanh tịnh đến mức tôi có thể hiện ra nhiều hình tướng khác nhau. Tôi có thể xuất hiện với một đầu, ba đầu, hoặc thậm chí hàng ngàn đầu. Tôi cũng có thể xuất hiện với số lượng cánh tay khác nhau, từ hai, bốn, đến hàng chục ngàn cánh tay. Mắt tôi cũng có thể thay đổi, từ hai đến hàng ngàn con mắt. Những biến hóa này đều nhằm giúp đỡ chúng sinh, đôi khi từ bi, đôi khi oai nghiêm, đôi khi tĩnh lặng, và đôi khi tràn đầy trí tuệ.”
“Thứ hai, vì con dùng nghe và tư duy để thoát khỏi sáu trần, giống như âm thanh xuyên qua tường vách không chướng ngại, con có thể khéo léo hiện ra từng hình tướng và tụng từng thần chú. Những hình tướng và thần chú này có thể ban sự vô úy cho chúng sinh. Do đó, trong vô số cõi nước ở mười phương, con được gọi là Đấng Thí Vô Úy.”
“Thứ hai, tâm tôi có thể vượt qua mọi chướng ngại. Giống như âm thanh có thể xuyên qua tường, tôi có thể tự do thay đổi hình dạng và tụng các thần chú kỳ diệu khác nhau. Vì vậy, trong các thế giới mười phương, mọi người gọi tôi là ‘Đấng Thí Vô Úy’.”
“Thứ ba, vì con tu tập sự viên thông nhiệm màu và trọn vẹn vốn có của căn thanh tịnh, trong các thế giới con đi qua, con khiến chúng sinh xả bỏ thân thể và của báu để cầu xin lòng từ bi của con.”
“Thứ ba, vì tôi đã tu tập đến trạng thái thanh tịnh nhất, bất cứ nơi nào tôi đến, chúng sinh đều sẵn lòng xả bỏ bảo vật của họ để cầu xin sự thương xót của tôi.”
“Thứ tư, con đã đắc Phật tâm và chứng ngộ rốt ráo. Con có thể dâng cúng đủ loại bảo vật quý giá lên mười phương chư Phật, và cả chúng sinh trong sáu đường của Pháp Giới. Nếu họ cầu vợ, được vợ; cầu con, được con; cầu Tam Muội, được Tam Muội; cầu trường thọ, được trường thọ; cho đến cầu Đại Niết Bàn, được Đại Niết Bàn.”
“Thứ tư, tôi đã đạt đến cảnh giới giống như Đức Phật. Tôi không chỉ có thể cúng dường chư Phật mười phương mà còn có thể thỏa mãn những nguyện vọng khác nhau của chúng sinh trong sáu đường. Dù họ cầu vợ, con, trí tuệ, trường thọ, hay thậm chí là Niết Bàn tối thượng, tôi đều có thể giúp họ đạt được.”
“Đức Phật hỏi về viên thông. Con đắc Tam Muội qua cửa tai, với tâm phan duyên được an tịnh nhờ nhập lưu, đắc Tam Muội và thành tựu Bồ Đề. Đây là đệ nhất. Bạch Thế Tôn, Đức Phật Như Lai kia khen ngợi con khéo được pháp môn viên thông, và giữa đại chúng, Ngài thọ ký cho con hiệu là Quan Thế Âm. Vì con quán sát và lắng nghe sự sáng tỏ viên mãn khắp mười phương, nên danh hiệu Quan Thế Âm lan truyền khắp mười phương.”
Cuối cùng, Quan Thế Âm Bồ Tát kết luận: “Đức Phật hỏi tôi làm thế nào đắc viên thông. Tôi đã tu tập qua cơ quan tai, tập trung vào việc lắng nghe, và cuối cùng đạt đến trạng thái tự tại. Đây là phương pháp tu tập cốt lõi của tôi.”
Ngài tiếp tục: “Đức Phật kia đã khen ngợi tôi giỏi nắm bắt phương pháp tu tập này và đặt tên cho tôi là ‘Quan Thế Âm’ trước đám đông. Vì tôi có thể nghe và quán sát các thế giới mười phương, nên danh hiệu này đã lan truyền khắp mười phương.”
Bấy giờ, Thế Tôn từ Tòa Sư Tử, phóng ánh sáng báu từ năm vóc, chiếu soi đỉnh đầu của vi trần số chư Phật Như Lai và các Pháp Vương Tử Bồ Tát trong mười phương. Các vị Như Lai kia cũng từ năm vóc trong thế giới vi trần phóng ánh sáng báu chiếu đến đỉnh đầu Phật, cùng đỉnh đầu của tất cả Đại Bồ Tát và A-la-hán trong hội chúng. Cây cối và ao hồ đều tấu lên pháp âm, và các luồng ánh sáng đan xen như lưới lụa báu. Đại chúng cảm nhận điều chưa từng có, và tất cả đều phổ biến đắc Kim Cang Tam Muội. Khi ấy, chư thiên mưa xuống hàng trăm hoa sen báu, xen lẫn các màu xanh, vàng, đỏ, trắng. Hư không mười phương biến thành màu của bảy báu. Núi sông đất đai của thế giới Ta-bà này đều không thấy, chỉ thấy các quốc độ vi trần số trong mười phương hợp lại thành một cõi. Thiên ca và thiên nhạc tự nhiên hòa tấu.
Lúc này, khung cảnh của câu chuyện thay đổi một cách kỳ diệu. Đức Phật ngồi trên Tòa Sư Tử và đột nhiên phóng ra ánh sáng báu từ toàn thân, chiếu soi chư Phật và Bồ Tát mười phương. Các vị Phật khác cũng phóng ánh sáng báu, chiếu soi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Bồ Tát hiện diện. Cả thế giới dường như biến thành một mạng lưới ánh sáng đan xen.
Ngay cả cây cối và ao hồ cũng tấu lên âm thanh của Pháp. Mọi người hiện diện đều cảm thấy một trải nghiệm chưa từng có và đạt được một trạng thái thiền định đặc biệt. Mưa hoa sen đầy màu sắc bắt đầu rơi từ trên trời xuống, và cả thế giới trở nên tráng lệ. Núi sông đất đai ban đầu biến mất, chỉ còn lại cảnh tượng mười phương Tịnh Độ hợp nhất thành một. Âm thanh thiên nhạc vi diệu tự nhiên vang vọng trong không trung.
Khi ấy Như Lai bảo Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi: “Ông nay hãy quán sát hai mươi lăm vị Vô Học Đại Bồ Tát và A-la-hán này. Mỗi vị đã nói về phương tiện mà họ ban đầu đắc Đạo, và tất cả đều tuyên bố đã tu tập chân viên thông. Sự tu tập của họ thực sự không có cao thấp, và không có sự khác biệt về trước sau. Nay Ta muốn A-nan giác ngộ xem trong hai mươi lăm pháp tu nào phù hợp với căn cơ của ông ấy. Cũng vậy, đối với chúng sinh trong cõi này sau khi Ta diệt độ, những ai muốn nhập Bồ Tát thừa và cầu Đạo vô thượng, cánh cửa phương tiện nào là dễ thành tựu?” Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi vâng chịu lời dạy từ bi của Phật, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ dưới chân Phật, và nương oai thần của Phật, nói kệ lên Phật.
Lúc này, Đức Phật nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: “Hãy nhìn xem, hai mươi lăm vị đại tu hành này đều đã kể lại phương pháp ban đầu đắc Đạo của họ. Những phương pháp này đều hoàn hảo và không có cao thấp. Tuy nhiên, Ta muốn giúp A-nan giác ngộ, và Ta cũng muốn chỉ ra một con đường dễ dàng cho chúng sinh tương lai tu tập. Ông nghĩ phương pháp nào là phù hợp nhất?” Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cung kính đứng dậy, đảnh lễ Phật, và chuẩn bị trả lời câu hỏi quan trọng này.
“Biển giác vốn thanh tịnh viên mãn; sự trong sáng viên mãn là bản giác nhiệm màu. Bản lai minh chiếu sinh ra sở trần; sở trần được lập, tánh chiếu soi bị mất. Mê mờ và vọng tưởng tạo ra hư không; nương vào hư không, thế giới được thành lập. Tư tưởng ngưng kết thành quốc độ; tri giác trở thành chúng sinh. Hư không sinh ra trong đại giác, như một bọt nước nổi lên trong biển cả. Các cõi nước vi trần hữu lậu đều sinh ra từ hư không.”
“Ngày xửa ngày xưa, có một biển giác ngộ rộng lớn vô biên. Đại dương này trong suốt như pha lê, hoàn hảo và chứa đựng vô hạn những điều huyền bí.”
“Trong đại dương này, có một ánh sáng rực rỡ. Ánh sáng này chiếu soi mọi thứ xung quanh, nhưng kỳ lạ thay, khi nó chiếu soi những vật khác, bản thân nó trở nên ít rõ ràng hơn.”
“Một ngày nọ, một màn sương mù xuất hiện trên đại dương này. Sương mù này hình thành cái mà chúng ta biết là hư không. Trong hư không này, các thế giới khác nhau dần dần hình thành.”
“Trí tưởng tượng của con người bắt đầu tạo ra những vùng đất xinh đẹp trong các thế giới này. Theo thời gian, sự sống có tri giác cũng bắt đầu xuất hiện, đó là cái mà chúng ta gọi là chúng sinh.”
Nhưng hãy nhớ một điều quan trọng: tất cả những điều này, bao gồm cả hư không, các thế giới và chúng sinh, thực ra chỉ là một bong bóng nhỏ trong đại dương nhận thức đó. Giống như một bong bóng thỉnh thoảng nổi lên trên mặt biển, trông nó có vẻ tách biệt, nhưng thực ra nó là một phần không thể tách rời của đại dương.
Tất cả các thế giới chúng ta thấy, dù lớn hay nhỏ, đều được sinh ra từ hư không này. Chúng có vẻ thật, nhưng về bản chất, chúng cũng hư ảo như những bong bóng trên mặt biển.
“Bong bóng vỡ và hư không vốn chẳng có; huống chi ba loại hữu. Trở về nguồn, tánh không hai; phương tiện có nhiều cửa. Tánh thánh thấu suốt tất cả; cả thuận và nghịch đều là phương tiện. Người mới bắt đầu nhập Tam-ma-địa có tốc độ khác nhau. Sắc và tưởng kết thành trần; bản thể và hiểu biết không thể thấu suốt. Làm sao để đạt được sự rõ ràng và thấu đáo, và do đó đạt được viên thông?”
Trên đại dương nhận thức bao la đó, những bong bóng nhỏ đến rồi đi.
Một ngày nọ, một bong bóng nhỏ thông minh chợt nhận ra một sự thật. Nó nói với những bong bóng khác: “Các bạn ơi, các bạn có biết không? Khi chúng ta biến mất, không có gì thực sự biến mất cả. Bởi vì chúng ta vốn là một phần của đại dương này!”
Bong bóng nhỏ tiếp tục: “Vì tất cả chúng ta đều đến từ cùng một đại dương, bản chất của chúng ta thực ra là giống nhau. Chỉ là chúng ta xuất hiện với hình dạng và kích thước khác nhau mà thôi.”
Lúc này, một bong bóng già hơn ngắt lời: “Đúng vậy! Có rất nhiều cách để trở về nguồn, giống như chúng ta có thể hòa vào biển từ những hướng khác nhau. Các bậc thánh nhân biết rằng dù thuận dòng hay nghịch dòng, cả hai đều là đường về nhà.”
Những bong bóng trẻ lắng nghe một cách nửa hiểu nửa không và liên tục đặt câu hỏi. Bong bóng già kiên nhẫn giải thích: “Khi bắt đầu tu tập, tốc độ của mỗi người có thể khác nhau. Một số bong bóng hòa nhập nhanh, một số chậm hơn, điều này đều bình thường.”
Bong bóng già nghiêm túc nói: “Tuy nhiên, nếu chúng ta quá chấp vào hình dạng và màu sắc của mình, chúng ta sẽ hình thành một lớp màng vô hình ngăn cản chúng ta hòa vào biển. Chúng ta phải buông bỏ những chấp trước này để thực sự trở về nguồn.”
Cuối cùng, bong bóng già mỉm cười và nói: “Khi chúng ta thực sự hiểu chân lý này và buông bỏ mọi chấp trước, chúng ta có thể hoàn toàn hòa nhập vào đại dương nhận thức này và đạt được sự viên thông và tự tại thực sự.”
“Âm thanh trộn lẫn với ngôn ngữ, nhưng chúng hoạt động như tên gọi và cụm từ. Một không chứa tất cả; làm sao có thể đạt được viên thông? Mùi được biết qua sự tiếp xúc; tách rời ra, nó vốn không tồn tại. Nhận thức không thường hằng; làm sao có thể đạt được viên thông? Tánh của vị không phải là nội tại; nó chỉ tồn tại khi nếm. Nhận thức không thường hằng; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong một thế giới diệu kỳ đầy rẫy những trải nghiệm giác quan khác nhau, có vài tinh linh nhỏ thú vị sinh sống: Tinh linh Âm thanh, Tinh linh Hương thơm, và Tinh linh Vị giác. Mỗi ngày, họ thảo luận về cách thực sự hiểu được bản chất của thế giới này.
Tinh linh Âm thanh tự hào nói: “Tôi có thể hiểu tất cả ngôn ngữ và âm thanh!”
Nhưng vị trưởng lão thông thái lắc đầu và nói: “Nhưng, Âm thanh bé nhỏ, con chỉ có thể hiểu nghĩa bề mặt của từ ngữ và câu nói. Một âm thanh đơn lẻ không thể chứa đựng tất cả ý nghĩa. Làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Âm thanh cúi đầu xấu hổ.
Sau đó, Tinh linh Hương thơm hăm hở thử sức: “Tôi có thể phân biệt tất cả các mùi!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Hương thơm bé nhỏ, con chỉ có thể cảm nhận một mùi nhất định khi con ngửi nó. Khi mùi tan đi, con không còn cảm nhận được nó nữa. Sự nhận biết của con không bền lâu, vậy làm sao con có thể hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Hương thơm gật đầu trầm ngâm.
Cuối cùng, Tinh linh Vị giác tự tin nói: “Tôi có thể nếm tất cả các món ăn ngon!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Vị giác bé nhỏ, cảm giác của con cũng phụ thuộc vào những thứ bên ngoài. Con chỉ có thể cảm nhận vị khi nếm thức ăn. Trải nghiệm của con không vĩnh cửu và bất biến, vậy làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Vị giác cũng rơi vào trầm tư.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các tinh linh: “Các con, mỗi người trong các con đều có khả năng độc đáo, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự giác ngộ sâu sắc và bền lâu hơn. Hãy tiếp tục nỗ lực, một ngày nào đó các con sẽ hiểu.”
“Xúc giác rõ ràng qua sự tiếp xúc; không có tiếp xúc thì không có sự rõ ràng. Hợp và tan không cố định về bản chất; làm sao có thể đạt được viên thông? Pháp được gọi là nội trần; dựa vào trần, phải có đối tượng. Chủ thể và đối tượng không bao trùm tất cả; làm sao có thể đạt được viên thông? Tánh thấy rõ ràng, hiểu phía trước nhưng không hiểu phía sau. Bốn chiều thiếu mất một nửa; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong hành trình khám phá thế giới giác quan, ba tinh linh nhỏ mới đã gia nhập: Tinh linh Xúc giác, Tinh linh Suy nghĩ, và Tinh linh Tầm nhìn. Họ cũng muốn hiểu sự thật của thế giới này.
Tinh linh Xúc giác hào hứng nói: “Tôi có thể cảm nhận mọi sự va chạm!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Xúc giác bé nhỏ, con quả thực có thể cảm nhận rất nhiều, nhưng cảm giác của con luôn thay đổi. Khi con chạm vào thứ gì đó, con cảm thấy nó; khi con rời đi, con không cảm thấy nữa. Trải nghiệm của con không ổn định, làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Xúc giác gật đầu trầm ngâm.
Tinh linh Suy nghĩ tự tin nói: “Tôi có thể suy nghĩ về mọi vấn đề!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Suy nghĩ bé nhỏ, con quả thực rất thông minh. Nhưng suy nghĩ của con luôn dựa vào những khái niệm hoặc ý tưởng nhất định. Con không thể bao quát mọi khả năng, vậy làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Suy nghĩ rơi vào trầm tư.
Cuối cùng, Tinh linh Tầm nhìn tự hào nói: “Thị lực của tôi rất tốt, tôi có thể nhìn rất xa!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Tầm nhìn bé nhỏ, con quả thực nhìn rất xa. Nhưng con chỉ có thể nhìn thấy những gì ở phía trước, không phải những gì ở phía sau. Tầm nhìn của con cũng bị giới hạn, không phải là trọn vẹn 360 độ. Làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Tầm nhìn cũng bắt đầu suy ngẫm về những giới hạn của mình.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các tinh linh: “Các con, mỗi người trong các con đều có khả năng độc đáo, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự giác ngộ toàn diện và bền lâu hơn. Đừng thỏa mãn với khả năng hiện tại của mình, hãy tiếp tục khám phá và phá vỡ những giới hạn của mình.”
“Hơi thở ngụ ý vào và ra; khi giác ngộ, không có sự giao nhau. Tách rời ra, nó không liên quan đến việc vào; làm sao có thể đạt được viên thông? Lưỡi không phải là cơ quan không có nguyên nhân; nhận thức nảy sinh do hương vị. Khi hương vị mất đi, nhận thức không tồn tại; làm sao có thể đạt được viên thông? Thân thể giống như vật được chạm vào; cả hai đều không phải là sự quán chiếu giác ngộ hoàn hảo. Giới hạn và số lượng không hòa hợp; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong hành trình khám phá thế giới giác quan, ba tinh linh nhỏ mới đã gia nhập: Tinh linh Hơi thở, Tinh linh Vị giác, và Tinh linh Thân thể. Họ cũng khao khát hiểu được sự thật của thế giới này.
Tinh linh Hơi thở tự hào nói: “Tôi có thể kiểm soát hơi thở và cảm nhận luồng không khí!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Hơi thở bé nhỏ, con quả thực có thể cảm nhận hơi thở vào và ra. Nhưng khi con thở ra, việc hít vào dừng lại; khi con hít vào, việc thở ra dừng lại. Trải nghiệm của con bị gián đoạn, làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Hơi thở gật đầu trầm ngâm.
Tinh linh Vị giác hào hứng nói: “Tôi có thể nếm tất cả các món ăn ngon!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Vị giác bé nhỏ, con quả thực có thể cảm nhận nhiều mùi vị khác nhau. Nhưng chỉ khi thức ăn ở trong miệng con mới có thể nếm được. Khi thức ăn hết, cảm giác của con biến mất. Trải nghiệm của con không bền lâu, vậy làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Vị giác lộ vẻ trầm tư.
Cuối cùng, Tinh linh Thân thể tự tin nói: “Tôi có thể cảm nhận mọi sự va chạm!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Thân thể bé nhỏ, con quả thực có thể cảm nhận rất nhiều. Nhưng con chỉ có thể cảm nhận những gì con đang chạm vào, và cảm giác của con tách biệt với vật được chạm. Trải nghiệm của con không trọn vẹn, làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Thân thể cũng bắt đầu suy ngẫm về những giới hạn của mình.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các tinh linh: “Các con, mỗi người trong các con đều có khả năng độc đáo, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự giác ngộ toàn diện và bền lâu hơn. Đừng bị giới hạn bởi khả năng của mình, hãy học cách vượt qua những giới hạn này và tìm kiếm sự hiểu biết sâu sắc hơn.”
“Trí tuệ bị nhầm lẫn bởi những suy nghĩ hỗn loạn; sự hiểu biết rõ ràng không bao giờ được nhìn thấy. Suy nghĩ không thể thoát khỏi; làm sao có thể đạt được viên thông? Thức thấy sự pha trộn của ba, nhưng điều tra nguồn gốc, nó không có đặc điểm. Tự tánh vốn không xác định; làm sao có thể đạt được viên thông? Tâm nghe và thấu suốt mười phương, sinh ra từ sức mạnh nhân quả lớn. Người mới bắt đầu không thể nhập; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong hành trình khám phá thế giới giác quan, ba tinh linh nhỏ mới đã gia nhập: Tinh linh Suy nghĩ, Tinh linh Nhận thức, và Tinh linh Tâm-Thính. Họ cũng muốn hiểu sự thật của thế giới này.
Tinh linh Suy nghĩ tự hào nói: “Tôi có thể suy nghĩ về mọi thứ!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Suy nghĩ bé nhỏ, con quả thực có thể suy nghĩ về nhiều thứ. Nhưng suy nghĩ của con thường hỗn loạn và khó thực sự bình tĩnh lại. Con luôn bị vướng mắc bởi những ý tưởng khác nhau và không thể thoát ra. Với một trạng thái hỗn loạn như vậy, làm sao con có thể nói con hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Suy nghĩ cúi đầu xấu hổ.
Tinh linh Nhận thức tự tin nói: “Tôi có thể nhận ra và hiểu mọi thứ!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Nhận thức bé nhỏ, con quả thực có thể nhận ra nhiều thứ. Nhưng sự nhận biết của con thường là sự pha trộn của mắt, tai, ý thức, v.v. Nếu con điều tra đến cùng, con sẽ thấy rằng những sự nhận biết này bản thân chúng không có bản chất cố định. Sự hiểu biết của con không ổn định, vậy làm sao con có thể nói con hoàn toàn làm chủ thế giới này?” Tinh linh Nhận thức lộ vẻ bối rối.
Cuối cùng, Tinh linh Tâm-Thính hào hứng nói: “Tôi có thể nghe thấy âm thanh từ mười phương!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Tâm-Thính bé nhỏ, khả năng của con quả thực đặc biệt. Nhưng khả năng này được sinh ra bởi những nhân duyên mạnh mẽ. Đối với người mới bắt đầu, trạng thái này rất khó nhập vào. Nếu ngay cả việc bắt đầu cũng khó khăn, làm sao con có thể nói con đã hoàn toàn hiểu thế giới này?” Tinh linh Tâm-Thính gật đầu trầm ngâm.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các tinh linh: “Các con, mỗi người trong các con đều có khả năng độc đáo, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự giác ngộ sâu sắc và thuần khiết hơn. Đừng bị giới hạn bởi khả năng hiện tại của mình, hãy học cách vượt qua những giới hạn này và tìm kiếm sự hiểu biết bản chất hơn.”
“Quán mũi vốn là phương tiện, chỉ để thu nhiếp tâm ở lại. Nếu ở lại trở thành cái mà tâm trú ngụ, làm sao có thể đạt được viên thông? Thuyết pháp chơi đùa với âm thanh và từ ngữ; sự giác ngộ đầu tiên đạt được bởi người nói. Tên gọi và cụm từ không phải là không có lậu hoặc; làm sao có thể đạt được viên thông? Trì giới chỉ kiềm chế thân; không có thân, không có gì để kiềm chế. Nó vốn không bao trùm tất cả; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong hành trình khám phá thế giới thực hành, ba hành giả nhỏ mới đã gia nhập: Hành giả Đếm Hơi Thở, Hành giả Thuyết Pháp, và Hành giả Trì Giới. Họ đều muốn tìm con đường dẫn đến chân lý.
Hành giả Đếm Hơi Thở tự tin nói: “Tôi có thể kiểm soát tâm trí mình bằng cách đếm hơi thở!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Hành giả bé nhỏ, đếm hơi thở quả thực là một cách tốt để tập trung sự chú ý. Nhưng đây chỉ là một kỹ thuật sơ bộ để làm dịu tâm trí con. Nếu con chỉ dừng lại ở giai đoạn này, tâm trí con vẫn bị ràn buộc bởi một cái gì đó. Liệu điều này có thể hiểu đầy đủ bản chất của thế giới không?” Hành giả Đếm Hơi Thở gật đầu trầm ngâm.
Hành giả Thuyết Pháp hào hứng nói: “Tôi có thể giải thích Phật pháp bằng những lời lẽ hay đẹp!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Người thuyết giảng bé nhỏ, con quả thực có thể dùng ngôn ngữ hay đẹp để giải thích Phật pháp. Nhưng từ ngữ và tên gọi bản thân chúng không phải là chân lý tối hậu. Chúng chỉ có thể giúp những người đã có chút hiểu biết. Nếu con quá chấp vào từ ngữ, làm sao con có thể thực sự nhận ra chân lý vượt ra ngoài ngôn ngữ?” Hành giả Thuyết Pháp lộ vẻ trầm tư.
Cuối cùng, Hành giả Trì Giới nghiêm túc nói: “Tôi nghiêm túc tuân thủ mọi giới luật!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Người trì giới bé nhỏ, tuân thủ giới luật quả thực rất quan trọng. Nhưng giới luật chủ yếu được dùng để kiềm chế thân thể và hành vi. Nếu không có thân thể, giới luật kiềm chế cái gì? Hơn nữa, chỉ đơn giản trì giới không thể bao quát mọi khía cạnh của thực hành. Làm sao con có thể nói rằng con có thể hoàn toàn hiểu thế giới này chỉ bằng cách trì giới?” Hành giả Trì Giới cũng bắt đầu suy ngẫm về cách thực hành của mình.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các hành giả: “Các con, mỗi phương pháp thực hành của các con đều có giá trị của nó, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự thực hành toàn diện và sâu sắc hơn. Đừng bị giới hạn bởi một phương pháp, hãy học cách tích hợp và tìm kiếm một con đường thực hành hoàn hảo hơn.”
“Thần thông vốn đến từ những nguyên nhân trong quá khứ; chúng liên quan thế nào đến sự phân biệt Pháp? Suy nghĩ và điều kiện không tách rời khỏi đối tượng; làm sao có thể đạt được viên thông? Nếu quán tánh của đất, sự cứng rắn và chướng ngại không phải là sự thấu suốt. Sự tồn tại hữu vi không phải là thánh tánh; làm sao có thể đạt được viên thông? Nếu quán tánh của nước, suy nghĩ không có thật. Chân như không phải là nhận thức hay quán chiếu; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong hành trình khám phá thế giới thực hành, bốn hành giả mới đã gia nhập: Hành giả Thần Thông, Hành giả Quán Tưởng, Hành giả Địa Đại, và Hành giả Thủy Đại. Họ đều khao khát tìm ra con đường dẫn đến chân lý.
Hành giả Thần Thông tự hào nói: “Tôi có thể sử dụng nhiều loại thần thông khác nhau!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Thần Thông bé nhỏ, khả năng của con quả thực đáng kinh ngạc. Nhưng những sức mạnh này được sinh ra bởi những nguyên nhân và điều kiện trong quá khứ, không phải do phân biệt Pháp. Khả năng của con là ma thuật, nhưng nếu con chỉ dựa vào điều này, làm sao con có thể thực sự hiểu bản chất của thế giới?” Hành giả Thần Thông cúi đầu xấu hổ.
Hành giả Quán Tưởng tự tin nói: “Tôi có thể quán tưởng nhiều cõi giới khác nhau!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Quán Tưởng bé nhỏ, trí tưởng tượng của con quả thực phong phú. Nhưng sự quán tưởng của con luôn dựa vào những thứ bên ngoài. Nếu con không thể vượt qua những khái niệm bên ngoài này, làm sao con có thể thực sự nhận ra chân lý vượt ra ngoài mọi thứ?” Hành giả Quán Tưởng lộ vẻ trầm tư.
Hành giả Địa Đại nghiêm túc nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của đất!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Người quan sát đất bé nhỏ, quan sát tánh của đất quả thực là một phương pháp thực hành. Nhưng tánh của đất thì cứng, điều này có thể làm tâm trí con không linh hoạt. Hơn nữa, đất là pháp hữu vi và thay đổi. Nếu con chấp vào vật thay đổi này, làm sao con có thể nhận ra thánh tánh bất biến?” Hành giả Địa Đại gật đầu trầm ngâm.
Hành giả Thủy Đại hào hứng nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của nước!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Người quan sát nước bé nhỏ, quan sát tánh của nước cũng là một phương pháp tốt. Nhưng tánh của nước là trôi chảy, điều này có thể làm cho suy nghĩ của con không ổn định. Trạng thái thực sự của Chân Như vượt qua mọi sự quán tưởng. Nếu con chỉ dừng lại ở mức độ quán tưởng, làm sao con có thể thực sự nhận ra Chân Như không sinh không diệt?” Hành giả Thủy Đại cũng bắt đầu suy ngẫm về cách thực hành của mình.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các hành giả: “Các con, mỗi phương pháp thực hành của các con đều có giá trị của nó, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự giác ngộ sâu sắc và bản chất hơn. Đừng bị giới hạn bởi một phương pháp, hãy học cách vượt qua những phương pháp này và tìm kiếm chân lý trực tiếp và tối hậu hơn.”
“Nếu quán tánh của lửa, ghét bỏ sự tồn tại không phải là sự lìa bỏ thực sự. Đó không phải là phương tiện cho người mới bắt đầu; làm sao có thể đạt được viên thông? Nếu quán tánh của gió, động và tĩnh không phải là không có sự đối lập. Đối lập không phải là sự giác ngộ tối thượng; làm sao có thể đạt được viên thông? Nếu quán tánh của không, sự ngu muội và cùn lụt về bản chất không phải là sự giác ngộ. Thiếu sự giác ngộ thì khác với Bồ đề; làm sao có thể đạt được viên thông?”
Trong hành trình khám phá thế giới thực hành, ba hành giả mới đã gia nhập: Hành giả Hỏa Đại, Hành giả Phong Đại, và Hành giả Không Đại. Họ đều khao khát tìm ra con đường dẫn đến chân lý.
Hành giả Hỏa Đại hào hứng nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của lửa!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Người quan sát lửa bé nhỏ, quan sát tánh của lửa quả thực có thể khiến người ta cảm thấy ghê tởm thế giới. Nhưng sự giải thoát thực sự không chỉ là ghét bỏ thế giới thực. Nếu con chỉ muốn trốn thoát thay vì thực sự vượt qua, đây có thể không phải là phương pháp tốt nhất cho người mới bắt đầu. Con có nghĩ rằng điều này có thể hiểu hoàn toàn bản chất của thế giới không?” Hành giả Hỏa Đại gật đầu trầm ngâm.
Hành giả Phong Đại hào hứng nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của gió!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Người quan sát gió bé nhỏ, gió quả thực có động và tĩnh, phương pháp quan sát này rất thú vị. Nhưng động và tĩnh là những khái niệm tương đối, chúng luôn đối lập nhau. Trạng thái giác ngộ cao nhất vượt qua sự đối lập này. Nếu con dừng lại ở mức độ tương đối này, làm sao con có thể nhận ra chân lý tuyệt đối?” Hành giả Phong Đại lộ vẻ trầm tư.
Hành giả Không Đại bình tĩnh nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của không!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng nói: “Người quan sát không bé nhỏ, quan sát tánh không quả thực là một phương pháp thực hành sâu sắc. Nhưng nếu không cẩn thận, phương pháp này có thể khiến người ta trở nên ngu muội và mất đi khả năng nhận biết. Bồ đề chân chính đầy dẫy trí tuệ và sự nhận biết. Nếu con rơi vào trạng thái vô minh, làm sao con có thể đạt được sự giác ngộ thực sự?” Hành giả Không Đại cũng bắt đầu suy ngẫm về cách thực hành của mình.
Vị trưởng lão thông thái cuối cùng nói với tất cả các hành giả: “Các con, mỗi phương pháp thực hành của các con đều có giá trị độc đáo của nó, nhưng để thực sự hiểu bản chất của thế giới này đòi hỏi sự giác ngộ toàn diện và sâu sắc hơn. Đừng bị giới hạn bởi một phương pháp, hãy học cách tích hợp và tìm kiếm một con đường thực hành hoàn hảo và tối hậu hơn.”
“Nếu quán tánh của thức, thức không thường hằng. Giữ nó trong tâm là sai lầm; làm sao có thể đạt được viên thông? Tất cả các hoạt động đều vô thường; tánh của niệm không có sinh hay diệt. Nhân và quả bây giờ đã khác; làm sao có thể đạt được viên thông? Tôi nay thưa với Thế Tôn, Đức Phật xuất hiện trong cõi Ta bà. Thân giáo chân thật ở cõi này nằm ở âm thanh và sự nghe thanh tịnh.”
Trong hành trình khám phá thế giới thực hành, hai hành giả mới đã gia nhập: Hành giả Thức Đại và Hành giả Niệm Đại. Họ đều khao khát tìm ra con đường dẫn đến chân lý. Cùng lúc đó, một vị hiền giả cũng đến gặp Phật, sẵn sàng chia sẻ những hiểu biết của mình.
Hành giả Thức Đại tự tin nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của thức!”
Vị trưởng lão thông thái nhẹ nhàng đáp: “Người quan sát thức bé nhỏ, quan sát thức quả thực là một phương pháp sâu sắc. Nhưng con có nhận thấy rằng thức luôn thay đổi và không bao giờ ở yên trong một trạng thái? Nếu con chấp vào cái thức luôn thay đổi này, sự thực hành của con có thể trở nên hư ảo. Con có nghĩ rằng điều này có thể hiểu hoàn toàn bản chất của thế giới không?” Hành giả Thức Đại gật đầu trầm ngâm.
Hành giả Niệm Đại hào hứng nói: “Tôi thực hành bằng cách quan sát tánh của niệm!”
Vị trưởng lão thông thái mỉm cười và nói: “Người quan sát niệm bé nhỏ, quan sát niệm quả thực cho phép người ta thấy một số điều thú vị. Bản chất của niệm dường như không sinh không diệt, nhưng nhân và quả mà nó tạo ra hoàn toàn khác nhau. Nếu con chỉ dừng lại ở mức độ quan sát niệm và bỏ qua những tác động thực tế mà nó mang lại, làm sao con có thể thực sự hiểu sự vận hành của thế giới này?” Hành giả Niệm Đại lộ vẻ trầm tư.
Lúc này, vị hiền giả bước đến trước Phật và cung kính nói: “Kính bạch Thế Tôn, Ngài đã đến thế giới đầy đau khổ này và chỉ ra phương hướng thực hành cho chúng tôi. Tại đây, phương pháp thực hành thanh tịnh và chân thật nhất là thanh lọc tâm trí chúng tôi thông qua sự nghe.”
Vị hiền giả tiếp tục: “Bằng cách nghe Phật pháp, chúng ta có thể dần dần hiểu chân lý và thanh lọc tâm trí mình. Phương pháp này đơn giản và trực tiếp, nhưng sâu sắc. Nó phù hợp với mọi người ở mọi trình độ và là phương pháp thực hành hoàn hảo nhất.” Đức Phật mỉm cười nhân từ sau khi nghe những lời của vị hiền giả.
Ngài nói với tất cả các hành giả: “Các con, mỗi phương pháp thực hành của các con đều có giá trị. Nhưng như vị hiền giả này đã nói, trong thế giới này, thực hành bằng cách nghe Phật pháp là một phương pháp đặc biệt phù hợp. Nó có thể giúp các con dần dần hiểu chân lý và cuối cùng đạt được trạng thái viên thông hoàn hảo.”
“Nếu các ông muốn đạt được Tam ma địa, hãy thực sự nhập vào qua sự nghe. Rời bỏ đau khổ và đạt được giải thoát, Quán Thế Âm thật tuyệt vời biết bao! Trong số kiếp nhiều như cát sông Hằng, nhập vào các cõi Phật nhiều như vi trần. Đạt được sức mạnh tự tại to lớn, ban cho chúng sinh sự không sợ hãi. Âm thanh vi diệu của Quán Thế Âm, tiếng Phạm và tiếng hải triều. Cứu thế giới và mang lại bình an, thị hiện trong thế gian và đạt được sự thường hằng.”
Dưới sự hướng dẫn của Phật, vị hiền giả tiếp tục chia sẻ những hiểu biết của mình, kể một câu chuyện tuyệt vời: “Các bạn đồng tu thân mến, nếu các bạn muốn đạt đến trạng thái thiền định sâu sắc, cách tốt nhất là bắt đầu bằng việc lắng nghe. Bằng cách chú tâm lắng nghe Phật pháp, chúng ta có thể dần dần nhập vào trạng thái tuyệt vời đó.”
Đôi mắt của vị hiền giả sáng lên với sự ngưỡng mộ khi ông tiếp tục: “Về phương diện này, Bồ tát Quán Thế Âm đã cho chúng ta tấm gương tốt nhất. Ngài thật tuyệt vời biết bao!”
Sau đó, vị hiền giả bắt đầu kể câu chuyện về Bồ tát Quán Thế Âm: “Trải qua vô số kiếp dài, Bồ tát Quán Thế Âm đã du hành đến vô số cõi Phật. Thông qua sự thực hành liên tục, ngài đã đạt được sức mạnh vô cùng to lớn.”
“Tuy nhiên, ngài không sử dụng sức mạnh này cho bản thân, mà để giúp tất cả chúng sinh thoát khỏi sợ hãi.”
Giọng của vị hiền giả trở nên nhẹ nhàng và đầy cảm xúc: “Tên của Bồ tát Quán Thế Âm thực sự tuyệt vời! ‘Diệu Âm’, ‘Quán Thế Âm’, ‘Phạm Âm’, ‘Hải Triều Âm’, mỗi cái tên đều giống như âm nhạc hay đẹp, tràn đầy trí tuệ và từ bi.”
“Ngài sử dụng âm thanh tuyệt vời này để giúp đỡ chúng sinh trong thế gian. Bất cứ ai, chỉ cần nghe thấy tên của Bồ tát Quán Thế Âm, nỗi đau trong lòng họ sẽ lắng xuống, và thế giới sẽ trở nên bình yên. Và những người theo đuổi cảnh giới cao hơn có thể đạt được sự bình an và niềm vui vĩnh cửu thông qua sự hướng dẫn của ngài.”
Vị hiền giả cuối cùng kết luận: “Vì vậy, các bạn thân mến, hãy học theo tấm gương của Bồ Tát Quán Thế Âm, lắng nghe Phật Pháp một cách chăm chú và giúp đỡ người khác với một trái tim từ bi. Bằng cách này, chúng ta có thể dần dần thoát khỏi đau khổ và đạt được sự giải thoát thực sự.”
“Tôi nay bạch Thế Tôn, như lời Quán Âm nói. Ví như người sống nơi yên tĩnh, mười phương cùng đánh trống. Mười nơi cùng nghe thấy, đây gọi là viên thật. Mắt không thấy qua chướng ngại, miệng và mũi cũng vậy. Thân chỉ biết khi xúc chạm, ý nghĩ lăng xăng không trật tự. Nghe tiếng xuyên qua tường vách, xa gần đều nghe được.”
Vị hiền giả tiếp tục chia sẻ hiểu biết của mình với Đức Phật và mọi người, sử dụng một ẩn dụ sinh động để giải thích: “Hãy để tôi nói cho mọi người biết tại sao pháp môn nghe mà Bồ Tát Quán Thế Âm dạy lại tối thượng như vậy.”
Vị hiền giả mỉm cười và nói, hãy tưởng tượng một cảnh tượng: “Có một người đang ngồi yên tĩnh trong phòng. Đột nhiên, tiếng trống vang lên từ mười phương xung quanh người ấy cùng một lúc.”
Vị hiền giả cao giọng để mọi người nghe rõ: “Thật kỳ diệu, người này có thể nghe thấy tiếng trống từ mọi hướng cùng một lúc! Đây là khả năng nghe viên mãn và chân thật.”
Sau đó, vị hiền giả bắt đầu so sánh các giác quan khác: “Mắt của chúng ta không thể nhìn thấy những thứ đằng sau chướng ngại vật, phải không?” Đám đông gật đầu đồng ý. “Mũi và miệng của chúng ta cũng vậy, phạm vi nhận thức của chúng rất hạn chế.”
Vị hiền giả tiếp tục: “Còn về thân thể, chúng ta chỉ có thể cảm nhận khi chạm trực tiếp vào vật gì đó.” “Và còn tâm trí của chúng ta thì sao?” Vị hiền giả hỏi, “Nó thường hỗn loạn và khó tập trung.”
Đôi mắt của vị hiền giả sáng lên với trí tuệ: “Nhưng nghe thì khác. Ngay cả qua các bức tường, chúng ta cũng có thể nghe thấy âm thanh. Dù âm thanh đến từ xa hay gần, chúng ta đều có thể nghe thấy.”
Cuối cùng, vị hiền giả kết luận: “Đây là lý do tại sao pháp môn nghe lại đặc biệt đến vậy. Nó cho phép chúng ta vượt qua những giới hạn thể chất và trực tiếp nhận thức sự thật. Giống như Bồ Tát Quán Thế Âm đã dạy chúng ta, thông qua việc lắng nghe, chúng ta có thể hiểu thế giới này một cách toàn diện và sâu sắc hơn.”
“Năm giác quan không ngang bằng, đây là sự thông suốt chân thật. Tánh của âm thanh có động và tĩnh, trong cái nghe có có và không. Không có tiếng gọi là không nghe, nhưng không phải là tánh nghe thực sự vắng mặt. Tiếng vắng mặt ngụ ý không diệt, tiếng hiện diện ngụ ý không sinh. Sinh và diệt đều hoàn toàn rời bỏ, đây là thực tại thường hằng. Ngay cả trong giấc mơ và suy nghĩ, nó không trở thành hư vô vô niệm.”
Vị hiền giả tiếp tục giải thích, đôi mắt sáng lên với trí tuệ: “Các bạn, các bạn có biết tại sao nghe lại đặc biệt như vậy không?” Ông nhìn quanh rồi nói: “Bởi vì nó có thể làm những gì các giác quan khác không thể. Đây là lý do tại sao nó có thể thâm nhập vào sự thật.”
Vị hiền giả sau đó sử dụng một ẩn dụ thú vị để giải thích: “Hãy tưởng tượng âm thanh giống như một chú yêu tinh tinh nghịch, lúc ẩn lúc hiện.”
“Khi chú yêu tinh xuất hiện, chúng ta nói có âm thanh; khi chú yêu tinh biến mất, chúng ta nói không có âm thanh.” Vị hiền giả mỉm cười và nói: “Nhưng cái nghe của chúng ta luôn ở đó, phải không?”
Ông tiếp tục giải thích: “Ngay cả khi yên tĩnh, chúng ta không thể nói cái nghe không tồn tại. Bởi vì một khi có âm thanh, chúng ta có thể nghe thấy ngay lập tức.”
Giọng của vị hiền giả trở nên trầm lắng: “Kỳ diệu hơn nữa, khi âm thanh biến mất, cái nghe không thực sự chết đi; khi âm thanh xuất hiện, cái nghe không sinh ra từ hư không. Bản chất của âm thanh vượt qua các khái niệm sinh và tử.” Vị hiền giả kết luận, “Đây là thực tại của cái nghe, nó tồn tại vĩnh hằng và không bị ảnh hưởng bởi sinh và tử.”
Cuối cùng, vị hiền giả nêu ra một sự thật khiến mọi người ngạc nhiên: “Các bạn có biết không? Ngay cả khi chúng ta đang mơ, cái nghe cũng không hoàn toàn biến mất. Nó luôn ở đó, sẵn sàng bắt lấy âm thanh bất cứ lúc nào.”
“Giác ngộ và quán chiếu sinh ra từ tư duy, thân và tâm không thể sánh bằng nó. Trong thế giới Ta Bà này hiện nay, giáo pháp được tuyên thuyết qua âm thanh. Chúng sinh mê lầm về cái nghe ban đầu, và chạy theo âm thanh để trôi lăn. A Nan, dù có trí nhớ mạnh mẽ, cũng không tránh khỏi rơi vào tà niệm. Chẳng phải chạy theo dòng là chìm đắm, trong khi xoay dòng lại thì không còn hư vọng sao? A Nan, hãy lắng nghe chăm chú, tôi nương vào oai lực của Phật.”
Vị hiền giả nhẹ nhàng nói: “Các bạn thân mến, khi chúng ta bắt đầu suy nghĩ và quan sát, thân và tâm của chúng ta thường không theo kịp suy nghĩ. Giống như suy nghĩ của chúng ta là một con ngựa nhanh, trong khi thân và tâm là một chiếc xe chậm chạp.”
Vị hiền giả nhìn quanh để đảm bảo mọi người đang lắng nghe cẩn thận: “Trong thế giới chúng ta đang sống, âm thanh và ngôn ngữ là những cách chính để truyền bá kiến thức. Giống như một phòng hòa nhạc khổng lồ nơi kiến thức được lan truyền qua âm thanh.”
Nhưng vẻ mặt của vị hiền giả bỗng trở nên hơi buồn: “Thật không may, nhiều người quên mất bản chất của việc lắng nghe. Họ chỉ đuổi theo âm thanh mà phớt lờ sự thật đằng sau âm thanh. Giống như một nhóm người đuổi theo tiếng vang nhưng quên tìm nguồn phát ra âm thanh.”
Vị hiền giả nhắc đến một người mà ai cũng biết: “Lấy A Nan làm ví dụ, trí nhớ của ông ấy rất tốt, ông ấy có thể nhớ hầu hết mọi thứ mình nghe. Nhưng ngay cả ông ấy đôi khi cũng rơi vào suy nghĩ sai lầm.”
Giọng của vị hiền giả trở nên nhẹ nhàng hơn: “Nhưng chúng ta không nên nản lòng. Ngay cả khi chúng ta có thể bị lạc trong vòng xoáy của suy nghĩ bây giờ, miễn là chúng ta sẵn sàng quay lại và đi đúng hướng, chúng ta có thể thoát khỏi sai lầm và tìm thấy sự thật.”
Cuối cùng, vị hiền giả hít một hơi thật sâu và nói: “A Nan, và tất cả mọi người ở đây, hãy lắng nghe cẩn thận những gì tôi sắp nói tiếp theo. Những gì tôi sắp nói với các bạn bây giờ là một chân lý sâu sắc chỉ có thể hiểu được nhờ ân điển của Đức Phật.”
“Tuyên thuyết Kim Cang Vương, như huyễn và không thể nghĩ bàn. Chân Tam Muội của Phật Mẫu, các ông nghe về chư Phật nhiều như vi trần. Tất cả các cửa bí mật, nếu dục vọng và lậu hoặc không được loại bỏ trước. Tích lũy cái nghe trở thành sai lầm, bám chấp vào cái nghe để giữ Phật. Tại sao không lắng nghe cái nghe của chính mình? Cái nghe không sinh ra tự nhiên. Vì có tiếng nên có tên, xoay cái nghe lại giải thoát khỏi tiếng.”
Vị hiền giả chậm rãi bắt đầu nói: “Đức Phật đã tuyên thuyết một pháp môn mạnh mẽ và kỳ diệu, không thể phá hủy như kim cương và không thể nghĩ bàn như phép thuật.”
Pháp môn này là nguồn gốc trí tuệ của Đức Phật, trạng thái chân thật của Tam Muội." Các đệ tử mở to mắt và lắng nghe chăm chú.
“Các con đã nghe những lời dạy của vô số chư Phật và học được nhiều pháp môn bí mật.”
“Nhưng, các con, hãy nhớ một điều quan trọng, nếu các con không loại bỏ ham muốn và bám chấp trước, việc chỉ tích lũy kiến thức sẽ trở thành chướng ngại.” Một đệ tử trẻ giơ tay và hỏi: “Bạch Thầy, vậy chúng con nên tu tập như thế nào?”
Vị hiền giả mỉm cười hiền từ và trả lời: “Thay vì mù quáng theo đuổi giáo lý của Đức Phật, tốt hơn là trước tiên hãy học cách lắng nghe tiếng nói của chính trái tim mình.”
“Các con phải biết rằng cái nghe không tồn tại tự nhiên, nó được sinh ra vì có âm thanh. Khi các con có thể vượt qua âm thanh và tên gọi và thực sự lắng nghe trái tim mình, các con có thể đạt được trí tuệ chân thật.”
“Ai đặt tên cho khả năng rời bỏ ham muốn? Một khi một giác quan trở về nguồn, sáu giác quan đạt được giải thoát. Thấy và nghe giống như màng mộng huyễn hoặc. Nếu ba cõi giống như hoa trong hư không, cái nghe trở lại và màng mộng được loại bỏ. Bụi trần tan biến và sự nhận biết hoàn hảo và thanh tịnh, sự thanh tịnh tột cùng cho phép ánh sáng xuyên qua. Tĩnh lặng và chiếu soi bao trùm hư không, nhìn lại thế gian. Nó giống như những việc trong giấc mơ, Ma Đăng Già đã ở trong giấc mơ.”
Vị hiền giả nói: “Khi chúng ta có thể thoát khỏi xiềng xích của ham muốn, chúng ta đạt được sự tự do thực sự. Giống như một nhánh cây trở về thân cây, khi một trong những giác quan của chúng ta trở về nguồn, năm giác quan khác cũng sẽ được giải phóng.” Một đệ tử lớn tuổi bối rối hỏi: “Bạch Thầy, điều này có nghĩa là gì?”
Người trí giảng giải ân cần: “Hãy tưởng tượng các giác quan của chúng ta bị che phủ bởi một lớp sương mỏng. Những gì chúng ta thấy và nghe giống như ảo ảnh. Toàn bộ thế giới giống như hoa trong hư không, dường như có thật nhưng không có thực thể.”
Ông dừng lại để các đệ tử suy ngẫm về khái niệm này, rồi tiếp tục: “Nhưng khi chúng ta thực sự hiểu được bản chất của cái nghe, lớp sương mỏng này sẽ tan biến. Khi bụi trần phai nhạt, nhận thức của chúng ta trở nên hoàn hảo và tinh khiết.”
Các đệ tử lắng nghe chăm chú, và giọng của người trí trở nên nhẹ nhàng hơn: “Khi chúng ta đạt đến sự tinh khiết cực độ, ánh sáng trí tuệ của chúng ta có thể thâm nhập mọi thứ.”
“Nhận thức tĩnh lặng và sáng ngời này có thể bao trùm toàn bộ hư không.”
Đôi mắt ông trở nên sâu thẳm, dường như nhìn thấu thời gian và không gian: “Vào lúc đó, khi chúng ta nhìn lại thế giới này, chúng ta sẽ thấy rằng mọi thứ giống như những cảnh trong mơ. Giống như trải nghiệm của người phụ nữ Matangi trong giấc mơ, dường như là thật nhưng lại là ảo ảnh.”
“Ai có thể giữ được hình tướng của các ông? Giống như một nhà ảo thuật tài ba trên thế gian. Huyễn hóa ra nam và nữ, mặc dù các giác quan khác nhau của họ dường như chuyển động. Cần có một cơ chế được kéo, dừng cơ chế là trở về sự tĩnh lặng. Tất cả ảo ảnh trở thành tánh không tồn tại, sáu căn cũng giống như vậy. Vốn nương vào một sự sáng suốt thanh tịnh, chia thành sáu hòa hợp.”
Vị hiền giả nói: “Các con, hãy dùng một ẩn dụ để hiểu chân lý sâu sắc này.” “Hãy tưởng tượng rằng trên thế gian này có một nhà ảo thuật tài ba. Ông ta có thể biến hóa ra nhiều người nam và nữ, sống động như thật.”
Vị hiền giả tiếp tục: “Những người ảo ảnh này dường như thực sự di chuyển và có cuộc sống riêng của họ. Nhưng, các con biết không?”
Ông cố ý dừng lại để thu hút sự chú ý của mọi người: “Thực ra, nhà ảo thuật chỉ cần kéo một sợi dây, và tất cả ảo ảnh sẽ biến mất. Khi ông ta ngừng biểu diễn, mọi thứ sẽ trở lại yên tĩnh, và những hình dáng dường như có thật đó sẽ trở thành hư vô.” Các đệ tử mở to mắt, dường như bắt đầu hiểu ra điều gì đó.
Vị hiền giả tiếp tục giải thích: “Sáu giác quan của chúng ta - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý - cũng giống như vậy. Chúng có vẻ độc lập, nhưng thực ra tất cả đều bắt nguồn từ cùng một bản tánh sáng suốt và thanh tịnh.”
Ông nhìn quanh và nói nhẹ nhàng: “Cũng giống như những ảo ảnh của nhà ảo thuật, những trải nghiệm giác quan của chúng ta dường như là thật, nhưng về bản chất là trống rỗng và huyễn hoặc. Tất cả chúng đều phân hóa từ một nguồn, kết hợp với nhau, và hình thành nhận thức của chúng ta về thế giới.”
“Khi một căn trở về sự nghỉ ngơi, sáu dụng đều không thành. Bụi trần và cấu nhiễm nên tan biến theo ý niệm, trở nên viên mãn, sáng suốt, thanh tịnh và vi diệu. Bụi còn lại vẫn cần sự học hỏi; cực quang là Như Lai. Đại chúng và A Nan, hãy xoay ngược cơ chế nghe của các ông. Trả lại cái nghe để nghe tự tánh, tánh trở thành Đạo vô thượng. Viên thông thật sự là như thế này, đây là chư Phật nhiều như vi trần.”
Vị hiền giả nói chậm rãi: “Nếu chúng ta có thể đạt được sự tĩnh lặng hoàn toàn trong một giác quan, năm giác quan khác cũng sẽ ngừng hoạt động. Giống như tắt một công tắc, cả hệ thống sẽ yên lặng.” Một đệ tử tò mò hỏi: “Thưa thầy, chuyện gì sẽ xảy ra sau đó?”
Vị hiền giả trả lời ân cần: “Khi chúng ta làm điều này, bụi trần và cấu nhiễm trong tâm chúng ta sẽ tan biến ngay lập tức. Tâm của chúng ta sẽ trở nên viên mãn, sáng suốt, thanh tịnh và vi diệu.”
Ông dừng lại rồi tiếp tục: “Tất nhiên, điều này đòi hỏi sự tu tập liên tục. Ngay cả khi còn một chút bụi trần, chúng ta vẫn phải tiếp tục học hỏi. Nhưng khi tâm chúng ta đạt đến cực quang, chúng ta có thể giống như Đức Phật.”
Vị hiền giả nhìn quanh, ánh mắt dừng lại ở mỗi đệ tử: “Mọi người, kể cả A Nan, các ông phải học cách thay đổi cách nghe của mình. Đừng chỉ nghe những âm thanh bên ngoài, mà hãy học cách nghe tự tánh của mình.”
Giọng ông trở nên trang nghiêm hơn: “Khi các ông có thể thực sự nghe được tự tánh của mình, các ông có thể đạt được Đạo quả vô thượng. Đây là cảnh giới của viên thông chân thật.”
Cuối cùng, vị hiền giả kết luận: “Chân lý này không phải là khám phá của riêng tôi. Vô số chư Phật đã dạy con đường này. Đây là một chân lý vĩnh hằng.”
“Một con đường dẫn đến cửa Niết Bàn, tất cả Như Lai trong quá khứ. Cửa này đã được thành tựu, bởi tất cả Bồ Tát hiện tại. Nay mỗi vị nhập viên minh, những người tu hành trong tương lai. Nên nương vào pháp này, tôi cũng từ trong đó mà chứng đắc. Không chỉ Quán Thế Âm, thật sự giống như Phật Thế Tôn. Hỏi tôi về các phương tiện, để cứu độ những người trong thời mạt kiếp.”
Mắt vị hiền giả sáng lên với trí tuệ khi ông tiếp tục nói: “Các con, ta muốn nói cho các con biết một bí mật quan trọng. Phương pháp chúng ta vừa thảo luận giống như một cánh cửa dẫn đến Niết Bàn.” Một đệ tử trẻ hỏi với vẻ tò mò: “Thưa thầy, phương pháp này thực sự thần kỳ như vậy sao?”
Vị hiền giả mỉm cười hiền từ và trả lời: “Quả thực là vậy. Các con nên biết rằng tất cả chư Phật trong quá khứ đều đạt được giác ngộ qua pháp môn này.” Ông nhìn quanh và tiếp tục: “Không chỉ vậy, các vị Bồ Tát hiện tại cũng đang nhập vào cảnh giới viên minh qua phương pháp này.”
Giọng vị hiền giả trở nên kiên quyết hơn: “Đối với những ai muốn tu hành trong tương lai, họ cũng nên theo pháp môn này. Đây không chỉ là ý kiến cá nhân của ta, mà là kinh nghiệm chung của vô số hành giả trong hàng ngàn năm qua.”
Đôi mắt ông trở nên sâu thẳm, dường như vượt qua thời gian và không gian: “Chính ta cũng giác ngộ qua phương pháp này.”
“Nhưng hãy nhớ rằng, không chỉ Bồ Tát Quán Thế Âm, mà bất kỳ ai cũng có thể đạt được giác ngộ qua phương pháp này.”
Giọng vị hiền giả trở nên trang nghiêm hơn: “Cũng như Đức Phật đã hỏi ta làm thế nào để cứu độ chúng sinh trong thời Mạt Pháp, ta nay truyền lại phương pháp này cho các con. Đây là phương pháp tu hành hiệu quả nhất, có khả năng giúp tất cả những ai mong muốn thức tỉnh.”
“Những người tìm cách vượt thoát thế gian, để đạt được tâm Niết Bàn. Quán Thế Âm là tốt nhất, so với các phương tiện khác. Tất cả đều là uy thần lực của Phật, bỏ bụi trần và lao nhọc trong những việc ngay trước mắt. Không phải là sự tu học lâu dài, nhưng cạn và sâu đều được dạy như nhau. Đảnh lễ Như Lai Tạng, không dính mắc và không thể nghĩ bàn. Mong muốn giúp đỡ tương lai, để không có nghi ngờ về cửa này.”
Vị hiền giả nhìn vào những đôi mắt đầy kính sợ của các đệ tử và mỉm cười, tiếp tục lời dạy: “Các con, đối với những ai muốn vượt thoát thế gian và theo đuổi cảnh giới Niết Bàn, ta muốn nói cho các con biết một thông điệp quan trọng.”
Giọng ông trở nên nhẹ nhàng và kiên quyết: “Trong nhiều phương pháp tu hành, pháp môn của Bồ Tát Quán Thế Âm là tối thượng.” Một đệ tử hỏi tò mò: “Còn các phương pháp khác thì sao, thưa Thầy?”
Vị hiền giả trả lời ân cần: “Các phương pháp tu hành khác cũng là biểu hiện của trí tuệ Phật. Tất cả đều có những ưu điểm riêng và có thể giúp chúng ta buông bỏ những phiền não thế gian.”
Ông dừng lại rồi nói thêm: “Hơn nữa, ưu điểm của những phương pháp này là các con không cần khổ hạnh lâu dài mới thấy kết quả. Bất kể chiều sâu tu hành của các con, các con đều có thể hưởng lợi từ chúng.”
Giọng vị hiền giả trở nên trang nghiêm hơn: “Chúng ta hãy dành sự tôn kính cao nhất cho Như Lai Tạng. Đây là một cảnh giới không tì vết, không thể nghĩ bàn, vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta.”
Ông nhìn quanh, đôi mắt đầy từ bi: “Ta chân thành cầu nguyện rằng những hành giả tương lai sẽ không có bất kỳ nghi ngờ nào khi đối diện với pháp môn này. Nguyện cầu sự gia hộ của Phật giúp họ hiểu rõ chân lý này.”
“Phương tiện này dễ thành tựu, thích hợp để dạy cho A Nan. Và những người chìm đắm trong mạt kiếp, chỉ nên tu hành với căn này. Viên thông vượt hơn những người khác, chân tâm là như thế này.”
Mắt vị hiền giả sáng lên với trí tuệ khi ông tiếp tục lời dạy: “Các con, để ta nói cho các con một tin vui.” Giọng ông đầy khích lệ: “Phương pháp tu hành này rất dễ nắm vững, và kết quả có thể thấy rất nhanh. Nó đơn giản và hiệu quả đến mức chúng ta có thể dùng nó để dạy A Nan, và cả những người lạc lối trong thời đại hỗn loạn này.”
Một đệ tử trẻ tò mò hỏi: “Thưa thầy, chúng con nên thực hành phương pháp này như thế nào?” Vị hiền giả mỉm cười hiền từ và trả lời: “Rất đơn giản, các con chỉ cần tập trung vào việc nghe của mình. Thông qua việc thực hành một giác quan này, các con có thể đạt đến trạng thái viên thông.” Ông nhìn quanh, ánh mắt dừng lại ở mỗi đệ tử: “Hãy biết rằng phương pháp này vượt trội hơn tất cả các phương pháp tu hành khác. Nó có thể giúp các con trực tiếp nhận ra bản chất thực sự của tâm.”
Giọng vị hiền giả trở nên kiên quyết hơn: “Đây là chân tâm, đây là chân lý mà chúng ta đang tìm kiếm.” Sau khi nghe xong, các đệ tử cảm thấy một niềm phấn khích và hy vọng trào dâng. Họ nhận ra rằng họ đã tìm thấy một phương pháp tu hành đơn giản và hiệu quả. Mắt ai nấy đều sáng lên với sự háo hức và quyết tâm, sẵn sàng bắt đầu hành trình tu tập tuyệt vời này."
Lúc bấy giờ, A Nan và đại chúng hiểu rõ và nhận được sự khai thị lớn lao. Họ quán chiếu Bồ Đề và Đại Niết Bàn của Phật, giống như người đi làm ăn xa lâu ngày chưa về, nay biết rõ đường về nhà. Toàn thể đại chúng, bao gồm Bát Bộ Thiên Long, những người thuộc hai thừa hữu học, và tất cả các Bồ Tát mới phát tâm, số lượng nhiều như cát mười sông Hằng, tất cả đều đạt được bản tâm, bỏ lại bụi trần và cấu nhiễm phía sau, và đắc được Pháp Nhãn thanh tịnh. Tỳ kheo ni Tánh Giác nghe kệ và chứng A La Hán. Vô lượng chúng sinh đều phát tâm Bồ Đề vô thượng.
Trong chánh điện của tu viện, A Nan và nhiều hành giả lắng nghe lời dạy của Phật, và khuôn mặt họ hiện lên vẻ giác ngộ bất ngờ.
Vị hiền giả nhìn họ và mỉm cười, nói: “Có vẻ như tất cả các ông đã nhận ra điều gì đó.”
A Nan hào hứng nói: “Vâng, thưa Thầy. Chúng con cuối cùng đã hiểu ý nghĩa thực sự của Bồ Đề và Niết Bàn. Giống như một người lang thang xa nhà nhiều năm, cuối cùng cũng tìm được đường về nhà.”
Vị hiền giả gật đầu và nhìn quanh: “Không chỉ các ông, tất cả mọi người có mặt, bao gồm tám bộ thiên long, Thanh Văn và Duyên Giác, và các Bồ Tát mới bắt đầu tu tập, tổng số chúng sinh nhiều như cát mười sông Hằng, đã tìm thấy bản tâm của mình. Tâm họ đã trở nên thanh tịnh, xa rời sự ô nhiễm của thế giới trần tục.”
Ông đặc biệt chỉ ra: “Nhìn xem, Tỳ kheo ni Tánh Giác đã chứng quả A La Hán ngay sau khi nghe kệ của Phật. Và vô số chúng sinh đã phát tâm Bồ Đề vô thượng, quyết tâm theo đuổi sự giác ngộ cao nhất.”
A Nan chỉnh đốn y phục, hướng về phía đại chúng, chắp tay và đảnh lễ. Tâm ông hoàn toàn sáng suốt, và ông cảm thấy lẫn lộn giữa niềm vui và nỗi buồn. Muốn làm lợi ích cho chúng sinh tương lai, ông đảnh lễ và bạch Phật: “Bạch Thế Tôn Đại Bi, con nay đã ngộ được pháp môn thành Phật và không còn nghi ngờ gì về sự tu tập trong đó. Con thường nghe Như Lai nói rằng những người cứu độ người khác trước khi cứu độ chính mình là Bồ Tát phát tâm, và những người đã hoàn thiện sự giác ngộ của mình và có thể giác ngộ người khác là Như Lai xuất hiện ở đời. Mặc dù con chưa được cứu độ, con nguyện cứu độ tất cả chúng sinh trong thời Mạt Pháp. Bạch Thế Tôn, những chúng sinh này đang dần rời xa Phật, và các tà sư nhiều như cát sông Hằng. Nếu con muốn nhiếp tâm họ vào Tam Muội, làm sao con có thể giúp họ lập Đạo Tràng, giữ họ xa rời ma sự, và đảm bảo họ không thối chuyển tâm Bồ Đề?”
Lúc này, A Nan chỉnh lại y phục, hướng về phía công chúng, và chắp tay cung kính. Mắt ông hiện lên cả niềm vui và một thoáng buồn.
Ông quay sang Phật và cung kính nói: “Bạch Thế Tôn Từ Bi, con nay đã hiểu con đường thành Phật, và con sẽ không còn nghi ngờ khi tu tập. Con thường nghe Ngài nói rằng Bồ Tát phát nguyện cứu độ người khác, và Như Lai xuất hiện ở đời để giác ngộ chúng sinh. Mặc dù con chưa được giải thoát hoàn toàn, con nguyện giúp đỡ tất cả chúng sinh trong thời Mạt Pháp.”
Vẻ mặt A Nan trở nên nghiêm túc: “Bạch Thế Tôn, chúng sinh tương lai sẽ ngày càng xa rời thời đại của Phật, và sẽ có nhiều tà sư làm họ lầm lạc. Con muốn biết làm thế nào để giúp họ tu tập với tâm an định, tránh xa chướng ngại của ma, và củng cố tâm Bồ Đề của họ?”
Lúc bấy giờ, Thế Tôn khen ngợi A Nan trước đại chúng: “Lành thay, lành thay! Như ông đã hỏi, làm thế nào để lập Đạo Tràng cứu độ chúng sinh chìm đắm trong thời Mạt Pháp. Ông hãy lắng nghe kỹ, ta sẽ giải thích cho ông.” A Nan và đại chúng cung kính chờ đợi lời dạy.
Nghe lời A Nan, Phật mỉm cười tán thán: “Hay lắm, A Nan. Câu hỏi ông hỏi rất quan trọng. Về việc làm thế nào để lập Đạo Tràng và cứu độ chúng sinh trong thời Mạt Pháp, ta sẽ nói cho ông chi tiết.”
“Phật bảo A Nan: ‘Ông thường nghe ta giải thích ba nguyên tắc quyết định của sự tu hành trong Luật tạng. Đó là, nhiếp tâm gọi là Giới; do Giới sanh Định; do Định phát Tuệ. Đây gọi là Tam Vô Lậu Học. A Nan, tại sao ta gọi nhiếp tâm là Giới? Nếu chúng sinh trong sáu đường của tất cả các thế giới không có tâm dâm dục, họ sẽ không theo vòng luân hồi sinh tử liên tục. Ông tu tập Tam Muội vốn để vượt qua sự mệt mỏi của trần lao. Nếu tâm dâm dục không được trừ bỏ, trần lao không thể vượt qua. Dù có nhiều trí tuệ và Tam Muội hiện tiền, nếu không đoạn trừ dâm dục, chắc chắn sẽ rơi vào đường ma. Bậc thượng thành ma vương, bậc trung thành ma dân, bậc hạ thành ma nữ. Những con ma này cũng có đồ chúng, và mỗi kẻ đều tự xưng đã thành đạo vô thượng. Sau khi ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp, nhiều ma dân này sẽ thịnh hành ở đời, thực hành rộng rãi tham lam và dâm dục trong khi giả làm thiện tri thức. Chúng sẽ khiến chúng sinh rơi vào hầm hố của ái kiến và mất đường Bồ Đề. Ông nên dạy người đời tu tập Tam Muội trước hết phải đoạn trừ tâm dâm dục. Đây là lời dạy minh bạch và quyết định đầu tiên về sự thanh tịnh của Như Lai và tất cả chư Phật quá khứ. Vì vậy, A Nan, nếu tu Thiền Định mà không đoạn trừ dâm dục, thì giống như nấu cát đá mong thành cơm; dù trải qua trăm ngàn kiếp, cũng chỉ là cát nóng. Tại sao? Vì đây không phải là bản chất của cơm, mà làm từ cát đá. Nếu ông cầu quả vị diệu của Phật với thân dâm dục, dù có đạt được sự hiểu biết vi diệu, tất cả đều gốc rễ từ dâm dục. Với dâm dục làm gốc, ông sẽ xoay vần trong ba đường ác và chắc chắn không thể thoát khỏi. Làm sao ông có thể tu tập và chứng ngộ Niết Bàn của Như Lai? Ông phải đảm bảo rằng cơ chế dâm dục trong thân và tâm hoàn toàn bị đoạn trừ, và ngay cả cái tánh đoạn trừ cũng không còn; thì mới có thể hy vọng Bồ Đề của Phật. Những gì ta nói là lời dạy của Phật. Bất kỳ giải thích nào trái ngược với điều này là lời dạy của Ma Vương.’”
Phật nhìn A Nan và nhiều đệ tử, bắt đầu giảng dạy với vẻ mặt nghiêm nghị: “A Nan, ông thường nghe ta nhắc đến ba nguyên tắc quan trọng của việc tu hành trong giới luật. Đó là cái gọi là ‘Tam Vô Lậu Học’: Giới, Định, và Tuệ.” A Nan gật đầu nghiêm túc.
Phật tiếp tục: “Vậy, ’nhiếp tâm là giới’ là gì? Nếu chúng sinh trong sáu đường có thể không có ý nghĩ dâm dục, họ sẽ không rơi vào vòng sinh tử luân hồi. Mục đích tu tập Tam Muội của các ông là để vượt qua phiền não của thế giới trần tục, nhưng nếu dâm dục không được loại bỏ, các ông không thể thoát khỏi trần thế.”
Giọng Phật trở nên nghiêm khắc hơn: “Dù ông có trí tuệ cao và có thể nhập Tam Muội, nếu không đoạn trừ dâm dục, chắc chắn ông sẽ rơi vào đường ma. Những con ma này được chia thành bậc thượng, trung, và hạ. Chúng đều có đồ chúng, và mỗi kẻ đều tự xưng đã đạt được Đạo vô thượng.”
Ngài dừng lại, nhìn quanh, và tiếp tục: “Trong thời Mạt Pháp sau khi ta diệt độ, đồ chúng của những con ma này sẽ thịnh hành ở đời. Chúng sẽ coi dâm dục là tốt và tự xưng là thiện tri thức. Điều này sẽ khiến chúng sinh rơi vào hố sâu của ái tình và tà kiến, mất đi con đường giác ngộ.”
Phật quay sang A Nan và nói một cách tha thiết: “Vì vậy, A Nan, khi ông dạy người ta tu tập Tam Muội, trước hết ông phải dạy họ đoạn trừ dâm dục. Đây là lời dạy quan trọng nhất và thanh tịnh nhất từ ta và chư Phật quá khứ.”
Ngài dùng một ẩn dụ để minh họa: “Thiền định mà không đoạn trừ dâm dục thì giống như cố nấu cát đá thành cơm. Dù sau ngàn kiếp, ông chỉ nhận được cát nóng và không bao giờ có thể thành cơm.”
Giọng Phật trở nên kiên quyết hơn: “Nếu ông cầu Phật quả với thân tâm dâm dục, dù ông có ngộ được điều gì, tất cả đều dựa trên dâm dục. Nền tảng như vậy sẽ khiến ông luân hồi trong ba đường ác và không bao giờ được giải thoát. Để đạt Niết Bàn, ông phải hoàn toàn đoạn trừ cơ chế dâm dục của thân và tâm, và ngay cả ý nghĩ đoạn trừ cũng phải không còn, để ông có thể hy vọng đạt Bồ Đề.”
Cuối cùng, Phật nói một cách nghiêm túc: “Hãy nhớ, những gì ta nói là Phật Pháp. Nếu ai nói ngược lại, đó là lời của ma.”
“‘A Nan, hơn nữa, nếu chúng sinh trong sáu đường của tất cả các thế giới không có tâm sát hại trong lòng, họ sẽ không theo dòng sinh tử liên tục. Ông tu tập Tam Muội vốn là để thoát khỏi sự mệt mỏi của trần lao. Nếu tâm sát hại không trừ, trần lao không thể thoát. Dù có nhiều trí tuệ và Tam Muội hiện tiền, nếu không cắt đứt sát nghiệp, chắc chắn sẽ rơi vào đường thần. Bậc thượng trở thành đại lực quỷ, bậc trung trở thành phi hành dạ xoa hay quỷ soái, và bậc hạ trở thành la sát địa hành. Các loài quỷ thần này cũng có đồ chúng, và mỗi loài đều tự xưng là đã thành Vô Thượng Đạo. Sau khi ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp, nhiều loại quỷ thần này sẽ thịnh hành ở thế gian, tuyên bố rằng ăn thịt dẫn đến con đường Bồ Đề. A Nan, ta cho phép các Tỳ kheo ăn năm loại thịt tịnh, nhưng thịt này đều do thần lực của ta biến hóa và vốn không có mạng căn. Vì đất đai của các ông ẩm ướt và đầy cát đá, rau củ không mọc được, ta dùng đại bi thần lực tạo ra món này, gọi là thịt vì lòng đại bi. Các ông nếm được vị của nó, nhưng tại sao sau khi Như Lai diệt độ, những kẻ ăn thịt chúng sinh lại tự xưng là đệ tử dòng họ Thích Ca? Các ông phải biết rằng những kẻ ăn thịt này, dù tâm có mở mang và dường như đắc Tam Muội, đều là đại la sát. Cuối cùng, họ chắc chắn sẽ chìm trong biển khổ sinh tử và không phải là đệ tử Phật. Những người như vậy giết và ăn thịt lẫn nhau không dứt; làm sao họ thoát khỏi ba cõi? Ông phải dạy người đời tu Tam Muội, kế đến là cắt đứt sát nghiệp. Đây là lời dạy rõ ràng, quyết định thứ hai về sự thanh tịnh của Như Lai và chư Phật quá khứ. Vì vậy, A Nan, nếu tu Thiền Định mà không cắt đứt sát nghiệp, giống như người bịt tai mà hét lớn, mong không ai nghe thấy. Đây gọi là muốn che giấu nhưng lại càng lộ rõ. Các Tỳ kheo và Bồ Tát thanh tịnh, khi đi trên đường hẹp, còn không giẫm lên cỏ sống, huống chi dùng tay nhổ cỏ. Làm sao họ có thể nhẫn tâm lấy máu thịt của chúng sinh làm thức ăn với lòng đại bi? Nếu Tỳ kheo không dùng tơ lụa phương Đông, bông hay vải lụa, cũng không dùng giày dép, lông da, hay sữa, váng sữa, bơ từ đất này, những Tỳ kheo như vậy thực sự giải thoát trong thế giới này và sẽ trả xong nợ cũ mà không còn lang thang trong ba cõi. Tại sao? Vì dùng các bộ phận thân thể của chúng tạo ra duyên nợ với chúng. Giống như người ăn ngũ cốc của đất; chân không thể rời khỏi đất. Nếu một người không dùng hay ăn thân thể hoặc bộ phận của chúng sinh cả về thân lẫn tâm, ta nói người này thực sự giải thoát. Những gì ta nói là lời Phật dạy. Mọi lời giải thích trái ngược đều là lời của Ma Vương.’”
Đức Phật tiếp tục lời dạy, nghiêm túc nói: “A Nan, hơn nữa, nếu chúng sinh trong sáu đường không có tâm sát hại, họ sẽ không rơi vào vòng sinh tử. Mục đích tu hành của ông là để thoát khỏi phiền não trần gian, nhưng nếu tâm sát hại không trừ, ông không thể thoát khỏi trần tục.”
Giọng Đức Phật trở nên nghiêm khắc hơn: “Dù các ông có trí tuệ cao siêu và có thể nhập Tam Muội, nếu không cắt đứt sát nghiệp, chắc chắn sẽ rơi vào đường quỷ thần. Bậc thượng thành quỷ mạnh, bậc trung thành Dạ Xoa bay, và bậc hạ thành La Sát đi trên đất. Các loài quỷ thần này cũng có đồ chúng, và đều tự xưng là đã đắc Vô Thượng Đạo.”
Ngài dừng lại, nhìn quanh và tiếp tục: “Trong thời Mạt Pháp sau khi ta qua đời, đồ chúng của các loài quỷ thần này sẽ thịnh hành ở thế gian. Chúng sẽ nói rằng ăn thịt có thể dẫn đến đạo Bồ Đề. A Nan, ta cho phép Tỳ kheo ăn năm loại thịt tịnh, nhưng những loại thịt đó đều do thần lực của ta hóa hiện và vốn không có sinh mạng.”
Đức Phật giải thích: “Ta làm vậy vì ở vùng đất của các Bà La Môn, đất đai ẩm ướt và nhiều cát đá, rau củ khó trồng. Ta dùng đại bi thần lực tạo ra thịt này để các ông có thể nuôi thân. Nhưng sau khi ta qua đời, nếu ai ăn thịt chúng sinh mà tự xưng là đệ tử của ta, thì hoàn toàn sai lầm.”
Giọng Ngài trở nên kiên quyết: “Những kẻ ăn thịt, dù có vẻ như đã giác ngộ, chỉ là đại La Sát. Cuối cùng họ sẽ chìm trong biển sinh tử và không thể được coi là đệ tử Phật. Những người giết và ăn thịt lẫn nhau như vậy làm sao có thể vượt thoát ba cõi?”
Đức Phật quay sang A Nan và nói với vẻ nghiêm nghị: “Vì vậy, A Nan, khi ông dạy người đời tu Tam Muội, lời dạy quan trọng thứ hai là phải cắt đứt sát nghiệp. Tu thiền mà không cắt đứt tâm sát hại thì nực cười như người bịt tai mà hét lớn, mong người khác không nghe thấy.”
Ngài dùng vài ví dụ cụ thể để minh họa: “Các Tỳ kheo và Bồ Tát thanh tịnh sẽ không giẫm lên cỏ xanh khi đi trên đường rẽ, huống chi là nhổ cỏ. Làm sao họ có thể ăn máu thịt chúng sinh vì lòng đại bi? Nếu Tỳ kheo không dùng tơ lụa, da, lông thú và không ăn phô mai, bơ, những Tỳ kheo đó mới thực sự là người giải thoát.”
Cuối cùng, Đức Phật nghiêm túc nói: “Hãy nhớ kỹ, những gì ta nói là Phật Pháp. Nếu ai nói ngược lại, đó là lời của ma qủy.”
“‘A Nan, hơn nữa, nếu chúng sinh trong sáu đường của tất cả các thế giới không có tâm trộm cắp trong lòng, họ sẽ không theo dòng sinh tử liên tục. Ông tu tập Tam Muội vốn là để thoát khỏi sự mệt mỏi của trần lao. Nếu tâm trộm cắp không trừ, trần lao không thể thoát. Dù có nhiều trí tuệ và Tam Muội hiện tiền, nếu không cắt đứt trộm cắp, chắc chắn sẽ rơi vào đường tà. Bậc thượng trở thành tinh linh, bậc trung trở thành yêu quái hay quỷ mị, và bậc hạ trở thành người tà vạy bị quỷ ám. Những nhóm tà vạy này cũng có đồ chúng, và mỗi loài đều tự xưng là đã thành Vô Thượng Đạo. Sau khi ta diệt độ, trong thời Mạt Pháp, nhiều loại yêu ma tà vạy này sẽ thịnh hành ở thế gian, lén lút thực hành gian dối và tự xưng là thiện tri thức. Mỗi kẻ đều tuyên bố đã đắc pháp của bậc Thượng nhân, lừa gạt và làm mê muội kẻ ngu, khiến họ mất trí. Bất cứ nơi nào chúng đi qua, gia đình đều tan nát. Ta dạy các Tỳ kheo khất thực theo thứ tự để giúp họ bỏ lòng tham và thành tựu đạo Bồ Tát. Các Tỳ kheo không tự nấu ăn, gửi gắm mạng sống còn lại vào việc tạm trú trong ba cõi, thể hiện rằng một khi ra đi, họ sẽ không trở lại. Tại sao những kẻ trộm cắp lại mặc áo cà sa của ta và buôn bán Như Lai, tạo ra nhiều ác nghiệp? Tất cả đều nói đó là Phật Pháp, nhưng họ không phải là người xuất gia chân chính. Họ gọi những Tỳ kheo giữ giới trọn vẹn là thuộc Tiểu Thừa. Vì điều này, họ làm mê muội và lừa gạt vô số chúng sinh khiến họ rơi vào Địa Ngục Vô Gián. Nếu sau khi ta diệt độ, có Tỳ kheo nào quyết tâm tu Tam Muội và có thể, trước tượng Như Lai, đốt một ngọn đèn trên thân, đốt một đốt ngón tay, hay đốt một liều hương trên thân, ta nói người này đã trả xong nợ cũ từ vô thủy trong một lần, vĩnh biệt thế gian và mãi mãi thoát khỏi mọi lậu hoặc. Dù chưa hiểu rõ đạo Vô Thượng Bồ Đề, tâm người này đã quyết định nơi Pháp. Nếu không hy sinh nhân thân nhỏ bé này, dù có đạt đến vô vi, người đó vẫn phải quay lại làm người để trả nợ cũ. Giống như nghiệp ăn lúa ngựa của ta. Ông phải dạy người đời tu Tam Muội, kế đến là cắt đứt trộm cắp. Đây là lời dạy rõ ràng, quyết định thứ ba về sự thanh tịnh của Như Lai và chư Phật quá khứ. Vì vậy, A Nan, nếu tu Thiền Định mà không cắt đứt trộm cắp, giống như người đổ nước vào chén thủng mong cho đầy; dù trải qua số kiếp nhiều như vi trần, cũng không bao giờ đầy. Nếu Tỳ kheo không sở hữu gì ngoài y bát, đem thức ăn dư thí cho chúng sinh đói khát, chắp tay cúi chào đại chúng trong các hội lớn, và khi thấy ai đánh mắng mình, đều coi như lời khen ngợi, họ phải hy sinh cả thân lẫn tâm, chia sẻ thịt, xương và máu với chúng sinh. Đừng lấy những lời giải thích chưa trọn vẹn của Như Lai mà tự ý hiểu theo cách riêng để lừa gạt người mới học. Phật ấn chứng rằng người như vậy đắc chân Tam Muội. Những gì ta nói là lời Phật dạy. Mọi lời giải thích trái ngược đều là lời của Ma Vương.’”
Đức Phật tiếp tục lời dạy, nghiêm túc nói: “A Nan, hơn nữa, nếu chúng sinh trong sáu đường không có tâm trộm cắp, họ sẽ không rơi vào vòng sinh tử. Mục đích tu hành của ông là để thoát khỏi phiền não trần gian, nhưng nếu tâm trộm cắp không trừ, ông không thể thoát khỏi trần tục.”
Giọng Đức Phật trở nên nghiêm khắc hơn: “Dù các ông có trí tuệ cao siêu và có thể nhập Tam Muội, nếu không cắt đứt trộm cắp, chắc chắn sẽ rơi vào đường ác. Bậc thượng thành tinh linh, bậc trung thành yêu quái, và bậc hạ thành người bị quỷ ám. Những yêu ma ác độc này cũng có đồ chúng, và đều tự xưng là đã đắc Vô Thượng Đạo.”
Ngài dừng lại, nhìn quanh và tiếp tục: “Trong thời Mạt Pháp sau khi ta qua đời, những yêu ma ác độc này sẽ thịnh hành ở thế gian, ẩn mình và lừa gạt người khác, tự xưng là thầy tâm linh. Chúng sẽ nói rằng đã đắc Đạo, làm mê muội kẻ ngu dốt và khiến họ mất trí. Bất cứ nơi nào chúng đến, tài sản gia đình người ta sẽ khánh kiệt.”
Đức Phật giải thích: “Ta dạy các Tỳ kheo khất thực khắp nơi để họ bỏ lòng tham và thành tựu đạo Bồ Tát. Tỳ kheo không tự nấu ăn để thể hiện rằng mình chỉ tạm trú trong ba cõi và cuối cùng sẽ ra đi không trở lại.”
Giọng Ngài trở nên kiên quyết: “Những kẻ trộm cắp mượn áo của ta và làm nhiều điều trái với Phật Pháp, nhưng lại nói đây là Phật Pháp, và gọi những Tỳ kheo giữ giới là Tiểu Thừa. Điều này sẽ khiến vô số chúng sinh nghi ngờ và cuối cùng đọa địa ngục.”
Đức Phật quay sang A Nan và nói với vẻ nghiêm nghị: “Nếu sau khi ta qua đời, một Tỳ kheo quyết tâm tu hành và có thể thắp một ngọn đèn, đốt một đốt ngón tay hay một liều hương trên thân trước tượng Phật, ta nói nợ cũ của người này được trả xong từ giờ phút này, và người ấy sẽ vĩnh viễn lìa xa phiền não thế gian. Dù chưa hoàn toàn giác ngộ, tâm người ấy đã vững vàng.”
Ngài dùng một ẩn dụ để minh họa: “Thiền định mà không cắt đứt tâm trộm cắp cũng như đổ nước vào phễu, chẳng bao giờ đầy. Tỳ kheo chân chính không nên có gì ngoài y bát, và thức ăn thừa nên bố thí cho chúng sinh đói khát. Trong các buổi họp công cộng, hãy tôn trọng mọi người bằng cách chắp tay, và coi đòn roi, lời mắng chửi như lời khen ngợi.”
Cuối cùng, Đức Phật nghiêm túc nói: “Hãy nhớ kỹ, những gì ta nói là Phật Pháp. Nếu ai nói ngược lại, đó là lời của ma quỷ.”
“A Nan, tuye nhiên chúng sinh trong sáu đường của những thế giới như vậy cả thân và tâm đều không sát hại, trộm cắp và dâm dục, và ba hạnh này đã hoàn hảo, nếu họ nói đại vọng ngữ, Tam Muội của họ sẽ không thanh tịnh, và họ sẽ trở thành ma ái kiến, đánh mất hạt giống Như Lai. Tức là, tự xưng đã đắc những gì chưa đắc, tự xưng đã chứng những gì chưa chứng, hoặc tìm cách trở thành bậc tối thượng trong thế gian. Họ nói với mọi người: ‘Ta nay đã đắc quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, đạo A La Hán, thừa Duyên Giác, hoặc các địa vị Bồ Tát trước Thập Địa’. Họ mong người khác lễ bái và sám hối trước mình, tham lam sự cúng dường của họ. Đây là những Nhất Xiển Đề hủy hoại hạt giống Phật, giống như người dùng dao chặt cây Đa La. Phật thọ ký rằng những người như vậy sẽ vĩnh viễn mất căn lành và không còn tri kiến, chìm trong ba biển khổ và không đắc Tam Muội. Sau khi ta diệt độ, ta sẽ bảo các Bồ Tát và A La Hán ứng hiện sinh vào thời Mạt Pháp đó, dùng nhiều hình tướng để cứu độ những người trong vòng luân hồi. Họ có thể xuất hiện là Sa Môn, cư sĩ áo trắng, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, hoặc thậm chí là kỹ nữ, góa phụ, trộm cướp, đồ tể và kẻ buôn bán, làm việc cùng họ và ca ngợi Phật thừa, khiến thân tâm họ nhập Tam Muội. Cuối cùng, họ sẽ không bao giờ tự nói về mình, ‘Ta là Bồ Tát thật’ hay ‘A La Hán thật’, tiết lộ nguyên nhân bí mật của Phật và nói luyên thuyên với người chưa học. Chỉ đến cuối đời họ mới có thể bí mật để lại di chúc. Làm sao những người này có thể mê hoặc và lừa dối chúng sinh và phạm đại vọng ngữ? Ông phải dạy người đời tu Tam Muội, kế đến là cắt đứt mọi đại vọng ngữ. Đây là lời dạy rõ ràng, quyết định thứ tư về sự thanh tịnh của Như Lai và chư Phật quá khứ. Vì vậy, A Nan, nếu không cắt đứt đại vọng ngữ, giống như chạm khắc phân người thành hình gỗ đàn hương, mong có hương thơm; không có chuyện đó đâu. Ta dạy các Tỳ kheo phải có tâm ngay thẳng nơi Đạo Tràng, và ngay cả trong bốn oai nghi và mọi hành động, không có sự dối trá. Làm sao họ có thể tự xưng là đã đắc pháp của bậc Thượng nhân? Giống như người nghèo tự xưng là đế vương, tự chuốc lấy sự hành hình; huống chi là Pháp Vương? Làm sao có thể chiếm đoạt danh hiệu đó một cách sai trái? Nếu nhân địa không ngay thẳng, kết quả sẽ cong queo; cầu Phật Bồ Đề sẽ giống như người cố cắn rốn mình, làm sao có thể đạt được? Nếu tâm Tỳ kheo thẳng như dây đàn, chân thật trong mọi việc, họ nhập Tam Muội và mãi mãi không có ma sự. Ta ấn chứng rằng những người như vậy sẽ đạt được Vô Thượng Tri Giác của Bồ Tát. Những gì ta nói là lời Phật dạy. Mọi lời giải thích trái ngược đều là lời của Ma Vương.”
Đức Phật tiếp tục lời dạy, nghiêm túc nói: “A Nan, ngay cả khi chúng sinh trong sáu đường không còn sát sinh, trộm cắp hay tà dâm về thân và tâm, nếu họ nói đại vọng ngữ, Tam Muội của họ không thể thanh tịnh. Thay vào đó, họ sẽ trở thành ma ái kiến và mất hạt giống Phật.”
Đức Phật giải thích: “Cái gọi là đại vọng ngữ nghĩa là tuyên bố đã đắc những gì chưa đắc, và tuyên bố đã chứng những gì chưa chứng. Ví dụ, một số người, để được thế gian tôn trọng, nói với người khác: ‘Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, Duyên Giác, hoặc một địa vị Bồ Tát nào đó’. Họ làm vậy để người khác lễ bái và sám hối trước mình, tham lam sự cúng dường.”
Giọng Ngài trở nên nghiêm khắc hơn: “Những người như vậy giống như chặt cây Đa La, vĩnh viễn cắt đứt khả năng thành Phật. Họ sẽ vĩnh viễn mất căn lành, không có tri kiến đúng đắn, chìm trong biển ba khổ và không thể đắc Tam Muội.”
Đức Phật quay sang A Nan và nói với vẻ nghiêm nghị: “Sau khi ta qua đời, ta sẽ ra lệnh cho các Bồ Tát và A La Hán thị hiện trong thời Mạt Pháp và cứu độ chúng sinh dưới nhiều hình thức khác nhau. Họ có thể xuất hiện là tăng, tục, vua, quan, trai, gái, hoặc thậm chí kỹ nữ, góa phụ, trộm cướp, đồ tể, v.v. Họ sẽ sống cùng những người này, ca ngợi Phật Pháp và hướng dẫn họ nhập Tam Muội.”
Ngài nói thêm: “Nhưng các vị Bồ Tát và A La Hán này sẽ không bao giờ tự xưng là Bồ Tát hay A La Hán thật, cũng không tùy tiện tiết lộ bí mật của Phật Pháp cho người chưa tu tập. Chỉ khi sắp viên tịch họ mới để lại vài manh mối.”
Đức Phật nghiêm túc nói: “Khi ông dạy người đời tu Tam Muội, lời dạy quan trọng thứ tư là cắt đứt đại vọng ngữ. Nếu tu Tam Muội mà không cắt đứt đại vọng ngữ, giống như chạm khắc phân người thành hình gỗ đàn hương, mong nó tỏa hương thơm, điều đó hoàn toàn không thể.”
Ngài dùng một ẩn dụ để minh họa: “Giống như người nghèo tự xưng là đế vương chắc chắn sẽ tự chuốc lấy diệt vong. Huống chi là giả danh Pháp Vương? Nếu nền tảng tu hành không ngay thẳng, kết quả chắc chắn sẽ méo mó. Muốn thành Phật mà nói đại vọng ngữ thì giống như cố cắn rốn mình, không bao giờ đạt được.”
Cuối cùng, Đức Phật nhẹ nhàng nói: “Nếu tâm Tỳ kheo thẳng như dây đàn, mọi sự đều chân thật không dối trá, thì họ sẽ không bao giờ gặp chướng ngại của ma khi tu Tam Muội. Những người như vậy, ta ấn chứng rằng họ chắc chắn sẽ đắc Vô Thượng Bồ Đề”. Sau khi nghe xong, A Nan và các đệ tử vô cùng xúc động trước lời dạy của Phật, và quyết tâm sống trung thực, không bao giờ nói đại vọng ngữ.