Featured image of post Kinh Lăng Nghiêm Quyển 4: Đức Phật giải thích quá trình hình thành lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Các căn vốn thanh tịnh nhưng bị che lấp bởi sự dính mắc vào ngoại cảnh. Vượt qua những giới hạn này sẽ dẫn đến nhận thức cao hơn và trở về với sự thanh tịnh.

Kinh Lăng Nghiêm Quyển 4: Đức Phật giải thích quá trình hình thành lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Các căn vốn thanh tịnh nhưng bị che lấp bởi sự dính mắc vào ngoại cảnh. Vượt qua những giới hạn này sẽ dẫn đến nhận thức cao hơn và trở về với sự thanh tịnh.

Kinh Lăng Nghiêm Quyển 4: Đức Phật giải thích quá trình hình thành lục căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Các căn vốn thanh tịnh nhưng bị che lấp bởi sự dính mắc vào ngoại cảnh. Vượt qua những giới hạn này sẽ dẫn đến nhận thức cao hơn và trở về với sự thanh tịnh.

Tóm tắt chính của Kinh Lăng Nghiêm Quyển 4

  1. Sự hình thành và hoạt động của Lục căn:

    • Đức Phật giải thích quá trình hình thành của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.
    • Mỗi giác quan có chức năng và ẩn dụ cụ thể, chẳng hạn như mắt giống quả nho và tai giống lá tươi cuộn lại.
  2. Bản chất của các Giác quan:

    • Các giác quan vốn thanh tịnh và không nhiễm ô nhưng bị che lấp bởi sự dính mắc vào các đối tượng bên ngoài.
    • Vượt qua giới hạn của các giác quan cho phép đạt đến trạng thái nhận thức cao hơn.
  3. Phương pháp Tu tập:

    • Không dính mắc vào các khái niệm tương đối như động và tĩnh, hợp và tan, biến và thường, tắc và thông, sinh và diệt, sáng và tối.
    • Thanh tịnh một căn sẽ dẫn đến sự thanh tịnh của các căn khác.
  4. Mối quan hệ giữa Giác quan và Nhận thức:

    • Thông qua thí nghiệm tiếng chuông, minh họa rằng bản chất của tánh nghe không thay đổi theo sự có mặt hay vắng mặt của âm thanh.
    • Tri giác cảm tính (ví dụ, nghe một âm thanh) khác với bản chất của giác quan (khả năng nghe).
  5. Tính vĩnh cửu của Chân tánh:

    • Ngay cả trong giấc ngủ hay sau khi thân xác hoại diệt, bản tánh nhận thức vẫn còn.
  6. Mục tiêu của sự Tu tập:

    • Buông bỏ sự dính mắc vào các hiện tượng sinh diệt, và giữ gìn bản tánh chân thật và thường hằng.
    • Đạt được sự sáng suốt của tâm trí và cuối cùng chứng đắc vô thượng bồ đề.
  7. Sửa chữa những Quan niệm sai lầm:

    • Chỉ ra rằng chúng sinh thường bị lầm lẫn bởi các hiện tượng bên ngoài và quên mất bản tánh vốn thanh tịnh của mình.
    • Nhấn mạnh việc vượt qua các tướng trạng giác quan để nhận ra chân tánh.
  8. Chìa khóa của sự Tu tập:

    • Không bị lầm lẫn bởi các hiện tượng bên ngoài; trở về trạng thái nhận thức thanh tịnh.
    • Hiểu sự phân biệt giữa kinh nghiệm giác quan và bản chất của các giác quan, từ đó vượt qua giới hạn của giác quan.

Những điểm này tiết lộ những tuệ giác sâu sắc của Đức Phật về nhận thức của con người, bản chất của ý thức và con đường tu tập, chỉ đường cho hành giả.

Toàn văn Kinh Lăng Nghiêm Quyển 4

Bấy giờ, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử (Purna Maitrayaniputra) từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, trật áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:

“Bạch Thế Tôn đại đức, Ngài đã tuyên thuyết thông thạo đệ nhất nghĩa đế của Như Lai vì lợi ích của chúng sinh. Thế Tôn thường khen ngợi con là bậc nhất trong những người thuyết pháp. Nay nghe pháp âm vi diệu của Như Lai, giống như người điếc cố nghe tiếng muỗi từ cách xa hơn trăm bước—vốn đã không thấy, huống chi là nghe? Mặc dù lời tuyên bố rõ ràng của Phật dạy con xua tan mê lầm, nhưng con vẫn chưa thấu hiểu trọn vẹn nghĩa rốt ráo đến mức hết nghi ngờ. Bạch Thế Tôn, như A Nan và những người khác, tuy đã được chút giác ngộ, nhưng tập khí và lậu hoặc chưa trừ. Những người trong chúng con đã đạt đến bậc vô lậu, tuy đã dứt hết các lậu hoặc, nhưng khi nghe pháp âm của Như Lai vẫn còn mang lòng nghi ngờ và hối tiếc. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả thế gian căn, trần, ấm, xứ, giới vốn là Như Lai Tạng thanh tịnh, thì làm sao núi sông và đất đai đột nhiên sinh khởi, với tất cả các pháp hữu vi nối tiếp nhau trôi chảy, dứt rồi lại bắt đầu? Lại nữa, Như Lai nói rằng tánh của đất, nước, lửa, và gió dung thông hoàn toàn, biến khắp Pháp giới và thường hằng vắng lặng. Bạch Thế Tôn, nếu tánh của đất biến khắp, làm sao có thể chứa nước? Nếu tánh của nước biến khắp, thì lửa sẽ không sinh khởi; vậy Ngài giải thích điều đó thế nào? Nếu tánh của nước và lửa đều biến khắp hư không, chúng sẽ tiêu diệt lẫn nhau. Bạch Thế Tôn, tánh của đất là ngăn ngại trong khi tánh của hư không là thông suốt; làm sao cả hai cùng biến khắp Pháp giới? Con không biết nghĩa này dẫn đến đâu. Chỉ mong Như Lai rủ lòng đại bi vén mây mờ cho con và đại chúng.”

Nói xong, ông gieo năm vóc xuống đất, khẩn thiết mong chờ lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai.

Bấy giờ, Thế Tôn bảo Phú Lâu Na và tất cả các vị A La Hán trong chúng đã dứt lậu hoặc và là bậc vô học: “Hôm nay, vì đại chúng này, Như Lai sẽ tuyên thuyết thắng nghĩa trong thắng nghĩa. Ta sẽ khiến cho những ai trong các ông là Định Tánh Thanh Văn, và tất cả những ai chưa chứng đắc hai cái không mà đang hướng về Tối Thượng Thừa, cùng với các vị A La Hán, đều đạt được nơi tịch diệt của Nhất Thừa, A Lan Nhã (Aranya) chân thật, đạo tràng chánh đáng. Hãy lắng nghe kỹ, Ta sẽ giải thích cho các ông.”

Phú Lâu Na và những người khác cung kính tôn trọng chờ đợi pháp âm của Phật, im lặng lắng nghe.

Phật bảo: “Phú Lâu Na, như ông nói, mọi thứ đều thanh tịnh và bản nguyên; vậy thì làm sao núi sông và đất đai đột nhiên sinh khởi? Ông chưa nghe Như Lai nói rằng tánh giác là diệu minh, và bản giác là minh diệu sao?”

Phú Lâu Na bạch: “Dạ, bạch Thế Tôn. Con thường nghe Phật tuyên thuyết nghĩa này.”

Phật bảo: “Ông nói về giác và minh. Có phải bản tánh là minh nên gọi là giác, hay giác vốn không minh mà gọi là minh giác?”

Phú Lâu Na bạch: “Nếu cái không minh này được gọi là giác, thì không có vô minh.”

Phật bảo: “Nếu không có minh, thì không có minh giác. Nếu có cái gì hoàn toàn không giác, thì không có cái gì là không minh. Nhưng vô minh không phải là bản tánh của chánh giác. Tánh giác tất nhiên là minh; nhưng do vọng lầm, nó trở thành minh giác. Giác không phải là đối tượng để hiểu. Vì có minh, nên đối tượng được thiết lập. Khi đối tượng được thiết lập một cách sai lầm, chủ thể sai lầm của ông sinh khởi. Trong cái chẳng đồng chẳng khác, sự khác biệt dữ dội được thiết lập. Khác với cái khác, sự đồng nhất được thiết lập do sự khác biệt. Khi đồng và dị được thiết lập rõ ràng, tiếp đó cái chẳng đồng chẳng khác được thiết lập. Sự rối loạn như vậy sinh ra mệt mỏi cho nhau. Mệt mỏi lâu ngày sinh ra trần lao, tự che khuất và làm đục chính mình. Từ đó, phiền não trần lao được khuấy động. Khởi lên thì thành thế giới; lặng xuống thì thành hư không. Hư không là đồng; thế giới là dị. Cái chẳng đồng chẳng khác là pháp hữu vi chân thật.”

“Giác làm cho hư không mờ mịt; tương tác với nhau, chúng trở thành dao động. Do đó có phong luân gìn giữ thế giới. Do hư không, dao động sinh khởi; cái minh kiên cố thiết lập sự ngăn ngại. Cái gì thuộc về kim loại và quý giá được thiết lập là kiên cố bởi minh giác. Do đó có kim luân nâng đỡ các cõi nước. Giác kiên cố trở thành kim loại quý; minh dao động sinh ra gió. Gió và kim loại cọ xát vào nhau, do đó có hỏa quang là tánh của sự biến hóa. Cái minh quý giá sinh ra hơi ẩm; hỏa quang bốc hơi lên trên. Do đó có thủy luân chứa đựng thế giới mười phương. Lửa đi lên và nước đi xuống; sự tương tác của chúng thiết lập sự kiên cố. Ướt trở thành đại dương; khô trở thành lục địa và hải đảo. Vì nghĩa này, hỏa quang thường bốc lên trong đại dương, và các dòng sông thường đổ vào lục địa. Nơi sức nước yếu hơn lửa, nó kết lại thành núi cao. Vì vậy, khi đá núi bị đập, chúng phát ra tia lửa, và khi nung chảy, chúng trở thành chất lỏng. Nơi sức đất yếu hơn nước, nó rút ra thành cây cối. Vì vậy, khi rừng cháy, chúng trở thành tro, và khi vắt ra, chúng cho nước. Những vọng khởi tương tác với nhau làm hạt giống cho nhau. Vì những nhân duyên này, thế giới tiếp nối.”

“Lại nữa, Phú Lâu Na, lỗi lầm của minh không gì khác hơn là lỗi lầm của giác trở thành đối tượng. Một khi đối tượng sai lầm được thiết lập, nguyên lý của minh không vượt ra ngoài nó. Vì những nhân duyên này, nghe không vượt ra ngoài âm thanh, và thấy không vượt ra ngoài sắc tướng. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp—sáu vọng được thành tựu. Từ đó, thấy, nghe, hay, biết bị chia chẻ. Các nghiệp đồng loại kết lại với nhau; hợp và ly mang lại sự biến hóa. Khi thấy gặp minh, sắc được sinh ra; minh kiến tạo ra tưởng. Kiến giải khác nhau tạo thành ghét; thấy giống nhau tạo thành yêu. Yêu lưu chuyển trở thành hạt giống; nạp tưởng trở thành thai tạng. Sự giao cấu xảy ra, thu hút nghiệp đồng loại. Do đó, nhân duyên tạo ra yết-la-lam (kalala), át-bô-đàm (arbuda), v.v. Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, và hóa sinh tuân theo sự tương ứng của chúng. Trứng sinh ra từ tưởng; thai sinh ra từ tình. Thấp sinh cảm ứng qua sự hợp; hóa sinh ứng hiện qua sự ly. Tình, tưởng, hợp, và ly biến hóa và thay đổi lẫn nhau. Tất cả nghiệp thọ nhận tuân theo sự bay lên hay chìm xuống. Vì những nhân duyên này, chúng sinh tiếp nối.”

“Phú Lâu Na, tưởng và ái kết lại với nhau; ái không thể tách rời. Do đó, cha mẹ và con cái trong thế gian sinh ra nhau không ngừng. Những điều này dựa trên dục và tham. Tham và ái nuôi dưỡng lẫn nhau; tham không thể dừng. Do đó, các loài noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, và hóa sinh trong thế gian nuốt và ăn lẫn nhau tùy theo sức mạnh. Những điều này dựa trên sát sinh và tham lam. Người ăn dê; dê chết thành người, người chết thành dê. Như vậy, cho đến mười loài chúng sinh, chúng chết và sinh, ăn thịt lẫn nhau. Ác nghiệp sinh ra cùng nhau, cùng tận biên giới của vị lai. Những điều này dựa trên trộm cắp và tham lam. Ngươi nợ ta một mạng; ta trả nợ cho ngươi. Vì những nhân duyên này, người ta trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong sinh tử. Ngươi yêu tâm ta; ta thương sắc ngươi. Vì những nhân duyên này, người ta trải qua trăm ngàn kiếp thường ở trong ràng buộc. Sát, đạo, dâm là ba gốc rễ căn bản. Vì những nhân duyên này, quả báo tiếp nối.”

“Phú Lâu Na, sự tiếp nối của ba loại tướng điên đảo này đều do minh giác, tánh của sự biết rõ ràng. Vì có cái biết, các tướng được khuấy động; chúng tương tác và sinh khởi từ vọng kiến. Núi sông và đất đai, tất cả các pháp hữu vi, trôi chảy tiếp nối nhau. Vì sự hư vọng này, chúng kết thúc và bắt đầu lại.”

Phú Lâu Na bạch: “Nếu diệu giác này vốn là diệu minh giác, không tăng không giảm cùng với tâm Như Lai, thì làm sao nó đột nhiên sinh khởi núi sông và đất đai, tất cả các pháp hữu vi này? Nay Như Lai đã chứng đắc diệu không và minh giác, khi nào núi sông, đất đai, và các tập lậu hữu vi sẽ sinh khởi lại?”

Phật bảo Phú Lâu Na: “Ví dụ, nếu một người trong làng lầm lẫn về phương nam và phương bắc, sự lầm lẫn này là do lầm lẫn hay do giác ngộ?”

Phú Lâu Na bạch: “Người lầm lẫn như vậy không phải do lầm lẫn cũng không phải do giác ngộ. Tại sao? Lầm lẫn vốn không có gốc rễ; làm sao nó có thể là nguyên nhân? Giác ngộ không sinh ra lầm lẫn; làm sao nó có thể là nguyên nhân?”

Phật bảo: “Nếu người lầm lẫn đó, khi đang ở trong sự lầm lẫn, bỗng gặp một người giác ngộ chỉ đường và khiến anh ta giác ngộ, Phú Lâu Na, ông nghĩ sao? Dẫu người này có lầm lẫn, anh ta có sinh khởi lầm lẫn lần nữa trong làng này không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

“Phú Lâu Na, Như Lai mười phương cũng như vậy. Sự lầm lẫn này không có gốc rễ; tánh của nó rốt ráo là không. Trước kia vốn không có lầm lẫn; dường như có lầm lẫn và giác ngộ. Khi giác ngộ về sự lầm lẫn kết thúc sự lầm lẫn, giác ngộ không sinh ra lầm lẫn. Nó cũng giống như người bị đục thủy tinh thể thấy hoa đốm trong hư không. Nếu đục thủy tinh thể được loại bỏ, hoa đốm tan biến vào hư không. Nếu một người ngu si đợi ở chỗ hoa đốm tan biến để hoa sinh khởi lại, ông coi người này là ngu hay trí?”

Phú Lâu Na bạch: “Hư không vốn không có hoa; vọng kiến tạo ra sinh diệt. Thấy hoa tan biến vào hư không đã là điên đảo. Ra lệnh cho chúng xuất hiện lại là hoàn toàn điên rồ. Tại sao lại định nghĩa người điên như vậy là ngu hay trí?”

Phật bảo: “Như ông đã hiểu, tại sao ông lại hỏi khi nào diệu không thanh tịnh và sáng suốt của Chư Phật và Như Lai sẽ lại sinh ra núi sông và đất đai? Hơn nữa, nó giống như quặng vàng lẫn với vàng ròng; một khi vàng đã tinh khiết, nó không trở lại lẫn lộn nữa. Như gỗ thành tro, nó không trở lại thành gỗ. Bồ đề và Niết bàn của Chư Phật và Như Lai cũng như vậy.”

“Phú Lâu Na, ông cũng hỏi về tánh của đất, nước, lửa, và gió dung thông hoàn toàn và biến khắp Pháp giới, nghi ngờ rằng nước và lửa sẽ tiêu diệt lẫn nhau. Ông cũng thắc mắc làm sao hư không và đất đai, cả hai đều biến khắp Pháp giới, lại không phù hợp với nhau. Phú Lâu Na, ví dụ, thể của hư không không phải là tập hợp của các tướng, nhưng nó không từ chối sự hiện bày của các tướng đó. Tại sao vậy? Phú Lâu Na, hư không lớn kia sáng khi mặt trời chiếu, tối khi mây tụ, động khi gió thổi, trong khi trời quang, đục khi khí tụ, mờ khi bụi tích, và phản chiếu khi nước trong. Ông nghĩ sao? Các tướng hữu vi khác nhau này được sinh ra bởi những điều kiện đó, hay chúng tồn tại trong hư không? Nếu chúng sinh ra từ những điều kiện đó, Phú Lâu Na, khi mặt trời chiếu sáng, vì là mặt trời sáng, mười phương phải là màu của mặt trời. Làm sao người ta có thể thấy mặt trời tròn trên bầu trời? Nếu nó là sự sáng của hư không, hư không phải tự chiếu sáng. Tại sao không có ánh sáng vào giữa đêm khi có mây mù? Ông nên biết rằng sự sáng này không phải mặt trời cũng không phải hư không, nhưng không khác với hư không hay mặt trời. Quán sát các tướng, chúng vốn là hư vọng, không có gì để chỉ ra; giống như mời hoa đốm sinh quả đốm. Tại sao lại tìm hiểu ý nghĩa của sự tiêu diệt lẫn nhau của chúng? Quán sát tánh, nó vốn chân thật, duy nhất là diệu minh giác. Diệu giác minh tâm vốn không phải nước hay lửa. Tại sao lại hỏi về sự không tương hợp của chúng? Diệu minh giác chân thật cũng như vậy. Nếu ông dùng hư không để làm rõ nó, hư không hiện ra. Nếu đất, nước, lửa, và gió mỗi thứ kiểm chứng nó, mỗi thứ hiện ra. Nếu tất cả cùng kiểm chứng nó, tất cả cùng hiện ra. Làm sao tất cả cùng hiện ra?”

“Này Phú Lâu Na, ví như bóng mặt trời hiện trong một vùng nước. Nếu hai người cùng nhìn mặt trời trong nước, rồi mỗi người đi về phía đông và tây, thì mỗi người sẽ có một mặt trời đi theo mình, một cái về phía đông, một cái về phía tây. Không có tiêu chuẩn nào; không nên phản đối rằng: ‘Mặt trời này là một; tại sao nó lại đi theo mỗi ngả?’ Vì mặt trời đã thành hai, tại sao lại hiện ra như một? Điều đó là rắc rối và hư vọng, không có cơ sở.”

“Này Phú Lâu Na, ông dùng sắc và không để tranh cãi và nắm bắt Như Lai Tạng, vì thế Như Lai Tạng hiện ra là sắc và không khắp Pháp Giới. Do đó, trong đó gió động, hư không tĩnh, mặt trời sáng, và mây tối. Chúng sinh mê lầm; họ quay lưng lại với giác ngộ và hợp với trần (bụi). Vì vậy, sự mệt mỏi của trần lao khởi lên, mang lại các tướng thế gian. Ta hợp với Như Lai Tạng bằng diệu minh chẳng sinh chẳng diệt, nên Như Lai Tạng chỉ là diệu giác và tánh minh chiếu soi trọn vẹn Pháp Giới. Do đó, trong đó cái một là vô lượng, và cái vô lượng là một. Cái nhỏ hiện trong cái lớn, và cái lớn hiện trong cái nhỏ. Các đạo tràng bất động biến khắp mười phương thế giới. Thân ta chứa đựng hư không vô tận của mười phương. Trên đầu một sợi lông, các cõi của Bảo Vương hiện ra. Ngồi trong một hạt bụi, ta chuyển đại Pháp luân. Diệt trừ trần lao và hợp với giác ngộ, tánh chân như, diệu giác và tánh minh hiển lộ. Như Lai Tạng, bản diệu viên tâm, chẳng phải tâm, chẳng phải không, chẳng phải đất, chẳng phải nước, chẳng phải gió, chẳng phải lửa; chẳng phải mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, hay ý; chẳng phải sắc, thanh, hương, vị, xúc, hay pháp; chẳng phải nhãn thức giới, cho đến chẳng phải ý thức giới; chẳng phải minh, chẳng phải vô minh, chẳng phải minh và vô minh tận; cho đến chẳng phải lão tử, chẳng phải lão tử tận; chẳng phải khổ, tập, diệt, hay đạo; chẳng phải trí, chẳng phải đắc; chẳng phải bố thí, chẳng phải trì giới, chẳng phải tinh tấn, chẳng phải nhẫn nhục, chẳng phải thiền định, chẳng phải bát nhã, chẳng phải ba la mật; cho đến chẳng phải Như Lai, chẳng phải A La Hán, chẳng phải Tam Miệu Tam Bồ Đề, chẳng phải Đại Niết Bàn; chẳng phải thường, chẳng phải lạc, chẳng phải ngã, chẳng phải tịnh. Vì nó chẳng phải thế gian cũng chẳng phải xuất thế gian. Đó là Như Lai Tạng, bản minh tâm và diệu. Nó là tâm, nó là không, nó là đất, nó là nước, nó là gió, nó là lửa; nó là mắt, nó là tai, mũi, lưỡi, thân, và ý; nó là sắc, nó là thanh, hương, vị, xúc, và pháp; nó là nhãn thức giới, cho đến nó là ý thức giới; nó là minh, và vô minh, và minh vô minh tận; cho đến nó là lão tử, và lão tử tận; nó là khổ, tập, diệt, và đạo; nó là trí, và đắc; nó là bố thí, và trì giới, và tinh tấn, và nhẫn nhục, và thiền định, và bát nhã, và ba la mật; cho đến nó là Như Lai, nó là A La Hán, nó là Tam Miệu Tam Bồ Đề, nó là Đại Niết Bàn; nó là thường, nó là lạc, nó là ngã, và nó là tịnh. Vì nó vừa là thế gian vừa là xuất thế gian. Đó là Như Lai Tạng, diệu minh tâm bản nguyên. Nó lìa ‘có’ và lìa ‘không’; nó là ‘có’ và nó là ‘không’. Làm sao chúng sinh trong ba cõi hữu, và các bậc Thanh Văn, Duyên Giác xuất thế gian, có thể đo lường Vô Thượng Bồ Đề của Như Lai bằng cái tâm hiểu biết của họ? dùng ngôn ngữ thế gian để nhập tri kiến Phật? Ví như cây đàn cầm, đàn hạc, hay đàn tỳ bà: tuy chúng có âm hay, nhưng nếu không có ngón tay khéo léo, chúng chẳng thể nào chơi được. Ông và tất cả chúng sinh cũng giống như vậy: bảo giác và chân tâm vốn tròn đầy trong mỗi các ông. Cũng như khi ta ấn ngón tay, hải ấn phát quang, ngay khi ông khởi tâm, trần lao liền khởi trước. Vì các ông không siêng năng cầu Đạo Giác Ngộ Vô Thượng, mà lại ưa Tiểu Thừa và thỏa mãn với cái nhỏ bé.”

Phú Lâu Na bạch rằng: “Con và Như Lai đều tròn đầy bảo giác, viên minh, và chân tâm diệu tịnh không hai. Nhưng con, vì gặp vọng tưởng vô thỉ từ lâu xa, nên đã ở lâu trong luân hồi. Nay tuy đã chứng Thánh Thừa, nhưng vẫn chưa rốt ráo. Bạch Thế Tôn, tất cả hư vọng đã diệt sạch, và điều diệu kỳ duy nhất là chân thường. Con xin hỏi Như Lai: Vì cớ gì tất cả chúng sinh lại có hư vọng, che lấp tính diệu minh của chính mình và chịu sự chìm đắm khổ sở này?”

Phật bảo Phú Lâu Na: “Tuy ông đã trừ nghi, nhưng những mê lầm còn lại của ông chưa hết. Nay ta sẽ hỏi lại ông bằng những sự việc hiện tiền trong thế gian. Ông chẳng nghe chuyện Diễn Nhã Đạt Đa (Yajnadatta) ở thành Xá Vệ (Shravasti) sao? Một buổi sáng nọ, anh ta soi gương và yêu cái đầu trong gương với lông mày và mắt thấy được. Anh ta nổi giận và trách cái đầu của chính mình vì không nhìn thấy mặt và mắt của nó. Cho là yêu quái, anh ta chạy điên cuồng vô cớ. Ông nghĩ sao? Vì cớ gì người này lại chạy điên cuồng vô cớ?”

Phú Lâu Na bạch: “Tâm người này điên; chẳng có lý do nào khác.”

Phật bảo: “Diệu giác vốn minh và viên; cái viên bản nguyên vốn minh và diệu. Đã gọi là vọng, làm sao có nguyên nhân? Nếu có nguyên nhân, sao gọi là vọng? Tất cả vọng tưởng sinh khởi nối tiếp nhau, chồng chất mê lầm lên mê lầm, trải qua trần kiếp. Dù Phật có giảng rõ, ông vẫn chưa thể quay về. Nguyên nhân của sự mê lầm như vậy tồn tại là do mê lầm. Hãy nhận ra rằng mê lầm không có nguyên nhân và hư vọng không có cơ sở. Vì nó thậm chí chưa từng sinh, thì có gì để diệt? Người đắc Bồ Đề giống như người thức dậy và kể chuyện trong mộng; dù tâm người ấy sáng suốt, y có thể dùng nhân duyên gì để nắm bắt các cảnh trong mộng? Huống hồ là có nguyên nhân khi mọi thứ vốn dĩ không tồn tại! Như Diễn Nhã Đạt Đa trong thành kia, làm sao có nhân duyên gì cho việc y sợ đầu mình và bỏ chạy? Nếu sự điên cuồng của y bỗng nhiên dứt, cái đầu của y chẳng phải lấy được từ bên ngoài. Dù sự điên cuồng chưa dứt, y đã mất cái gì? Này Phú Lâu Na, tánh của hư vọng cũng như vậy; làm sao nó tồn tại được? Ông chỉ cần không theo sự phân biệt của thế gian, ba loại tương tục của nghiệp, quả, và chúng sinh. Khi ba duyên này cắt đứt, thì ba nhân không sinh. Khi đó Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ông, cái tánh điên cuồng, tự nhiên dứt. Dứt là Bồ Đề. Tâm thanh tịnh sáng suốt vô thượng vốn biến khắp Pháp Giới. Nó không phải lấy được từ người khác; tại sao lại nương vào sự khổ nhọc và tu hành vất vả để chứng nghiệm nó?”

Ví như người có hạt châu như ý cột trong áo mình mà không biết. Nghèo khổ và lưu lạc phương khác, y xin ăn và chạy vạy. Tuy y thật sự nghèo, nhưng hạt châu chưa từng mất. Bỗng nhiên có người trí chỉ ra hạt châu. Mọi ý nguyện của y đều được thỏa mãn từ tâm, và y đạt được sự giàu có lớn. Khi đó y mới nhận ra rằng hạt châu thần diệu không phải lấy được từ bên ngoài.

Tức thì, A Nan trong đại chúng cúi đầu lạy chân Phật, đứng dậy và bạch Phật rằng: “Thế Tôn nay nói rằng khi ba nhân sát, đạo, dâm bị cắt đứt, thì ba duyên không sinh. Tánh điên cuồng của Đạt Đa trong tâm tự dứt, và dứt là Bồ Đề, không phải lấy từ người khác. Đây rõ ràng là vấn đề nhân duyên. Tại sao Như Lai bỗng nhiên bỏ nhân duyên? Tâm con đã mở và tỉnh ngộ nhờ nhân duyên. Bạch Thế Tôn, nghĩa này không chỉ dành cho chúng con, những Thanh Văn trẻ tuổi còn hữu học. Trong hội này hiện nay, Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề, và những vị khác đã theo các Bà La Môn già và nghe nhân duyên của Phật, phát tâm, tỉnh ngộ, và chứng vô lậu. Nếu nay Ngài nói rằng Bồ Đề không đến từ nhân duyên, thì thuyết tự nhiên (spontaneity) của Mạt Già Lê Câu Xá Lợi Tử (Maskari Goshaliputra) và những người khác ở Vương Xá Thành (Rajgriha) sẽ trở thành chân lý đệ nhất. Con chỉ mong nhận được đại bi của Ngài để khai mở sự mê lầm và tối tăm của con.”

Phật bảo A Nan: “Cũng như trường hợp của Diễn Nhã Đạt Đa trong thành: nếu nhân duyên của tánh điên cuồng của y diệt, thì tánh không điên cuồng của y tự nhiên hiện ra. Nguyên lý nhân duyên và tự nhiên chấm dứt ngay tại đây. Này A Nan, đầu của Diễn Nhã Đạt Đa tự nhiên là như vậy; nó vốn dĩ tự nhiên như thế. Chưa từng có lúc nào nó không phải là y. Nhân hay duyên gì khiến y sợ đầu mình và chạy điên cuồng? Nếu cái đầu tự nhiên của y phát điên do nhân duyên, tại sao y không mất nó do nhân duyên tự nhiên? Đầu vốn có của y không mất; sự điên cuồng và sợ hãi khởi lên một cách hư vọng. Vì chưa từng có sự thay đổi nào, cần gì nhân duyên? Sự điên cuồng vốn có là tự nhiên; vốn dĩ có sự điên cuồng và sợ hãi. Trước khi y điên, sự điên cuồng trốn ở đâu? Nếu sự hoàn toàn không điên là tự nhiên, và cái đầu vốn dĩ không có hư vọng, tại sao y lại chạy điên cuồng? Nếu y nhận ra cái đầu vốn có của mình, y nhận biết sự điên cuồng của việc chạy trốn. Nhân duyên và tự nhiên đều là hý luận. Vì thế ta nói, khi ba duyên cắt đứt, đó là tâm Bồ Đề. Khi tâm Bồ Đề sinh, tâm sinh diệt diệt. Đây chỉ là sinh diệt. Diệt và sinh đều tận; đó là Đạo vô công dụng. Nếu có tự nhiên, thì phải rõ ràng rằng tâm tự nhiên sinh và tâm sinh diệt diệt. Đây cũng là sinh diệt. Cái không sinh không diệt gọi là tự nhiên. Ví như trộn lẫn các hiện tượng khác nhau trong thế gian; làm chúng thành một thể gọi là tánh hòa hợp. Cái không hòa hợp gọi là bản tánh. Bản tánh không phải là tánh; hòa hợp không phải là hợp. Hợp và tánh đều lìa; lìa và hợp đều không tồn tại. Câu này được gọi là Pháp vô hý luận. Bồ Đề và Niết Bàn vẫn còn xa. Đó không phải là điều ông có thể chứng nghiệm qua nhiều kiếp tinh tấn khổ nhọc. Dù ông có nhớ và giữ gìn các nguyên lý thanh tịnh và vi diệu của mười hai bộ kinh do chư Như Lai mười phương thuyết, nhiều như cát sông Hằng, nó chỉ giúp cho hý luận của ông. Dù ông bàn luận về nhân duyên và tự nhiên và hiểu rõ chúng, và thế gian gọi ông là đa văn đệ nhất, với tất cả sự học hỏi và huân tập tích lũy qua nhiều kiếp này, ông vẫn không thể thoát khỏi nạn Ma Đăng Già (Matangi). Tại sao ông phải đợi Thần Chú Lăng Nghiêm của ta từ đỉnh đầu Phật? Lửa dâm trong lòng Ma Đăng Già bỗng nhiên dứt, và bà chứng quả A Na Hàm. Trong Pháp của ta, bà trở thành rừng tinh tấn; sông ái khô cạn, giúp bà giải thoát. Vì thế, A Nan, tuy ông đã nhớ và giữ gìn những trang nghiêm bí mật vi diệu của Như Lai trong nhiều kiếp, nhưng không bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa lìa hai khổ ghét và yêu trong thế gian. Như Ma Đăng Già, người trước đây là kỹ nữ: nhờ sức thần chú, lòng dâm của bà đã bị nhốt lại. Trong Pháp, tên bà nay là Tánh Tỷ Khâu Ni (Bhikshuni Nature). Bà và mẹ của La Hầu La, Da Du Đà La, đều ngộ ra nhân quá khứ và biết rằng tham và ái liên tục qua các đời là khổ. Nhờ căn lành của một niệm tu vô lậu, một người được giải thoát khỏi ràng buộc, và người kia được thọ ký.”

“Làm sao các ông có thể tự lừa dối mình và vẫn ở trong cái thấy và nghe?”

A Nan và đại chúng nghe lời dạy của Phật; nghi ngờ và bối rối của họ tiêu tan, và tâm họ ngộ ra thật tướng. Thân và tâm cảm thấy nhẹ nhàng và an lạc chưa từng có. Lại rơi lệ bi cảm, họ đảnh lễ chân Phật. Quỳ gối chắp tay, họ bạch Phật rằng: “Đức Vô Thượng Đại Bi Thanh Tịnh Bảo Vương đã khéo léo mở tâm con. Ngài có thể dùng các nhân duyên và phương tiện khác nhau như vậy để khuyến khích và dẫn dắt tất cả những ai trong bóng tối ra khỏi biển khổ. Bạch Thế Tôn, tuy nay con đã nhận được pháp âm như vậy và biết rằng Như Lai Tạng, diệu giác minh tâm, biến khắp Pháp Giới, chứa đựng và nuôi dưỡng cõi nước của mười phương Như Lai và cõi nước thanh tịnh, bảo báu, trang nghiêm của Giác Vương, nhưng Như Lai lại quở trách sự học là không có công đức và không sánh bằng thực hành. Con nay như kẻ lữ hành lang thang bỗng nhận được món quà là ngôi nhà tráng lệ từ Thiên Vương. Tuy con đã có được dinh thự lớn, con phải vào qua cửa. Con chỉ mong Như Lai không bỏ đại bi của Ngài nhưng sẽ chỉ cho chúng con trong hội này, những người bị che phủ bởi bóng tối, bỏ Tiểu Thừa, làm sao để nắm bắt và hàng phục các tâm hành hữu vi của quá khứ và đắc Đà La Ni để nhập tri kiến Phật, để chúng con chắc chắn sẽ chứng Vô Dư Niết Bàn của Như Lai, con đường bản nguyên của ý định.” Nói xong, ông gieo năm vóc sát đất. Đại chúng nhất tâm, chờ đợi lời dạy từ bi của Phật.

Bấy giờ, Thế Tôn thương xót các Duyên Giác và Thanh Văn trong hội chưa an trụ nơi tâm Bồ Đề, và vì chúng sinh trong thời Mạt Pháp sau khi Phật diệt độ muốn quyết định tâm mình nơi Bồ Tát đạo, đã khai mở con đường diệu hành của tối thượng thừa. Ngài tuyên bố với A Nan và đại chúng: “Nếu các ông quyết định phát tâm chứng Bồ Đề và không mệt mỏi với diệu Tam Ma Địa của Đức Phật Như Lai, các ông trước hết nên hiểu hai nghĩa quyết định liên quan đến sơ phát tâm giác ngộ. Hai nghĩa quyết định của sơ phát tâm là gì? Này A Nan, nghĩa thứ nhất là: nếu ông muốn bỏ địa vị Thanh Văn và tu Bồ Tát Thừa để nhập tri kiến Phật, ông nên quán sát kỹ xem cái tâm phát khởi ở nhân địa và cái giác ngộ ở quả địa là đồng hay khác. Này A Nan, nếu ở nhân địa ông dùng tâm sinh diệt làm cơ sở tu hành để cầu Phật Thừa vốn bất sinh bất diệt, thì không có chuyện đó. Vì nghĩa này, ông nên hiểu rõ rằng tất cả các vật thể hữu hình trong thế gian đều phải chịu biến đổi và hoại diệt. Này A Nan, hãy quán sát thế gian: pháp hữu vi nào không hư hoại? Nhưng chưa bao giờ nghe nói hư không nát hay hoại. Tại sao? Vì hư không không phải là tạo tác hữu vi. Vì nó vốn dĩ không có hoại hay diệt. Như vậy, chắc thật trong thân ông, cứng là đất, ướt là nước, ấm là lửa, và động là gió. Do bốn sự ràng buộc này, tâm trạm viên diệu giác minh của ông bị chia thành thấy, nghe, hay, và biết. Từ đầu đến cuối, có năm lớp bẩn trược. Bẩn trược là gì? Này A Nan, ví dụ, nước trong vốn sạch. Nếu bụi, đất, tro, và cát bị ném vào đó—bản chất của chúng là chướng ngại, trong khi tánh của hai vật thể vốn không tương hợp—và nếu người thế gian lấy đất bụi đó ném vào nước trong, đất mất sự chướng ngại và nước mất sự sạch sẽ. Tướng trạng trở nên đục ngầu; đây gọi là trược (đục). Năm lớp trược của ông cũng giống như vậy.”

“Này A Nan, ông thấy hư không biến khắp mười phương. Hư không và tánh thấy không tách rời. Hư không không có tự thể; tánh thấy không có nhận biết. Chúng đan xen nhau và hình thành một cách hư vọng. Đây là lớp thứ nhất, tên là Kiếp Trược (Kalpa Turbidity). Thân ông hiện ra nhận thức tứ đại là tự thể của nó. Thấy, nghe, hay, biết bị ngăn ngại và làm cho lưu lại. Nước, lửa, gió, đất xoay vần và tạo ra hay và biết. Chúng đan xen nhau và hình thành một cách hư vọng. Đây là lớp thứ hai, tên là Kiến Trược (Views Turbidity). Lại nữa, trong tâm ông, ghi nhớ, nhận biết và tụng niệm tự nhiên phát sinh tri kiến dung nạp sáu trần. Lìa trần thì không có tướng; lìa giác thì không có tánh. Chúng đan xen nhau và hình thành một cách hư vọng. Đây là lớp thứ ba, tên là Phiền Não Trược (Afflictions Turbidity). Lại nữa, ngày đêm sự sinh diệt của ông không dừng. Tri kiến thường muốn lưu lại thế gian. Sự chuyển động của nghiệp thường di dời để thọ thân trong một cõi nước. Chúng đan xen nhau và hình thành một cách hư vọng. Đây là lớp thứ tư, tên là Chúng Sinh Trược (Living Beings Turbidity). Tánh thấy và nghe của ông vốn không phải là những tánh khác biệt. Đám đông trần lao tạo ra sự cách biệt, sinh ra sự sai khác không thể giải thích. Trong tánh của chúng, có sự biết nhau; trong dụng của chúng, chúng trái ngược nhau. Đồng và dị mất đi tiêu chuẩn. Chúng đan xen nhau và hình thành một cách hư vọng. Đây là lớp thứ năm, tên là Mạng Trược (Life Turbidity).”

“Này A Nan, nay ông muốn khiến cho thấy, nghe, hay, biết của ông quay về và hợp với Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Như Lai, trước hết ông nên lựa ra căn gốc của tử và sinh và nương vào tánh viên trạm vốn không sinh không diệt. Dùng cái trạm nhiên (lặng lẽ) nầy để xoay chuyển cái hư vọng sinh diệt, phục chế chúng, và quay về bản giác, đạt được sự giác ngộ về bản minh. Với tánh không sinh không diệt làm cái tâm nhân địa, ông sẽ chứng nghiệm được quả tu hành. Ví như làm trong nước bùn đựng trong một cái bình sạch. Để yên lặng và sâu lắng, không lay động, cát và đất tự chìm xuống, và nước trong hơn hiện ra. Đây gọi là bước đầu phục chế khách trần phiền não. Gạn lọc bùn để chỉ còn lại nước trong gọi là vĩnh viễn đoạn trừ căn bản vô minh. Khi tướng minh thanh tịnh và tinh tế, mọi hiện hành đều không còn phiền não. Tất cả đều hợp với đức thanh tịnh vi diệu của Niết Bàn.”

“Nghĩa quyết định thứ hai là: nếu ông nhất định muốn phát tâm Bồ Đề và sinh lòng đại dũng mãnh trong Bồ Tát Thừa, quyết định bỏ mọi tướng hữu vi, ông nên xem xét kỹ lưỡng căn gốc của phiền não. Ai tạo ra và ai chịu đựng sự tạo nghiệp và nuôi dưỡng sự sinh ra vô thỉ này? Này A Nan, nếu trong khi tu Bồ Đề ông không quán sát kỹ căn gốc của phiền não, ông không thể biết vị trí của các căn và trần hư vọng. Nếu ông thậm chí không biết vị trí của sự điên đảo, làm sao ông có thể phục chế nó để đạt được địa vị của Như Lai? Này A Nan, hãy nhìn một người trong thế gian đang mở một nút thắt: nếu anh ta không thấy nút thắt ở đâu, làm sao anh ta biết cách mở? Nhưng chưa bao giờ nghe nói hư không bị ông đập vỡ. Tại sao? Vì hư không không có hình tướng, và do đó không có thắt hay mở. Nhưng nay mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý hiện tại của ông là sáu tên giặc đóng vai trò môi giới, trộm cắp bảo vật trong nhà của chính ông. Vì lẽ này, từ vô thỉ, chúng sinh đã bị thế giới trói buộc, không thể vượt thoát thế giới vật chất.”

“Này A Nan, cái gì gọi là thế giới chúng sinh? ‘Thế’ (Shi) chỉ dòng chảy thời gian; ‘Giới’ (Jie) chỉ phương vị không gian. Ông nên biết rằng đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên, và dưới làm thành giới. Quá khứ, vị lai, và hiện tại làm thành thế. Có mười phương vị không gian và ba dòng chảy thời gian. Tất cả chúng sinh được hình thành bởi sự đan xen của hư vọng. Trong thân, thời gian và không gian tương tác và liên quan lẫn nhau. Tuy tánh của giới này có mười phương là định vị, nhưng thế gian chỉ công nhận đông, tây, nam, và bắc. Trên và dưới không có vị trí cố định; khoảng giữa không có phương hướng nhất định. Bốn đại diện cho con số; tất nhiên là chúng liên quan đến thế gian/thời gian. Ba lần bốn, hay bốn lần ba, xoay vần thành mười hai. Dòng chảy biến đổi thành ba lớp: một, mười, một trăm, một nghìn. Cộng lại sâu xa, trong sáu căn, mỗi căn có một nghìn hai trăm công đức.”

“Này A Nan, ông nên kiểm nghiệm sự ưu và kém trong chúng. Ví dụ, mắt thấy: nó thấy tối phía sau và sáng phía trước. Phía trước hoàn toàn sáng; phía sau hoàn toàn tối. Nhìn sang hai bên, nó thấy hai phần ba. Luận về chức năng của nó một cách toàn diện, công đức của nó không trọn vẹn. Trong ba phần công đức, một phần thiếu đức. Ông nên biết nhãn căn chỉ có tám trăm công đức. Tai nghe mười phương không sót; dù động tĩnh gần hay xa, cái nghe là vô biên. Ông nên biết nhĩ căn có trọn vẹn một nghìn hai trăm công đức. Mũi ngửi mùi hương thông qua sự hít vào và thở ra của hơi thở. Có ra có vào, nhưng thiếu ở chỗ giao nhau. Kiểm nghiệm với nhĩ căn, một phần ba bị thiếu. Ông nên biết tịnh căn chỉ có tám trăm công đức. Lưỡi tuyên nói tất cả trí tuệ thế gian và xuất thế gian; lời nói có giới hạn nhưng lý lẽ vô cùng. Ông nên biết thiệt căn có trọn vẹn một nghìn hai trăm công đức. Thân cảm giác xúc chạm, nhận biết thuận và nghịch. Nó cảm thấy khi có tiếp xúc, nhưng không biết gì khi ly cách. Ly là một, hợp là hai; kiểm nghiệm với thiệt căn, một phần ba bị thiếu. Ông nên biết thân căn chỉ có tám trăm công đức. Ý thầm lặng chứa đựng mười phương và ba đời, tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Bất kể Thánh hay phàm, không gì không được bao dung đến tột cùng. Ông nên biết ý căn có trọn vẹn một nghìn hai trăm công đức.”

“Này A Nan, nay ông muốn đi ngược dòng dục vọng sinh tử, và quay về nguồn của dòng chảy để đạt đến trạng thái không sinh không diệt, ông nên kiểm nghiệm sáu căn thọ nhận này. Cái nào là hợp, cái nào là ly? Cái nào sâu, cái nào nông? Cái nào viên thông, cái nào không viên mãn? Nếu ông có thể ngộ được căn viên thông ở đây, và đảo ngược dòng chảy vô thỉ của nghiệp hư vọng đan xen đó, tìm cầu sự viên thông, thì sự khác biệt giữa nó và một căn không viên mãn là bội số của ngày so với kiếp. Nay ta chỉ bày hoàn toàn sáu cái minh thanh tịnh viên mãn; số lượng công đức bản nguyên của chúng là như thế. Ông nên lựa chọn kỹ lưỡng cái nào để vào; ta sẽ giải thích để giúp ông tiến bước. Chư Như Lai mười phương đã tu hành qua mỗi một trong mười tám giới và chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề viên mãn; trong đó, không có sự ưu hay kém. Nhưng vì căn cơ của ông thấp kém và ông không thể đạt được sự tự tại và trí tuệ hoàn toàn trong chúng, ta tuyên thuyết điều này để giúp ông thâm nhập qua một cửa. Nếu ông vào một cửa không hư vọng, sáu căn sẽ thanh tịnh cùng lúc.”

A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, làm sao đi ngược dòng và thâm nhập vào một cửa lại khiến sáu căn thanh tịnh cùng lúc?”

Phật bảo A Nan: “Nay ông đã chứng quả Tu Đà Hoàn (Srota-apanna). Ông đã diệt trừ kiến hoặc của chúng sinh trong ba cõi. Tuy nhiên, ông chưa biết những tập khí hư vọng vô thỉ tích tập trong các căn qua nhiều đời. Những tập khí này phải được cắt đứt thông qua tu hành. Huống hồ là số lượng các chi nhánh sinh, trụ, dị, diệt trong đó! Nay hãy tạm thời quán sát sáu căn hiện tại của ông: chúng là một hay sáu? Này A Nan, nếu ông nói chúng là một, tại sao tai không thấy? Tại sao mắt không nghe? Tại sao đầu không đi? Tại sao chân không nói? Nếu sáu căn này nhất định là sáu, khi ta nay giải thích pháp môn vi diệu này cho ông trong hội này, căn nào trong sáu căn của ông thọ nhận nó?”

A Nan bạch: “Con nghe bằng tai.”

Phật bảo: “Nếu tai ông tự nghe, nó có liên quan gì đến thân và miệng ông? Nhưng miệng ông hỏi nghĩa, và thân ông bày tỏ sự cung kính. Do đó, ông nên biết chúng không phải một, nhưng rốt cuộc là sáu; không phải sáu, nhưng rốt cuộc là một. Rốt ráo, các căn của ông về bản chất không phải một hay sáu. Này A Nan, ông nên biết rằng các căn này chẳng phải một chẳng phải sáu. Do sự điên đảo và chìm đắm vô thỉ, ý nghĩa của một và sáu sinh khởi trong sự viên trạm. Tuy ông đắc sáu cái giải thoát (lục giải) với tư cách là Tu Đà Hoàn, ông vẫn chưa quên cái một. Ví như hư không chứa trong các vật chứa khác nhau. Vì hình dáng của vật chứa khác nhau, hư không được gọi tên khác nhau. Nếu ông bỏ vật chứa và quan sát hư không, ông nói hư không là một. Làm sao đại hư không đó trở thành đồng hay dị đối với ông? Huống hồ ông có thể gọi nó là một hay không phải một? Ông nên hiểu sáu căn thọ nhận cũng giống như vậy.”

“Do hai tướng sáng và tối tương tác, tánh thấy dính vào sự trạm nhiên (lặng lẽ) và hiện ra trong sự diệu viên. Tinh thể của thấy phản chiếu sắc và kết sắc lại thành căn. Căn này vốn tên là tứ đại thanh tịnh. Như thế nhãn thể được gọi tên, trông như chùm nho. Phù căn và bốn trần trôi chảy ra ngoài để chạy theo sắc. Do hai tướng động và tĩnh cọ xát, tánh nghe dính vào sự trạm nhiên và hiện ra trong sự diệu viên. Tinh thể của nghe phản chiếu âm thanh và cuộn âm thanh lại thành căn. Căn này vốn tên là tứ đại thanh tịnh. Như thế nhĩ thể được gọi tên, trông như lá cuốn tươi. Phù căn và bốn trần trôi chảy ra ngoài để chạy theo âm thanh. Do hai tướng thông và bít phát sinh, tánh ngửi dính vào sự trạm nhiên và hiện ra trong sự diệu viên. Tinh thể của ngửi phản chiếu mùi hương và thu nạp mùi hương thành căn. Căn này vốn tên là tứ đại thanh tịnh. Như thế tịnh thể được gọi tên, trông như móng vuốt rủ xuống đôi. Phù căn và bốn trần trôi chảy ra ngoài để chạy theo mùi hương. Do hai tướng nhạt và đa dạng (biến đổi) hòa lẫn, tánh nếm dính vào sự trạm nhiên và hiện ra trong sự diệu viên. Tinh thể của nếm phản chiếu vị và xoắn vị lại thành căn. Căn này vốn tên là tứ đại thanh tịnh. Như thế thiệt thể được gọi tên, trông như trăng lưỡi liềm. Phù căn và bốn trần trôi chảy ra ngoài để chạy theo vị. Do hai tướng ly và hợp cọ xát, tánh cảm giác dính vào sự trạm nhiên và hiện ra trong sự diệu viên. Tinh thể của cảm giác phản chiếu xúc và thu nhiếp xúc thành căn. Căn này vốn tên là tứ đại thanh tịnh. Như thế thân thể được gọi tên, trông như phần hút âm của cái trống. Phù căn và bốn trần trôi chảy ra ngoài để chạy theo xúc. Do hai tướng sinh và diệt tiếp nối, tánh biết dính vào sự trạm nhiên và hiện ra trong sự diệu viên. Tinh thể của biết phản chiếu pháp và nắm bắt pháp thành căn. Căn này vốn tên là tứ đại thanh tịnh. Như thế ý tư được gọi tên, trông như thấy trong phòng tối. Phù căn và bốn trần trôi chảy ra ngoài để chạy theo pháp.”

“Này A Nan, sáu căn là như thế. Do cái giác và minh đó, có cái minh và giác tri. Mất đi sự hiểu biết bản chất đó, nó dính vào vọng và phát quang. Do đó, lìa ám và minh, ông nay không có thể tánh của thấy. Lìa động và tĩnh, vốn không có chất lượng của nghe. Không có thông và bít, tánh ngửi không sinh. Không có biến đổi và nhạt nhẽo, nếm không tạo ra gì. Không có ly và hợp, cảm giác xúc chạm vốn không tồn tại. Không có diệt và sinh, cái biết của sự hiểu biết không có nơi nương tựa. Ông chỉ cần không theo mười hai tướng hữu vi động, tĩnh, hợp, ly, nhạt, biến, bít, thông, sinh, diệt, minh, và ám. Theo đó, rút ra một căn, tắch nó khỏi sự dính mắc, và phục chế nó bên trong. Phục chế nó để quay về chân thật bản nguyên và cái minh không cần thiết. Khi Tánh Minh hiện ra, năm sự dính mắc kia sẽ được nhổ ra và hoàn toàn tách rời. Tri kiến sẽ không sinh khởi từ đối tượng giác quan bên ngoài. Cái minh không theo các căn mà nương vào các căn để hiện ra. Từ đây, sáu căn có thể dùng thay thế nhau.”

“Này A Nan, ông không biết sao? Trong hội này hiện nay, A Na Luật (Aniruddha) thấy không cần mắt. Rồng Bối Nan Đà (Upananda) nghe không cần tai. Thần Sông Hằng (Ganges Goddess) ngửi hương không cần mũi. Kiều Phạm Ba Đề (Gavampati) nếm vị bằng lưỡi lạ lùng. Thần Thuấn Nhã Đa (Shunyata) không có thân mà vẫn cảm giác xúc chạm. Hào quang của Như Lai phản chiếu và làm họ tạm thời hiện ra. Vì họ thuộc tánh gió, thể của họ vốn không tồn tại. Những người trong Diệt Tận Định đạt được sự tịch tĩnh của Thanh Văn. Như Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa) trong hội này, ông đã diệt ý căn từ lâu, nhưng có sự hiểu biết viên minh không nương vào ý nghĩ tinh thần. Này A Nan, nếu tất cả các căn của ông hoàn toàn được nhổ ra và phát quang bên trong, thì trần tướng trôi nổi và thế giới vật chất, tất cả các tướng biến đổi, sẽ như băng tan trong nước nóng. Đáp ứng với niệm, chúng sẽ chuyển hóa thành vô thượng tri giác.”

“Này A Nan, ví như người thế gian tập trung cái thấy vào mắt họ. Nếu ông khiến họ bỗng nhiên nhắm mắt lại, tướng tối hiện ra. Sáu căn tối tăm và lẫn lộn; đầu và chân trông giống nhau. Nếu người đó dùng tay rờ thân mình, tuy không thấy, anh ta có thể phân biệt đầu và chân; cái hay và cái biết là như nhau. Vì tánh thấy nương vào ánh sáng, bóng tối không mang lại cái thấy. Nhưng sự hiểu biết tự nhiên hiện ra; tướng tối không thể che lấp nó. Một khi căn và trần đã tiêu tan, làm sao giác minh không trở nên viên diệu?”

A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, như Phật đã nói, nếu tâm nhân địa cầu sự thường trú, nó phải tương ứng với danh và nghĩa của quả địa. Bạch Thế Tôn, Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tánh, A Ma La Thức, Không Như Lai Tạng, và Đại Viên Cảnh Trí ở quả địa—tuy bảy tên gọi này khác nhau, nhưng thể tánh thanh tịnh viên mãn của chúng thì kiên cố và cô đọng, như Kim Cương Vương, thường trú và bất hoại. Nếu cái thấy và nghe này, lìa sáng và tối, động và tĩnh, thông và bít, rốt ráo không có thực thể, giống như ý nghĩ tinh thần lìa trần cảnh bên ngoài thì vốn không tồn tại, làm sao có thể dùng sự đoạn diệt rốt ráo này làm nhân tu hành để cầu bảy quả địa thường trú của Như Lai? Bạch Thế Tôn, nếu cái thấy lìa sáng và tối, nó rốt ráo là không. Cũng như không có tiền cảnh, tự tánh của ý nghĩ bị diệt. Đi tới đi lui, xoay vần và tìm kiếm tỉ mỉ, vốn không có ‘cái ta’, tâm ta, hay tâm sở của ta. Cái gì sẽ được thiết lập làm nhân để cầu Vô Thượng Giác? Như Lai trước đây đã nói rằng bản thể trạm nhiên là viên mãn và thường hằng; vi phạm những lời chân thật này cuối cùng sẽ trở thành hí luận. Làm sao Như Lai có thể là người nói lời chân thật? Con chỉ mong ngài rủ lòng đại bi khai mở sự ngu độn và bế tắc của con.”

Phật bảo A Nan: “Ông đã học nhiều nhưng chưa dứt sạch các lậu. Trong tâm ông, ông chỉ biết cái nhân của điên đảo, nhưng khi điên đảo hiện ra, ông thật sự không thể nhận ra nó. Ta e rằng tâm chân thật của ông chưa có niềm tin và sự thuận tùng. Nay ta sẽ thử dùng việc thế gian để trừ nghi cho ông.” Tức thì, Như Lai bảo La Hầu La đánh chuông một tiếng. Ngài hỏi A Nan: “Nay ông có nghe không?”

A Nan và đại chúng đều nói: “Chúng con có nghe.”

Chuông dứt và không có tiếng. Phật lại hỏi: “Nay ông có nghe không?”

A Nan và đại chúng đều nói: “Chúng con không nghe.”

Khi ấy, La Hầu La lại đánh chuông. Phật lại hỏi: “Nay ông có nghe không?”

A Nan và đại chúng lại nói là họ nghe.

Phật hỏi A Nan: “Tại sao ông nghe, và tại sao ông không nghe?”

A Nan và đại chúng đều bạch Phật: “Nếu chuông được đánh, chúng con nghe. Nếu đánh xong và tiếng dứt, âm vang hết, thì gọi là không nghe.”

Như Lai lại bảo La Hầu La đánh chuông, và hỏi A Nan: “Nay có tiếng không?”

A Nan nói: “Có tiếng.”

Một lát sau, tiếng dứt. Phật lại hỏi: “Nay có tiếng không?”

A Nan và đại chúng trả lời: “Không có tiếng.”

Một lát sau, La Hầu La lại đến đánh chuông. Phật lại hỏi: “Nay có tiếng không?”

A Nan và đại chúng đều nói: “Có tiếng.”

Phật hỏi A Nan: “Tại sao có tiếng, và tại sao không có tiếng?”

A Nan và đại chúng đều bạch Phật: “Nếu chuông được đánh, thì gọi là có tiếng. Nếu đánh xong và tiếng dứt, âm vang hết, thì gọi là không có tiếng.”

Phật nảo A Nan và đại chúng: “Tại sao nay các ông nói lời hỗn loạn và điên đảo?”

Đại chúng và A Nan đồng thời hỏi Phật: “Làm sao chúng con bị gọi là hỗn loạn và điên đảo?”

Phật bảo: “Ta hỏi các ông về nghe, và các ông nói các ông nghe. Ta hỏi các ông về tiếng, và các ông nói có tiếng. Các ông trả lời về nghe và tiếng mà không xác định. Làm sao đây không gọi là hỗn loạn và điên đảo? Này A Nan, khi tiếng dứt và không còn tiếng vang, ông nói không có nghe. Nếu thật sự không có nghe, thì tánh nghe đã bị diệt, như gỗ khô. Khi chuông được đánh lại, làm sao ông biết? Biết có và biết không thuộc về thanh trần. Hoặc không, hoặc có; làm sao tánh nghe đó lại là ‘có’ hay ‘không’ đối với ông? Nếu nghe thật sự là không, ai biết là không? Do đó, này A Nan, tiếng tự nhiên sinh và diệt trong cái nghe. Không phải là cái nghe của ông sinh và diệt theo tiếng, làm cho tánh nghe của ông có hay không. Ông vẫn còn điên đảo, lầm tiếng là nghe. Thảo nào ông bối rối và mê lầm, cho cái thường là cái đoạn. Ông chỉ không được nói rằng lìa động và tĩnh, bít và thông, nghe không có tánh.”

“Ví như một người ngủ say trên giường. Có người trong nhà đang đập lụa hoặc giã gạo trong khi anh ta ngủ. Trong giấc mơ, người đó nghe tiếng đập và lầm tưởng là cái khác, có thể là đánh trống hoặc đánh chuông. Trong mơ, anh ta tự hỏi tại sao chuông lại kêu như gỗ hoặc đá. Bỗng nhiên anh ta tỉnh dậy và nhận ra tiếng chày. Anh ta bảo gia đình: ‘Trong khi tôi đang mơ, tôi lầm tiếng đập này là tiếng trống.’ Này A Nan, làm sao người trong mộng này có thể nhớ tĩnh và động, mở và đóng, thông và bít? Tuy hình thể anh ta ngủ, nhưng tánh nghe của anh ta không mờ tối. Dù cho hình thể ông tan rã và mạng quang của ông di dời, làm sao tánh này có thể diệt đối với ông?”

“Vì tất cả chúng sinh, từ vô thỉ, đã theo sắc và thanh, chạy theo niệm và trôi lăn, họ chưa bao giờ giác ngộ cái tánh thanh tịnh, vi diệu và thường hằng. Không theo cái thường, họ chạy theo sinh diệt. Do đó, họ sinh ra đời đời kiếp kiếp, trôi lăn trong ô nhiễm. Nếu ông bỏ sinh diệt và giữ cái chân thường, ánh sáng thường hằng sẽ hiện ra. Các căn, trần, và thức sẽ lập tức biến mất. Tưởng và tướng là trần; tình và thức là cáu bẩn. Hãy tránh xa cả hai. Thì Pháp Nhãn của ông sẽ ứng hợp và trong sáng. Làm sao ông không đạt được Vô Thượng Tri Giác?”

Bản Dịch Hiện Đại Kinh Lăng Nghiêm Quyển 4

Khi ấy, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử (Purna Maitrayaniputra) từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, trệch vai áo phải, quỳ gối phải, chắp tay cung kính, và bạch Phật:

Trong một Phật điện trang nghiêm, nhiều hành giả đang lặng lẽ lắng nghe lời dạy của Phật. Bỗng nhiên, một đệ tử tên là Phú Lâu Na đứng dậy. Ông cung kính quỳ xuống đất, chắp tay, và bạch Phật:

“Bạch Đại Đức Thế Tôn, ngài đã hùng hồn diễn giải đệ nhất nghĩa đế của Như Lai vì lợi ích của chúng sinh. Thế Tôn thường khen ngợi con là bậc nhất trong những người thuyết pháp. Hôm nay, nghe pháp âm vi diệu của Như Lai giống như người điếc cố nghe tiếng muỗi từ cách xa hơn trăm bước—vốn đã không thấy, huống chi là nghe? Tuy sự tuyên bố rõ ràng của Phật dạy con phá trừ mê lầm, nhưng con chưa hoàn toàn thấu hiểu nghĩa rốt ráo đến mức không còn nghi ngờ. Bạch Thế Tôn, như A Nan và những người khác, tuy họ đã đạt được chút ít giác ngộ, nhưng tập khí và lậu hoặc của họ chưa được trừ sạch. Những người trong chúng con đã đạt đến bậc vô lậu, tuy chúng con đã dứt sạch mọi lậu hoặc, vẫn còn nuôi dưỡng nghi ngờ và hối tiếc khi nghe pháp âm của Như Lai. Bạch Thế Tôn, nếu tất cả các căn, trần, uẩn, xứ, và giới thế gian vốn là Như Lai Tạng thanh tịnh, làm sao núi, sông, và đại địa lại bỗng nhiên sinh khởi, với tất cả các hiện tượng hữu vi trôi chảy liên tục, kết thúc rồi lại bắt đầu? Hơn nữa, Như Lai nói rằng tánh của đất, nước, lửa, và gió là viên dung, biến khắp Pháp Giới và vẫn trạm nhiên thường hằng. Bạch Thế Tôn, nếu tánh của đất biến khắp, làm sao nó có thể chứa nước? Nếu tánh của nước biến khắp, thì lửa sẽ không sinh khởi; vậy ngài giải thích điều đó thế nào? Nếu tánh của nước và lửa đều biến khắp hư không, chúng sẽ tiêu diệt lẫn nhau. Bạch Thế Tôn, tánh của đất là chướng ngại trong khi tánh của không là thông suốt; làm sao cả hai có thể biến khắp Pháp Giới? Con không biết nghĩa này dẫn đến đâu. Con chỉ mong Như Lai rưới lòng đại bi để khai mở mây mờ của sự mê lầm cho con và đại chúng.”

“Bạch Đức Phật tôn kính, ngài luôn có thể dạy chúng con với trí tuệ thâm sâu nhất. Ngài từng khen con là người thuyết pháp giỏi nhất, nhưng nay nghe lời dạy của ngài, con cảm thấy như người điếc cố nghe tiếng muỗi từ xa, thật vô cùng khó khăn. Dù ngài đã giải thích rất rõ ràng, con vẫn còn nhiều nghi hoặc.”

Phú Lâu Na tiếp lời: “Cũng như A Nan, tuy ông ấy đã đạt giác ngộ, vẫn còn một số tập khí chưa trừ bỏ. Chúng con những người đã đạt cảnh giới vô lậu, tuy đã trừ bỏ mọi phiền não, vẫn cảm thấy bối rối sau khi nghe lời dạy của ngài.”

Ông tiếp tục hỏi: “Bạch Phật, nếu vạn vật trong thế giới vốn là thanh tịnh, tại sao núi, sông, và đại địa, những vật hữu hình này, lại bỗng nhiên xuất hiện? Tại sao chúng thay đổi liên tục và sinh diệt không ngừng? Ngài nói rằng bốn đại đất, nước, lửa, và gió vốn viên dung, biến khắp toàn thế giới và vĩnh viễn không thay đổi.”

“Nhưng nếu tánh đất ở khắp mọi nơi, làm sao nước có thể tồn tại? Nếu tánh nước ở khắp mọi nơi, làm sao lửa có thể tồn tại? Nước và lửa đồng thời biến khắp hư không; tại sao chúng không tiêu diệt lẫn nhau? Tánh đất là chướng ngại, và tánh không là thông suốt; làm sao chúng có thể đồng thời biến khắp toàn thế giới? Con thật sự không hiểu những lý lẽ này. Con khẩn cầu Phật từ bi giải đáp những nghi ngờ này cho chúng con.”

Nói xong lời này, ông gieo năm vóc xuống đất, hăm hở chờ đợi lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai.

Sau khi nói những lời này, Phú Lâu Na cung kính phục xuống đất, khao khát nghe Phật dạy.

Khi ấy, Thế Tôn bảo Phú Lâu Na và tất cả các A La Hán trong hội đã dứt sạch lậu hoặc và là bậc vô học: “Hôm nay, vì lợi ích của hội chúng này, Như Lai sẽ tuyên thuyết nghĩa thắng nghĩa trong thắng nghĩa đế. Ta sẽ khiến những ai trong các ông là Định Tánh Thanh Văn, và tất cả những ai chưa đắc nhị không nhưng đang hướng mình về Tối Thượng Thừa, cùng với các A La Hán, đều được nơi tịch diệt của Nhất Thừa, chân A Lan Nhã, nơi tu hành chân chính. Hãy lắng nghe kỹ, và ta sẽ giải thích cho các ông.”

Lúc này, Phật bảo Phú Lâu Na và tất cả các hành giả hiện diện: “Hôm nay ta sẽ giải thích chân lý tối thượng cho mọi người. Điều này sẽ giúp tất cả các ông, dù là hành giả đã đạt đến một cảnh giới nào đó hay những người đang theo đuổi cảnh giới cao hơn, đạt đến nơi an tịnh tối hậu. Nào, hãy lắng nghe lời giải thích của ta một cách cẩn thận.”

Phú Lâu Na và những người khác cung kính chờ đợi pháp âm của Phật, im lặng lắng nghe.

Phú Lâu Na và các đệ tử khác cung kính lắng nghe lời dạy của Phật, giữ im lặng.

Phật bảo: “Phú Lâu Na, như ông đã nói, mọi thứ là thanh tịnh và bản nhiên; vậy làm sao núi, sông, và đại địa lại bỗng nhiên sinh khởi? Ông không nghe Như Lai nói rằng tánh giác là diệu minh, và bản giác là minh diệu sao?”

Phật bắt đầu nói: “Phú Lâu Na, ông hỏi, nếu mọi thứ vốn thanh tịnh, tại sao núi, sông, và đại địa lại bỗng nhiên xuất hiện. Ông không nghe ta thường nói câu ‘Tánh giác là diệu minh, và bản giác là minh diệu’ sao?”

Phú Lâu Na nói: “Dạ có, bạch Thế Tôn. Con thường nghe Phật tuyên thuyết nghĩa này.”

Phú Lâu Na đáp: “Dạ có, bạch Thế Tôn. Con thường nghe ngài giải thích lý lẽ này.”

Phật bảo: “Ông nói về giác và minh. Có phải là cái tánh minh nên gọi là giác, hay là cái giác, vốn không minh, nên gọi là minh giác?”

Phật tiếp tục hỏi: “Vậy, cái ‘giác minh’ (Jue Ming) ông nói đến, có nghĩa là bản tánh là sự giác ngộ sáng suốt, hay có nghĩa là bản thân sự giác ngộ không sáng, nên cần ánh sáng để mô tả sự giác ngộ?”

Phú Lâu Na nói: “Nếu sự thiếu minh này được gọi là giác, thì không có vô minh.”

Phú Lâu Na suy nghĩ một lát và đáp: “Nếu cái không sáng được gọi là giác, thì vô minh không tồn tại.”

Phật bảo: “Nếu không có minh, thì không có minh giác. Nếu có cái gì hoàn toàn không giác, thì không có cái gì không minh. Nhưng vô minh không phải là tánh của giác minh liễu. Tánh giác tất nhiên là minh; lầm lẫn, nó trở thành minh giác. Giác không phải là cái gì là đối tượng của sự hiểu biết. Vì minh, một đối tượng được lập ra. Một khi đối tượng được lập ra một cách hư vọng, cái chủ thể hư vọng của ông sinh khởi. Trong cái chẳng phải đồng chẳng phải dị, một sự khác biệt mãnh liệt được lập ra. Khác với cái dị đó, cái đồng được lập ra vì sự khác biệt. Với đồng và dị được lập ra rõ ràng, tiếp theo, cái chẳng phải đồng chẳng phải dị được lập ra. Sự hỗn loạn như thế sinh ra sự mệt mỏi cho nhau. Mệt mỏi qua thời gian sinh ra trần, tự che lấp và làm đục chính mình. Từ đây, phiền não của trần và lao được khuấy động. Khởi lên, nó trở thành thế giới; tĩnh lại, nó trở thành hư không. Hư không là đồng; thế giới là dị. Cái chẳng phải đồng chẳng phải dị là pháp hữu vi chân thật.”

Phật gật đầu và giải thích: “Nếu không có gì để hiểu, thì không có minh giác. Có đối tượng không phải là chân giác; không có đối tượng là chân minh. Vô minh cũng không phải là bản chất của giác. Cái giác của bản tánh tất nhiên là sáng, nhưng chúng ta lầm tưởng rằng sáng là đặc điểm của giác.

Chân giác không nên có đối tượng, nhưng vì sáng, một đối tượng được sinh ra. Có đối tượng, khả năng nhận biết đối tượng được sinh ra. Nơi không có đồng và dị, bỗng nhiên sự khác biệt nảy sinh. Vì sự khác biệt, khái niệm đồng được lập ra. Một khi khái niệm đồng và dị hình thành, khái niệm không đồng không dị được sinh ra.”

Phật tiếp tục: “Sự hỗn loạn như thế dẫn đến mối quan hệ tương quan tương duyên. Qua một thời gian dài, trần lao sinh ra, làm vẩn đục mọi thứ. Đây là nguồn gốc của phiền não. Cái động trở thành thế giới, và cái tĩnh trở thành hư không. Hư không đại diện cho cái đồng, và thế giới đại diện cho cái dị. Và thực tại chân thật thì không đồng không dị; đây là hiện tượng chân thật.”

«Tánh giác làm cho hư không mờ mịt; tương tác với nhau mà thành rung động. Do đó có phong luân gìn giữ thế giới. Do hư không mà sinh ra rung động; cái sáng kiên cố lập thành chướng ngại. Những gì thuộc kim loại và bảo vật được lập thành kiên cố bởi tánh giác sáng suốt. Do đó có kim luân nâng đỡ quả đất. Tánh giác kiên cố thành kim loại bảo vật; cái sáng rung động sinh ra gió. Gió và kim loại cọ xát nhau, do đó có ánh lửa là tánh của sự biến hóa. Cái sáng bảo vật sinh ra hơi ẩm; ánh lửa bốc hơi lên. Do đó có thủy luân chứa đựng thế giới mười phương. Lửa bốc lên và nước chảy xuống; sự tương tác của chúng lập thành cái kiên cố. Cái ướt thành đại dương; cái khô thành châu lục và hải đảo. Do nghĩa này, ánh lửa thường bốc lên trong đại dương, và sông ngòi thường đổ vào châu lục. Nơi sức nước yếu hơn lửa, nó kết lại thành núi cao. Vì vậy, khi đá núi bị đập mạnh thì tóe lửa, và khi nung chảy thì thành nước. Nơi sức đất yếu hơn nước, nó rút ra thành cây cối. Vì vậy, khi rừng cháy thì thành tro, và khi vắt ra thì có nước. Những cái vọng hiện tương tác làm hạt giống cho nhau. Do các nhân duyên này mà thế giới tiếp nối.»

Đức Phật tiếp tục giải thích: “Khi tánh giác và cái sáng đối lập nhau, hành động rung động được sinh ra. Đó là lý do tại sao có gió, thứ nâng đỡ thế giới. Vì hư không sinh ra rung động, sự kiên cố và cái sáng tạo ra chướng ngại. Kim loại và đá quý là kết quả của tánh giác sáng suốt trở nên kiên cố. Vì vậy có kim luân bảo vệ trái đất.”

Đức Phật tiếp tục: “Khi tánh giác kiên cố trở thành vật báu, cái sáng rung động trở thành gió. Ma sát giữa gió và kim loại tạo ra ánh lửa, là bản chất của sự thay đổi. Sự chói sáng của vật báu tạo ra hơi ẩm, và ánh lửa bốc hơi lên, vì vậy có nước, chứa đựng thế giới mười phương. Lửa bốc lên và nước chảy xuống; sự tương tác của chúng hình thành những vật kiên cố. Cái ướt trở thành đại dương, và cái khô trở thành đất liền.”

Ngài tiếp tục giải thích: “Đây là lý do tại sao ánh lửa luôn xuất hiện trong đại dương, và sông ngòi luôn chảy trên đất liền. Sức mạnh của nước không lớn bằng lửa, nên núi cao được hình thành. Đó là lý do tại sao đập đá tạo ra tia lửa, và nung chảy chúng biến chúng thành nước. Sức mạnh của đất không lớn bằng nước, nên cây cối mọc lên. Đó là lý do tại sao đốt rừng biến chúng thành đất, và ép chúng cho ra nước. Những nhận thức sai lầm này tương tác và trở thành gốc rễ của nhau. Đây là lý do tại sao thế giới tiếp diễn không dứt.”

«Lại nữa, Phú Lâu Na, cái lỗi của sự sáng không gì khác hơn là cái lỗi của tánh giác trở thành đối tượng. Một khi đối tượng giả dối được lập, nguyên lý của sự sáng không vượt qua nó. Do các nhân duyên này, cái nghe không vượt qua âm thanh, và cái thấy không vượt qua sắc tướng. Sắc, thanh, hương, vị, xúc—sáu cái vọng được thành tựu. Từ đó, thấy, nghe, hay, biết bị chia chẻ. Các nghiệp giống nhau trói buộc lẫn nhau; hợp và ly mang lại sự biến hóa. Khi cái thấy gặp cái sáng, sắc tướng được sinh ra; cái thấy sáng tạo ra tưởng. Các cái nhìn khác nhau tạo ra ghét; thấy cái giống nhau tạo ra yêu. Tình yêu lưu chuyển thành hạt giống; tưởng thọ nhận thành bào thai. Giao cấu xảy ra, thu hút nghiệp tương tự. Do đó, nhân duyên sinh ra yết-la-lam (kalala), h-bộ-đàm (arbuda), v.v. Thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, và hóa sinh tuân theo sự tương ứng của chúng. Trứng sinh ra từ tưởng; thai sinh ra từ tình. Thấp sinh cảm nhận qua sự hợp; hóa sinh ứng hiện qua sự ly. Tình, tưởng, hợp, và ly biến hóa và thay đổi lẫn nhau. Tất cả nghiệp thọ nhận tuân theo sự thăng hay trầm của nó. Do các nhân duyên này, chúng sinh tiếp nối.»

Đức Phật quay sang Phú Lâu Na và tiếp tục: “Hơn nữa, Phú Lâu Na, lỗi lầm của sự sáng không gì khác hơn là do sự sáng của tánh giác. Một khi nhận thức sai lầm được thiết lập, các nguyên lý đúng đắn không thể vượt qua nó. Do đó, tai không thể nghe những gì ngoài âm thanh, và mắt không thể thấy những gì ngoài màu sắc. Sáu nhận thức sai lầm—màu sắc, mùi, vị, xúc giác, v.v.—do đó được hình thành.”

“Điều này sinh ra các tri giác như thị giác và thính giác. Các nghiệp tương tự quấn lấy nhau, và sự tụ họp và chia ly tạo ra những thay đổi. Thấy cái sáng tạo ra màu sắc, và thị giác sáng hình thành trí tưởng tượng. Các thị giác khác nhau tạo ra hận thù, và trí tưởng tượng giống nhau tạo ra tình yêu. Tình yêu chảy thành hạt giống, và trí tưởng tượng được chấp nhận thành bào thai.”

Đức Phật kết luận: “Những tương tác này sinh ra sự sống và thu hút nghiệp tương tự. Do đó, do nhân duyên, các dạng sống khác nhau được tạo ra. Noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, và hóa sinh đều được tạo ra tùy theo điều kiện của chúng. Trứng chỉ cần trí tưởng tượng để sinh ra; thai cần tình cảm để hình thành. Thấp sinh cần cảm giác của sự tiếp xúc; hóa sinh cần sự phản ứng của sự chia ly. Sự tụ họp và chia ly của tình cảm và trí tưởng tượng không ngừng chuyển hóa lẫn nhau. Nghiệp đã trải qua quyết định sự thăng trầm của cuộc sống. Đây là lý do tại sao chúng sinh tiếp diễn không dứt.”

«Phú Lâu Na, tưởng và ái kết lại với nhau; ái không thể lìa bỏ. Do đó, cha mẹ và con cái trong thế gian sinh ra nhau không ngừng. Những điều này dựa trên dục và tham. Tham và ái nuôi dưỡng lẫn nhau; tham không thể dừng lại. Do đó, bốn loài sinh trong thế gian—noãn, thai, thấp, và hóa—nuốt ăn lẫn nhau tùy theo sức mạnh. Những điều này dựa trên sát sinh và tham lam. Người ăn dê; dê chết thành người; người chết thành dê. Như vậy, cho đến mười loài chúng sinh, chúng ăn nuốt lẫn nhau trong đời này qua đời khác, kiếp này qua kiếp khác. Ác nghiệp sinh ra cùng với chúng, cùng tận biên giới của vị lai. Những điều này dựa trên trộm cắp và tham lam. Ngươi nợ mạng ta; ta trả nợ ngươi. Do các nhân duyên này, chúng ta trải qua trăm ngàn kiếp trong sinh tử thường hằng. Ngươi yêu tâm ta; ta mến sắc ngươi. Do các nhân duyên này, chúng ta trải qua trăm ngàn kiếp trong sự ràng buộc thường hằng. Sát, đạo, và dâm là ba gốc rễ. Do các nhân duyên này, quả nghiệp tiếp nối.»

Đức Phật tiếp tục giải thích cho Phú Lâu Na: “Phú Lâu Na, khi tưởng tượng và tình yêu kết lại với nhau, tình yêu không thể tách rời. Đây là lý do tại sao cha mẹ và con cái trên thế gian tiếp tục sinh ra nhau không ngừng. Nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng này là ham muốn và tham lam.”

Đức Phật tiếp tục: “Khi tham lam và tình yêu nuôi dưỡng lẫn nhau, tham lam không thể dừng lại. Đây là lý do tại sao chúng sinh sinh ra từ trứng, thai, độ ẩm, và sự biến hóa trên thế gian ăn nuốt lẫn nhau tùy theo sức mạnh của chúng. Nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng này là sát sinh và tham lam.”

Đức Phật đưa ra một ví dụ: “Ví dụ, một người ăn một con dê. Sau khi con dê chết, nó có thể sinh ra làm người; sau khi người chết, anh ta có thể sinh ra làm dê. Theo cách này, tất cả các dạng sống ăn nuốt lẫn nhau qua các chu kỳ sinh tử. Ác nghiệp này tiếp diễn không dứt. Nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng này là trộm cắp và tham lam.”

Đức Phật tiếp tục giải thích: “Ngươi đã lấy mạng ta, nên ta phải đòi nợ. Vì lý do này, chúng sinh trải qua sinh tử trong trăm ngàn kiếp. Ngươi yêu tâm hồn ta, và ta thương vẻ ngoài của ngươi; vì lý do này, chúng sinh bị vướng mắc trong trăm ngàn kiếp. Sát sinh, trộm cắp, và dâm dục—ba hành vi này là gốc rễ của mọi thứ. Vì những lý do này, quả báo nghiệp chướng tiếp diễn không dứt.”

«Phú Lâu Na, ba loại điên đảo này tiếp nối. Chúng đều sinh khởi từ tánh giác sáng suốt và cái hiểu về tánh biết. Do cái hiểu, các tướng mạo được cấu thành. Chúng sinh ra từ cái thấy vọng. Núi, sông, và đại địa, tất cả các tướng hữu vi, trôi chảy tiếp nối. Do cái vọng này, chúng kết thúc rồi lại bắt đầu.»

Đức Phật kết luận: “Phú Lâu Na, sự tiếp nối của ba loại điên đảo này đều bắt nguồn từ sự hiểu biết sáng suốt của tánh giác. Do hiểu biết, các tướng mạo nảy sinh, sinh ra từ những cái nhìn sai lầm. Núi, sông, và đại địa—tất cả những vật hữu hình—thay đổi tiếp nối nhau. Chính vì sự hư vọng này, có một chu kỳ kết thúc và bắt đầu lại.”

Phú Lâu Na nói: “Nếu tánh giác diệu dụng này vốn là cái sáng diệu giác, chẳng tăng chẳng giảm từ tâm Như Lai, làm thế nào nó bỗng nhiên sinh khởi núi, sông, và đại địa, và tất cả các tướng hữu vi? Nay Như Lai đã đạt được tánh giác diệu không sáng suốt, khi nào núi, sông, đại địa, và sự tích tập hữu lậu hữu vi sẽ sinh trở lại?”

Sau khi nghe lời giải thích của Đức Phật, Phú Lâu Na nêu lên một nghi ngờ mới: “Nếu tánh giác diệu dụng này vốn viên mãn và không khác với tâm Phật, tại sao núi, sông, và trái đất lại đột nhiên xuất hiện? Vì Đức Phật đã đạt được tánh giác diệu, không, và sáng, tại sao những hiện tượng thế gian này lại xuất hiện lần nữa?”

Đức Phật bảo Phú Lâu Na: “Giả sử có một người bị mê lầm ở trong làng, lầm hướng nam thành hướng bắc. Sự mê lầm này là kết quả của mê lầm, hay nó sinh ra từ sự tỉnh ngộ?”

Đức Phật mỉm cười và trả lời: “Để ta cho ông một ví dụ. Giả sử một người lạc lối trong làng lầm hướng nam thành hướng bắc. Ông nghĩ sự mê lầm này nảy sinh vì mê lầm, hay nó biến mất vì sự tỉnh ngộ?”

Phú Lâu Na nói: “Người mê lầm như vậy chẳng phải do mê lầm cũng chẳng phải do tỉnh ngộ. Tại sao? Mê lầm vốn không có gốc, làm sao nó có thể là nguyên nhân? Tỉnh ngộ không sinh ra mê lầm, làm sao nó có thể là nguyên nhân?”

Phú Lâu Na suy nghĩ một lát rồi trả lời: “Sự mê lầm này không tồn tại vì mê lầm, cũng không biến mất vì sự tỉnh ngộ. Tại sao? Vì mê lầm không có gốc rễ, làm sao nó có thể được gây ra bởi mê lầm? Tỉnh ngộ không tạo ra mê lầm, vậy làm sao nó có thể biến mất vì tỉnh ngộ?”

Đức Phật nói: “Nếu người mê lầm đó bỗng nhiên được người tỉnh ngộ chỉ đường trong khi đang mê lầm, Phú Lâu Na, ông nghĩ sao? Nếu người này mất đi sự mê lầm, liệu anh ta có mê lầm trở lại trong ngôi làng này không?”

Đức Phật gật đầu tán thành: “Nói hay lắm. Vậy, nếu người lạc lối này đang ở giữa sự mê lầm, và đột nhiên một người hiểu biết chỉ điểm cho anh ta và đánh thức anh ta. Phú Lâu Na, ông nghĩ sao? Ngay cả khi người này đã từng lạc lối, liệu anh ta có lạc lối lần nữa trong ngôi làng này không?”

“Không, bạch Thế Tôn.”

Phú Lâu Na trả lời chắc chắn: “Không, bạch Thế Tôn.”

«Phú Lâu Na, Như Lai mười phương cũng như vậy. Sự mê lầm này không có gốc; tánh của nó rốt ráo là không. Trong quá khứ, vốn không có mê lầm; dường như có mê lầm và tỉnh ngộ. Khi giác ngộ được mê lầm, mê lầm bị tiêu diệt; tỉnh ngộ không sinh ra mê lầm. Nó giống như người bị mộng mắt thấy hoa trong hư không. Nếu mộng mắt được loại bỏ, hoa biến mất vào hư không. Nếu bỗng nhiên một người ngu si đợi hoa mọc lại ở chỗ trống nơi chúng biến mất, ông coi người này là ngu si hay trí tuệ?»

Đức Phật tiếp tục giải thích: “Chư Phật mười phương cũng như vậy. Sự mê lầm này vốn không có gốc rễ; bản chất của nó là không. Ban đầu không có mê lầm, chỉ có vẻ bề ngoài của mê lầm và tỉnh ngộ. Một khi tỉnh ngộ khỏi mê lầm, mê lầm biến mất; tỉnh ngộ không sinh ra mê lầm lần nữa.”

Đức Phật đưa ra một ví dụ khác: “Giống như một người bị bệnh mắt nhìn thấy hoa trên bầu trời. Khi bệnh mắt được chữa khỏi, hoa trên bầu trời biến mất. Nếu một người ngu ngốc chờ đợi ở nơi hoa biến mất để chúng xuất hiện lần nữa, ông nghĩ người này thông minh hay ngu ngốc?”

Phú Lâu Na nói: “Hư không vốn không có hoa; cái thấy vọng sinh ra sự sinh diệt. Thấy hoa biến mất trong hư không đã là điên đảo. Ra lệnh cho chúng xuất hiện trở lại thật là điên cuồng và ngu si. Làm sao ngài có thể gọi người điên như vậy là ngu si hay trí tuệ?”

Sau khi nghe ví dụ của Đức Phật, Phú Lâu Na chợt nhận ra và nói: “Vốn dĩ không có hoa trên bầu trời; tà kiến đã gây ra sự xuất hiện của sinh và diệt. Thấy hoa tan biến vào bầu trời đã là một ý nghĩ điên đảo; yêu cầu chúng xuất hiện lần nữa thực sự là hành vi điên rồ. Làm sao chúng ta có thể bàn luận xem một người điên như vậy là thông minh hay ngu ngốc?”

Đức Phật nói: “Như ông giải thích, tại sao ông lại hỏi liệu tánh giác diệu, sáng, không của chư Phật và Như Lai có lại sinh ra núi, sông, và đại địa nữa không? Nó giống như quặng vàng lẫn với vàng ròng; một khi vàng đã tinh khiết, nó không trở lại lẫn lộn nữa. Như gỗ thành tro, nó không trở lại thành gỗ nữa. Bồ đề và Niết bàn của tất cả chư Phật và Như Lai cũng như vậy.”

Đức Phật mỉm cười và nói: “Vì ông hiểu nguyên lý này, tại sao ông lại hỏi tại sao tánh không sáng suốt tỉnh thức diệu dụng của chư Phật lại tác động sinh ra núi, sông, và trái đất lần nữa? Điều này giống như vàng ròng được tách ra từ quặng vàng; một khi đã tách ra, nó không biến trở lại thành tạp chất. Hoặc giống như gỗ cháy thành tro; nó không biến trở lại thành gỗ. Bồ đề và Niết bàn của chư Phật và Như Lai cũng như vậy.”

«Phú Lâu Na, ông cũng hỏi về tánh của đất, nước, lửa, và gió dung thông hoàn toàn và biến khắp pháp giới, nghi ngờ làm sao nước và lửa trong bối cảnh đó không tiêu diệt lẫn nhau. Ông cũng hỏi làm sao hư không và đại địa, cả hai đều biến khắp pháp giới, lại không xung đột. Phú Lâu Na, ví dụ, thể chất của hư không không phải là tập hợp của các sắc tướng, nhưng nó không từ chối sự hiển hiện của các sắc tướng khác nhau. Tại sao vậy? Phú Lâu Na, trong hư không lớn đó, có ánh sáng khi mặt trời chiếu, bóng tối khi mây tụ, chuyển động khi gió thổi, quang tạnh khi trời trong, vẩn đục khi sương tụ, mờ mịt khi bụi chất đống, và phản chiếu khi nước lặng. Ông nghĩ sao? Các tướng hữu vi ở những nơi khác nhau này sinh ra từ những điều kiện đó, hay chúng sinh ra từ hư không? Nếu chúng sinh ra từ những điều kiện đó, Phú Lâu Na, khi mặt trời chiếu thì sáng; mười phương đều cùng màu mặt trời. Làm sao người ta có thể thấy một mặt trời tròn trên bầu trời? Nếu đó là cái sáng của hư không, hư không phải tự mình chiếu sáng. Tại sao không có ánh sáng vào giữa đêm khi có mây và sương mù? Ông nên biết rằng cái sáng này chẳng phải là mặt trời cũng chẳng phải là hư không, nhưng không khác với hư không và mặt trời. Hãy quan sát rằng các tướng vốn là vọng, không chỉ vào cái gì có thật. Như nhìn chằm chằm vào hoa đốm hư không sinh ra quả hư không. Tại sao lại điều tra ý nghĩa của sự tiêu diệt lẫn nhau của chúng? Hãy quan sát rằng tánh vốn là chân, chỉ là tánh giác diệu minh. Tâm giác diệu minh vốn không phải nước hay lửa. Tại sao lại hỏi về sự không tương hợp của chúng? Tánh giác diệu minh chân thật cũng như vậy. Nếu ông thừa nhận hư không, hư không hiện ra. Nếu đất, nước, lửa, và gió mỗi thứ được phát hiện, chúng mỗi thứ hiện ra. Nếu chúng được phát hiện cùng nhau, chúng hiện ra cùng nhau. Chúng hiện ra cùng nhau như thế nào?»

Đức Phật sau đó trả lời nghi ngờ trước đó của Phú Lâu Na: “Ông hỏi tại sao bốn yếu tố đất, nước, lửa, và gió, vốn hòa quyện hoàn toàn và tràn ngập Pháp giới, lại không tiêu diệt lẫn nhau. Ông cũng hỏi làm sao hư không và trái đất, cả hai đều tràn ngập Pháp giới, lại không xung đột. Phú Lâu Na, để ta cho ông một ví dụ khác.”

“Cũng như hư không vốn không có hình dáng cố định, nó không từ chối sự xuất hiện của các hiện tượng khác nhau. Tại sao? Bởi vì trong hư không này, trời sáng khi mặt trời chiếu soi, tối khi mây đen kéo đến, dao động khi gió thổi, trong trẻo khi thời tiết đẹp, vẩn đục khi không khí ngưng tụ, mờ mịt khi bụi tích tụ, và phản chiếu khi nước trong.”

Đức Phật hỏi: “Ông nghĩ sao? Những hiện tượng khác nhau này phát sinh do hư không, hay chúng vốn có sẵn trong hư không?”

Đức Phật giải thích: “Nếu chúng phát sinh do hư không, thì khi mặt trời chiếu sáng, toàn bộ thế giới phải biến thành màu của mặt trời; tại sao chúng ta vẫn có thể nhìn thấy mặt trời tròn trên bầu trời? Nếu bản thân hư không là sáng, nó phải tự chiếu sáng; tại sao nó không chiếu sáng vào ban đêm hoặc khi trời có mây?”

“Do đó, sự sáng này không đến từ mặt trời cũng không đến từ hư không, nhưng không thể nói là không liên quan đến mặt trời và hư không. Nếu ông quan sát kỹ, ông sẽ thấy rằng những hiện tượng này vốn là hư vọng và bản chất của chúng không thể thực sự chỉ ra được. Giống như cố gắng hái hoa từ trên trời, điều đó là không thể.”

“Bản tánh chân thật là giác tánh thanh tịnh, không phải nước cũng không phải lửa. Vì vậy đừng hỏi liệu chúng có xung đột với nhau hay không. Tâm giác ngộ sáng suốt diệu dụng chân thật cũng như vậy. Nếu ông nghĩ có không gian, ông thấy không gian; nếu ông nghĩ có đất, nước, lửa và gió, chúng xuất hiện riêng lẻ. Nếu ông nhận ra chúng đồng thời, chúng xuất hiện đồng thời.”

“Phú Lâu Na, ví như hình ảnh mặt trời hiện trong nước. Hai người cùng nhìn mặt trời trong nước. Nếu họ đi về phía đông và phía tây tương ứng, sẽ có một mặt trời đi theo mỗi người, một đi về phía đông và một đi về phía tây. Không có tiêu chuẩn cố định. Không nên khó khăn hỏi rằng: ‘Mặt trời này là một; làm sao nó có thể đi theo các hướng khác nhau?’ hoặc ‘Vì mặt trời là hai, làm sao chỉ có một hiện ra?’ Đó là sự luân chuyển hư vọng, không có cơ sở.”

Đức Phật tiếp tục giải thích bằng một ẩn dụ sinh động: “Phú Lâu Na, hãy tưởng tượng hình ảnh phản chiếu của mặt trời trong một vũng nước. Hai người cùng nhìn mặt trời trong nước. Nếu họ đi về phía đông và phía tây tương ứng, mỗi người sẽ thấy một mặt trời đi theo họ dưới chân. Lúc này, chúng ta không thể hỏi tại sao một mặt trời ban đầu lại trở thành hai, cũng không thể hỏi tại sao hai người lại thấy cùng một mặt trời. Nó giống như một ảo ảnh không có cơ sở thực tế.”

“Phú Lâu Na, ông dùng sắc và không để tranh giành và nắm bắt Như Lai Tạng, vì vậy Như Lai Tạng biểu hiện như sắc và không khắp Pháp giới. Do đó, trong đó, gió chuyển động, hư không tĩnh lặng, mặt trời sáng, và mây tối. Chúng sinh mê lầm và vọng tưởng; họ quay lưng lại với giác tánh và hợp với trần. Vì vậy, sự mệt mỏi của trần phát sinh, mang lại các tướng thế gian. Ta hợp với Như Lai Tạng bằng tánh sáng diệu dụng không diệt không sinh, và vì vậy Như Lai Tạng chỉ là giác tánh diệu dụng và tánh sáng chiếu soi hoàn toàn Pháp giới. Do đó, trong đó, một là vô lượng, và vô lượng là một. Cái nhỏ hiện trong cái lớn, và cái lớn hiện trong cái nhỏ. Các đạo tràng bất động biến khắp mười phương thế giới. Thân ta chứa đựng hư không vô tận của mười phương. Trên đầu một sợi lông, các cõi nước của Bảo Vương hiện ra. Ngồi trong một hạt bụi, ta chuyển đại Pháp luân. Diệt trần và hợp với giác tánh, tánh Chân Như, giác tánh diệu dụng và tánh sáng được hiển lộ. Như Lai Tạng, tâm diệu viên căn bản, không phải tâm, không phải không, không phải đất, không phải nước, không phải gió, không phải lửa; không phải mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, hay ý; không phải sắc, thanh, hương, vị, xúc, hay pháp; không phải nhãn thức giới, cho đến không phải ý thức giới; không phải vô minh, không phải sự chấm dứt của vô minh; cho đến không phải lão tử, không phải sự chấm dứt của lão tử; không phải khổ, tập, diệt, hay đạo; không phải trí, không phải đắc; không phải bố thí, không phải trì giới, không phải tinh tấn, không phải nhẫn nhục, không phải thiền định, không phải trí tuệ, không phải ba-la-mật; cho đến không phải Như Lai, không phải A-la-hán, không phải Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải Đại Niết Bàn; không thường, không lạc, không ngã, không tịnh. Bởi vì nó không phải thế gian cũng không phải xuất thế gian. Đó là Như Lai Tạng, tâm sáng diệu dụng căn bản. Nó là tâm, nó là không, nó là đất, nó là nước, nó là gió, nó là lửa; nó là mắt, nó là tai, mũi, lưỡi, thân, và ý; nó là sắc, nó là thanh, hương, vị, xúc, và pháp; nó là nhãn thức giới, cho đến nó là ý thức giới; nó là vô minh, và sự chấm dứt của vô minh; cho đến nó là lão tử, và sự chấm dứt của lão tử; nó là khổ, tập, diệt, và đạo; nó là trí, và đắc; nó là bố thí, và trì giới, và tinh tấn, và nhẫn nhục, và thiền định, và trí tuệ, và ba-la-mật; cho đến nó là Như Lai, nó là A-la-hán, nó là Chánh Đẳng Chánh Giác, nó là Đại Niết Bàn; nó là thường, nó là lạc, nó là ngã, và nó là tịnh. Bởi vì nó vừa là thế gian vừa là xuất thế gian. Đó là Như Lai Tạng, tâm diệu sáng căn bản. Nó lìa khỏi ‘có’ và lìa khỏi ‘không’; nó là ‘có’ và nó là ‘không’. Làm sao chúng sinh trong ba cõi hiện hữu, và các Thanh Văn, Duyên Giác xuất thế gian, có thể đo lường Vô Thượng Bồ Đề của Như Lai bằng tâm thức mà họ biết? Dùng ngôn ngữ thế gian để nhập vào tri kiến Phật? Giống như đàn cầm, đàn sắt, hay đàn tỳ bà: mặc dù chúng có âm thanh tuyệt diệu, nếu không có ngón tay khéo léo, chúng đơn giản là không thể chơi được. Ông và tất cả chúng sinh cũng như vậy: giác tánh quý báu và chân tâm vốn tròn đầy trong mỗi người các ông. Cũng như khi ta ấn ngón tay, hải ấn phát quang, ngay khi ông khởi tâm, sự mệt mỏi của trần khởi lên trước. Bởi vì ông không siêng năng cầu Đạo Giác Ngộ Vô Thượng, mà lại thích Tiểu Thừa và thỏa mãn với cái nhỏ bé.”

Đức Phật bảo Phú Lâu Na: “Phú Lâu Na, hãy để ta kể cho ông nghe một câu chuyện.”

“Hãy tưởng tượng thế giới này giống như một chiếc hộp báu ma thuật, mà chúng ta gọi là ‘Như Lai Tạng’. Chiếc hộp này chứa đầy những thứ tuyệt diệu, hữu hình và vô hình, tất cả trộn lẫn vào nhau.”

“Đôi khi, thế giới chúng ta thấy là như thế này: gió thổi, trời trong; mặt trời sáng, mây đen. Tuy nhiên, nhiều người không hiểu bản chất của những hiện tượng này. Họ lạc lối, quên mất bản tánh của chính mình, và thay vào đó bị bối rối bởi thế giới bên ngoài.”

“Hãy nhìn lại chiếc hộp báu ma thuật này. Nó thực sự rất kỳ diệu và có thể biến thành vô số thế giới. Trong chiếc hộp này, một vật có thể trở thành vô số, và vô số vật có thể kết hợp thành một. Một thế giới khổng lồ có thể hiện ra bên trong một vật nhỏ bé, và một thế giới nhỏ bé có thể ẩn giấu bên trong một vật khổng lồ.”

“Hãy tưởng tượng, trên đầu một sợi lông, một vương quốc tráng lệ có thể hiện ra; bên trong một hạt bụi nhỏ, Đại Pháp Luân có thể xoay chuyển. Đây là phép màu của chiếc hộp báu.”

“Chiếc hộp báu này kỳ diệu đến mức nó không phải là tâm như chúng ta thường hiểu, cũng không phải là hư không; nó không phải là các yếu tố đất, nước, lửa và gió; nó không phải là các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý của chúng ta; cũng không phải là các đối tượng của nhận thức như sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Nó vượt qua mọi nhận thức và hiểu biết của chúng ta.”

“Nhưng chiếc hộp báu này liên quan đến mọi thứ. Nó có thể là tâm, nó có thể là hư không, nó có thể là đất, nước, lửa và gió, và nó có thể là các giác quan và đối tượng nhận thức của chúng ta. Nó chứa đựng tất cả và vượt qua tất cả.”

“Phú Lâu Na, ông có biết không? Nhiều người, bao gồm cả những người tu tập, muốn sử dụng kiến thức hạn hẹp của mình để hiểu chiếc hộp báu vô tận này. Nó giống như cố gắng đo đại dương bằng một cái que nhỏ; không thể nào thành công được.”

“Để ta cho ông một ví dụ: giống như cây đàn tỳ bà, mặc dù nó có thể tạo ra những âm thanh tuyệt vời, nếu không có người khéo léo chơi nó, nó sẽ không bao giờ vang lên. Ông và tất cả chúng sinh đều sở hữu chiếc hộp báu này, nhưng nếu ông không cố gắng hiểu và sử dụng nó, ông sẽ không bao giờ khám phá ra những điều kỳ diệu của nó.”

“Vì vậy, Phú Lâu Na, đừng thỏa mãn với những thành tựu nhỏ bé. Hãy dũng cảm theo đuổi trí tuệ cao nhất và khám phá chiếc hộp báu ma thuật này!”

Phú Lâu Na nói: “Con và Như Lai đều tròn đầy giác tánh quý báu, tánh sáng viên mãn, và chân tâm diệu tịnh không hai. Nhưng con, vì đã gặp vọng tưởng vô thủy từ lâu, nên đã ở lâu trong luân hồi. Nay con đã đạt được Thánh Thừa, nhưng vẫn chưa phải là cứu cánh. Bạch Thế Tôn, mọi sự hư vọng đều đã diệt sạch, và điều kỳ diệu duy nhất là chân thường. Con mạo muội hỏi Như Lai: Vì nguyên nhân gì mà tất cả chúng sinh có hư vọng, che lấp sự sáng suốt diệu dụng của chính mình và chịu sự chìm đắm đau khổ này?”

Sau khi nghe Đức Phật giải thích, Phú Lâu Na nêu lên những nghi ngờ mới: “Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng con sở hữu cùng bản tánh giác ngộ hoàn hảo như Ngài. Nhưng tại sao con lại bị phiền não bởi những vọng tưởng từ vô thủy và lang thang trong luân hồi lâu như vậy? Ngay cả bây giờ khi con đã chấp nhận giáo pháp của các bậc thánh, con vẫn chưa hoàn toàn giác ngộ. Con muốn hỏi Ngài, tại sao chúng sinh lại có những vọng tưởng này che lấp bản lai diện mục và giam hãm họ trong biển khổ luân hồi?”

Đức Phật bảo Phú Lâu Na: “Mặc dù ông đã trừ bỏ nghi ngờ, nhưng những mê lầm còn lại của ông chưa hết. Bây giờ ta sẽ hỏi lại ông bằng cách sử dụng các sự việc hiện có trước mắt ông trong thế gian. Ông chưa nghe nói về Diễn Nhã Đạt Đa (Yajnadatta) ở thành Xá Vệ sao? Một buổi sáng nọ, anh ta soi gương và yêu cái đầu trong gương với lông mày và mắt thấy được. Anh ta trở nên tức giận và trách cái đầu của mình vì không nhìn thấy mặt và mắt. Nghĩ rằng đó là ma quỷ, anh ta chạy loạn xạ vô cớ. Ông nghĩ sao? Vì nguyên nhân gì mà người này chạy loạn xạ không có nguyên nhân?”

Đức Phật mỉm cười và trả lời: “Mặc dù ông đã giải quyết được một số nghi ngờ, nhưng vẫn còn một số nhầm lẫn. Để ta dùng một ví dụ thực tế để minh họa. Ông đã nghe nói về Diễn Nhã Đạt Đa ở thành Xá Vệ chưa?”

Đức Phật sau đó kể một câu chuyện thú vị: “Một buổi sáng, Diễn Nhã Đạt Đa soi gương và thấy đầu, lông mày và mắt của mình. Nhưng anh ta đột nhiên tức giận và trách cái đầu của mình vì không nhìn thấy mặt. Anh ta tưởng mình đã biến thành ma và chạy loạn xạ. Ông nghĩ tại sao người này lại phát điên không có lý do?”

Phú Lâu Na nói: “Tâm người này điên loạn; không có lý do nào khác.”

Phú Lâu Na trả lời: “Người này chỉ là tâm bị điên thôi; không có lý do nào khác ạ.”

Đức Phật nói: “Giác tánh diệu dụng vốn sáng và tròn đầy; sự tròn đầy căn bản vốn sáng và diệu dụng. Vì nó được gọi là hư vọng, làm sao có nguyên nhân? Nếu có nguyên nhân, làm sao nó có thể được gọi là hư vọng? Mọi vọng tưởng sinh khởi nối tiếp nhau. tích tụ mê lầm trên mê lầm, trải qua trần sa kiếp. Mặc dù Phật làm rõ nó, ông vẫn không thể quay về. Những nguyên nhân của sự mê lầm như vậy tồn tại bởi vì mê lầm. Hãy nhận ra rằng mê lầm không có nguyên nhân và hư vọng không có cơ sở. Vì nó thậm chí chưa từng sinh khởi, có gì để diệt? Người đạt được Bồ Đề giống như người tỉnh giấc và kể về các sự việc trong giấc mơ; ngay cả khi tâm trí người đó rõ ràng và sáng suốt, người đó có thể dùng nguyên nhân hay điều kiện gì để nắm bắt các đối tượng trong giấc mơ? Huống chi là có một nguyên nhân khi mọi thứ về cơ bản không tồn tại! Như Diễn Nhã Đạt Đa trong thành đó, làm sao có thể có nguyên nhân hay điều kiện cho sự sợ hãi về cái đầu của chính mình và sự chạy trốn của anh ta? Nếu sự điên loạn của anh ta đột nhiên chấm dứt, cái đầu của anh ta không phải lấy được từ bên ngoài. Ngay cả khi sự điên loạn của anh ta chưa chấm dứt, anh ta đã mất cái gì? Phú Lâu Na, tánh của hư vọng là như vậy; làm sao nó có thể tồn tại? Ông chỉ cần không chạy theo những sự phân biệt của thế gian, ba loại tương tục của nghiệp, quả, và chúng sinh. Khi ba điều kiện này bị cắt đứt, ba nguyên nhân không sinh khởi. Thì Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ông, tánh điên loạn, tự nhiên chấm dứt. Sự chấm dứt là Bồ Đề. Tâm tối thượng, thanh tịnh, sáng suốt vốn biến khắp Pháp giới. Nó không lấy được từ người khác; tại sao lại dựa vào sự lao nhọc và tu tập khổ cực để chứng ngộ nó?”

Đức Phật gật đầu và nói: “Đúng vậy. Tương tự, chúng ta vốn sở hữu một bản tánh giác ngộ hoàn hảo. Vì chúng ta gọi cái gì đó là vọng tưởng, làm sao nó có thể có nguyên nhân? Nếu có nguyên nhân, làm sao nó có thể được gọi là vọng tưởng? Những vọng tưởng này chỉ tạo ra lẫn nhau, tích tụ qua vô số kiếp. Ngay cả khi Phật đã chỉ ra sự thật, một số người vẫn không thể quay về bản lai diện mục của mình.”

Đức Phật tiếp tục giải thích: “Sự mê lầm này tồn tại chính vì sự mê lầm. Nếu ông nhận ra rằng mê lầm không có nguyên nhân thực sự, thì vọng tưởng không có gì để dựa vào. Vì nó không tồn tại ngay từ đầu, tại sao phải loại bỏ nó?”

“Người đạt được giác ngộ giống như người tỉnh dậy từ giấc mơ. Ngay cả khi người đó có thể mô tả rõ ràng mọi thứ trong giấc mơ, làm sao người đó có thể thực sự lấy được những thứ trong giấc mơ? Huống chi những vọng tưởng này không tồn tại ngay từ đầu. Như Diễn Nhã Đạt Đa trong thành đó, tại sao anh ta lại không nhận ra cái đầu của chính mình và chạy loạn xạ? Nếu anh ta đột nhiên tỉnh lại, anh ta sẽ thấy rằng cái đầu của mình chưa bao giờ bị mất.”

Cuối cùng Đức Phật kết luận: “Phú Lâu Na, tánh của vọng tưởng là như thế này; về bản chất nó không tồn tại. Ông chỉ cần ngừng phân biệt nghiệp của thế gian và sự tương tục của chúng sinh. Khi những điều kiện này bị cắt đứt, gốc rễ của vọng tưởng sẽ không phát sinh nữa. Lúc đó, ‘Diễn Nhã Đạt Đa’ trong tâm ông sẽ tự nhiên yên lặng. Sự yên lặng này là giác ngộ, tâm sáng thanh tịnh vượt qua tất cả và vốn biến khắp vũ trụ. Nó không lấy được từ người khác, vậy tại sao phải tu tập vất vả để đạt được nó?”

Nó giống như một người có viên ngọc như ý buộc trong áo của mình nhưng không biết. Nghèo khổ và lang thang nơi đất khách, anh ta xin ăn và chạy ngược xuôi. Mặc dù anh ta thực sự nghèo, viên ngọc chưa bao giờ bị mất. Đột nhiên một người trí chỉ ra viên ngọc. Mọi ước muốn của anh ta đều được thỏa mãn từ tâm, và anh ta đạt được sự giàu có lớn lao. Sau đó anh ta nhận ra rằng viên ngọc thần không phải lấy được từ bên ngoài.

Đức Phật sau đó dùng một phép ẩn dụ để giải thích: “Hãy tưởng tượng một người có viên ngọc như ý được may trong quần áo của mình, nhưng anh ta không biết. Anh ta chạy ngược xuôi xin ăn ở những nơi khác. Mặc dù anh ta sống cuộc sống nghèo khổ, nhưng thực ra anh ta rất giàu có.”

Đột nhiên một ngày nọ, một người khôn ngoan chỉ ra viên ngọc trong quần áo anh ta. Từ đó trở đi, mọi ước muốn của anh ta đều thành hiện thực và anh ta trở nên rất giàu có. Chỉ khi đó anh ta mới nhận ra rằng viên ngọc thần kỳ này đã luôn ở bên mình, không phải lấy được từ bên ngoài."

Ngay lập tức, A Nan trong đại chúng cúi lạy chân Phật, đứng dậy và bạch Phật rằng: “Thế Tôn nay nói rằng khi ba nguyên nhân sát, đạo, dâm bị cắt đứt, ba điều kiện không sinh khởi. Tánh điên cuồng của Đạt Đa trong tâm tự dứt, và sự dứt bặt là Bồ Đề, không phải lấy được từ người khác. Đây rõ ràng là vấn đề nhân duyên. Tại sao Như Lai đột nhiên bỏ nhân duyên? Tâm con đã mở và giác ngộ qua nhân duyên. Bạch Thế Tôn, nghĩa này không chỉ dành cho chúng con, những Thanh Văn trẻ tuổi còn hữu học. Trong hội này hiện nay, Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề và những người khác đã theo các Bà-la-môn già và nghe nhân duyên của Phật, phát tâm, giác ngộ và chứng đắc quả vị vô lậu. Nếu nay Ngài nói rằng Bồ Đề không đến từ nhân duyên, thì thuyết tự nhiên (spontaneity) mà Mạt-mã-lê Qu-xá-lợi (Maskari Goshaliputra) và những người khác ở thành Vương Xá nói sẽ trở thành đệ nhất nghĩa đế. Con chỉ nhờ đại bi của Ngài để khai mở sự mê lầm và tối tăm của con.”

Lúc này, A Nan đứng dậy và hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, Ngài vừa nói rằng nếu ba hành vi sát sinh, trộm cắp và dâm dục bị cắt đứt, nguyên nhân của chúng sẽ không phát sinh nữa.”

Cũng giống như câu chuyện về Yajnadatta, sự điên loạn của anh ta tự nhiên chấm dứt; sự chấm dứt này chính là Bồ-đề, không phải đạt được từ người khác. Điều này vẫn có vẻ là vấn đề của nhân duyên; tại sao Ngài lại bảo từ bỏ nhân duyên? Con đã giác ngộ thông qua nguyên lý nhân duyên."

A-nan tiếp tục: “Không chỉ chúng con là những học trò trẻ tuổi có những nghi ngờ như vậy, mà ngay cả những vị đại sư như Đại Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất và Tu-bồ-đề cũng đã giác ngộ sau khi nghe Đức Phật giải thích về nhân duyên. Nếu Ngài nói rằng sự giác ngộ không đến từ nhân duyên, thì chẳng phải ’tự nhiên’ (tính tự phát) mà ngoại đạo ở Rajgir nói đến đã trở thành chân lý tối thượng sao? Xin Đức Phật từ bi giải quyết những nghi ngờ của chúng con.”

Đức Phật bảo A-nan: “Nó giống như Yajnadatta trong thành: nếu nhân duyên của sự điên loạn của anh ta chấm dứt, thì sự không điên loạn của anh ta sẽ tự nhiên xuất hiện. Các nguyên lý về nhân duyên và tự nhiên đều kết thúc ở đây. A-nan, đầu của Yajnadatta vốn tự nhiên ở đó; nó vốn tự nhiên là như vậy. Không có lúc nào nó không tự nhiên là như vậy. Vì nhân duyên gì mà anh ta sợ đầu mình và chạy điên cuồng? Nếu anh ta điên vì nhân duyên của cái đầu tự nhiên của mình, tại sao anh ta không mất nó vì những nhân duyên tự nhiên? Cái đầu ban đầu của anh ta không bị mất; sự điên loạn và sợ hãi nảy sinh một cách giả dối. Vì nó không bao giờ thay đổi, tại sao phải dựa vào nhân duyên? Sự điên loạn ban đầu là tự nhiên; vốn dĩ đã có sự điên loạn và sợ hãi. Trước khi anh ta điên, sự điên loạn ẩn nấp ở đâu? Nếu anh ta không điên một cách tự nhiên, và đầu của anh ta vốn không phải là giả, tại sao anh ta lại chạy điên cuồng? Nếu anh ta giác ngộ về cái đầu ban đầu của mình và nhận ra sự chạy điên cuồng của mình, thì nhân, duyên và tự nhiên đều là những lý thuyết phù phiếm. Do đó, Ta nói, khi ba điều kiện gây ra bị cắt đứt, đó chính là tâm Bồ-đề. Khi tâm Bồ-đề sinh khởi, tâm sinh diệt sẽ bị dập tắt. Đây vẫn là sinh diệt. Khi diệt và sinh hoàn toàn cạn kiệt, sẽ có Đạo Vô Sinh. Nếu có sự tự nhiên, thì rõ ràng là tâm tự nhiên sinh khởi, và tâm sinh diệt bị dập tắt. Đây cũng là sinh diệt. Cái không có sinh diệt được gọi là tự nhiên. Nó giống như sự hòa trộn của các hiện tượng khác nhau trong thế giới: cái trở thành một thể được gọi là tính chất hòa hợp và hợp nhất. Cái không hòa hợp và hợp nhất được gọi là bản thể căn bản. Bản thể căn bản không phải là tự nhiên; hòa hợp và hợp nhất không hợp nhất. Hợp nhất và tự nhiên đều bị từ bỏ; chia ly và hợp nhất đều không tồn tại. Câu này sau đó được gọi là Pháp Không Có Lý Thuyết Phù Phiếm. Bồ-đề và Niết-bàn vẫn còn xa vời. Đó không phải là thứ ông sẽ tu tập và chứng đắc qua đau khổ trong nhiều kiếp. Mặc dù ông ghi nhớ những nguyên lý thanh tịnh và vi diệu của mười hai bộ kinh của các Đức Như Lai trong mười phương, nhiều như cát sông Hằng, nó chỉ hỗ trợ cho lý thuyết phù phiếm. Mặc dù ông bàn luận về nhân, duyên và tự nhiên, và hiểu chúng một cách quyết định, người đời gọi ông là bậc đa văn (nghe nhiều) đệ nhất. Tuy nhiên, với sự đa văn này được tích lũy qua nhiều kiếp huân tập và tu hành, ông không thể thoát khỏi nạn Ma-đăng-già. Vì lý do gì mà ông phải đợi Thần chú Lăng Nghiêm từ đỉnh đầu của Ta, để ngọn lửa dâm dục trong lòng Ma-đăng-già đột nhiên tắt ngấm, và cô ấy chứng quả A-na-hàm, trở thành rừng tinh tấn trong Pháp của Ta, và dòng sông ái tình khô cạn, giúp ông được giải thoát? Vì vậy, A-nan, mặc dù ông đã ghi nhớ những trang nghiêm bí mật vi diệu của Như Lai trong nhiều kiếp, cũng không bằng một ngày tu tập nghiệp vô lậu, tránh xa hai nỗi khổ của yêu và ghét trong thế gian. Như Ma-đăng-già, trước đây là một kỹ nữ; nhờ sức mạnh của Thần chú, lòng dục của cô ấy đã bị khóa chặt. Trong Pháp, cô ấy hiện được gọi là Tánh Tỷ-kheo-ni. Cô ấy và mẹ của La-hầu-la, Da-du-đà-la, đều giác ngộ về những nhân duyên quá khứ và biết rằng tham lam và ái tình đã gây ra đau khổ qua nhiều kiếp. Nhờ sự huân tập nhất tâm và tu tập thiện vô lậu, một người đã được giải thoát khỏi sự trói buộc, và người kia đã nhận được thọ ký.”

Đức Phật kể cho A-nan nghe một câu chuyện thú vị: “A-nan, hãy để Ta kể cho ông nghe một câu chuyện về một người đàn ông tên là Yajnadatta ở trong thành.”

“Một ngày nọ, người đàn ông này đột nhiên phát điên, chạy khắp nơi la hét: ‘Đầu tôi mất rồi! Đầu tôi mất rồi!’ Thực ra, đầu của anh ta vẫn mọc đàng hoàng trên cổ và không hề bị mất.”

“Hãy tưởng tượng nếu ai đó bảo anh ta: ‘Này, bình tĩnh đi, đầu anh vẫn còn ở đó!’ Thì cơn điên của anh ta sẽ dừng lại, và anh ta sẽ trở lại bình thường.”

“A-nan, hãy xem, đầu của Yajnadatta vốn dĩ ở đó và chưa bao giờ rời đi. Vậy tại sao anh ta đột nhiên sợ rằng đầu mình đã mất? Nếu đầu anh ta tồn tại một cách tự nhiên, tại sao anh ta lại phát điên vì một lý do nào đó? Nếu đầu anh ta thực sự tồn tại vì một lý do nào đó, tại sao nó không biến mất vì một lý do nào đó?”

“Sự thật là đầu anh ta chưa bao giờ bị mất; nỗi sợ hãi và sự điên loạn của anh ta chỉ xuất hiện một cách khó hiểu. Vì không có sự thay đổi ở cái đầu, tại sao phải tìm kiếm một nguyên nhân? Nếu anh ta vốn đã điên, thì cơn điên trốn ở đâu trước khi anh ta phát điên? Nếu anh ta vốn bình thường, tại sao anh ta đột nhiên chạy loạn như điên?”

“A-nan, câu chuyện này cho chúng ta biết rằng khi chúng ta hiểu được sự thật, chúng ta sẽ nhận ra rằng nỗi sợ hãi và lo lắng của chúng ta là vô căn cứ. Dù nói rằng vạn vật có nhân duyên hay tồn tại tự nhiên, đây chỉ là những lời nói phù phiếm.”

“Trí tuệ và sự giải thoát chân thực không đạt được bằng cách ghi nhớ nhiều kinh điển hay bàn luận nhiều nguyên lý. Giống như ông, A-nan, mặc dù ông nhớ nhiều kinh điển Phật giáo và được biết đến là bậc đa văn đệ nhất, nhưng những kiến thức này không giúp được gì cho ông khi ông gặp phải sự cám dỗ tình dục từ con gái của Ma-đăng-già. Thay vào đó, chính thần chú tâm linh của Ta đã lập tức dập tắt lòng dục của con gái Ma-đăng-già, giúp cô ấy trở thành một người tu hành và giúp ông thoát khỏi rắc rối.”

“Do đó, A-nan, thay vì dành nhiều thời gian để ghi nhớ nhiều kinh điển, tốt hơn là dành một ngày thực sự tu tập và tránh xa hai phiền não của yêu và ghét trong thế gian. Giống như con gái của Ma-đăng-già, người trước đây là một kỹ nữ, nhưng nhờ tu tập, giờ đây cô ấy đã trở thành một Tỷ-kheo-ni. Cô ấy và mẹ của La-hầu-la, Da-du-đà-la, đều hiểu rõ nhân quả của những kiếp trước và biết rằng tham ái mang lại đau khổ. Nhờ sự tu tập của họ, hoặc họ đã dứt bỏ phiền não hoặc nhận được thọ ký thành Phật.”

“Làm sao các ông có thể tự lừa dối mình và cứ mãi mắc kẹt trong việc nhìn và nghe?”

Sau khi nói xong, Đức Phật hỏi: “Tại sao các ông vẫn tự lừa dối mình, chỉ nghe và nhìn giáo pháp mà không thực hành?”

A-nan và đại chúng nghe lời dạy của Đức Phật; những nghi ngờ của họ đã được loại bỏ, và tâm trí họ đã giác ngộ về thực tướng. Thân tâm họ nhẹ nhàng và an lạc, đạt được những điều chưa từng có trước đây. Ông lại khóc trong đau buồn, cúi đầu dưới chân Đức Phật, quỳ cả hai đầu gối, chắp tay và bạch Phật rằng: “Đấng Vô Thượng, Đại Từ Bi, Thanh Tịnh Bảo Vương đã khéo léo mở rộng lòng con. Ngài đã dùng nhiều nhân duyên và phương tiện như vậy để khuyến khích và hướng dẫn chúng con ra khỏi biển khổ nơi chúng con chìm trong bóng tối. Bạch Thế Tôn, mặc dù giờ đây con nhận được pháp âm như vậy và biết rằng Như Lai Tạng, tâm giác ngộ sáng suốt vi diệu, bao trùm khắp Pháp Giới—chứa đựng và nuôi dưỡng các cõi nước của Như Lai mười phương, những cõi nước thanh tịnh, quý báu, trang nghiêm và vi diệu của Giác Vương—Như Lai lại trách sự đa văn của con là không có công đức và không xứng với sự tu hành. Con giờ đây giống như một lữ khách lang thang đột nhiên nhận được một ngôi nhà tráng lệ từ Thiên Vương. Mặc dù con đã có được dinh thự lớn, con phải đi vào qua cửa. Con chỉ mong Như Lai không từ bỏ lòng đại bi của Ngài mà sẽ chỉ cho những người trong chúng hội chúng con đang bị che phủ bởi bóng tối con đường để từ bỏ Tiểu Thừa và chắc chắn đạt được Niết-bàn Vô Dư của Như Lai, bản nguyện căn bản. Hãy để những người có học biết cách hàng phục sự leo trèo theo duyên của quá khứ, đạt được đà-ra-ni, và thâm nhập tri kiến Phật.” Nói xong, ông gieo năm vóc xuống đất. Trong chúng hội, họ đồng lòng chờ đợi mệnh lệnh từ bi của Đức Phật.

Nghe lời dạy của Đức Phật, A-nan và đại chúng đã loại bỏ những nghi ngờ trong lòng và nhận ra nguyên lý chân thực. Họ cảm thấy thân tâm thư thái, một cảm giác mà họ chưa từng có trước đây.

A-nan lại rơi nước mắt vì xúc động, đảnh lễ Đức Phật, quỳ trên mặt đất chắp tay và nói: “Bạch Thế Tôn từ bi và vô thượng, Ngài đã khéo léo mở lòng chúng con. Ngài đã dùng nhiều phương pháp khác nhau để hướng dẫn những người mê muội chúng con ra khỏi biển khổ. Mặc dù giờ đây con hiểu rằng Như Lai Tạng bao trùm mười phương, nhưng Ngài nói rằng chúng con chỉ có học thức mà không thực sự tu hành. Con giờ đây giống như một lữ khách đột nhiên nhận được một ngôi nhà tráng lệ từ nhà vua; mặc dù con đã có ngôi nhà lớn, con vẫn cần phải đi vào qua cửa. Xin đừng từ bỏ lòng từ bi của Ngài đối với chúng con, hãy hướng dẫn chúng con những người vẫn còn trong mê muội để từ bỏ Tiểu Thừa và bắt đầu con đường thành Phật. Xin hãy cho chúng con biết làm thế nào để kiểm soát những thói quen trong quá khứ và đạt được trí tuệ của Đức Phật.” Nói xong, A-nan đảnh lễ sát đất và cùng mọi người chờ đợi lời dạy của Đức Phật.

Lúc bấy giờ Thế Tôn thương xót các Thanh Văn và Duyên Giác trong chúng hội chưa an trụ trong tâm Bồ-đề, và vì lợi ích của chúng sinh tương lai trong thời Mạt Pháp sau khi Phật diệt độ, những người sẽ phát tâm Bồ-đề, Ngài đã mở ra con đường tu hành vi diệu của Tối Thượng Thừa. Ngài tuyên bố với A-nan và đại chúng: “Nếu các ông quyết định phát tâm Bồ-đề và không sinh lòng mệt mỏi hay chán nản trong Tam muội vi diệu của Như Lai, các ông trước tiên nên hiểu hai nguyên lý quyết định để phát khởi sơ tâm. Hai nguyên lý quyết định cho sơ tâm là gì? A-nan, nguyên lý thứ nhất là: nếu ông muốn từ bỏ Thanh Văn Thừa và tu tập Bồ Tát Thừa để thâm nhập tri kiến Phật, ông nên quan sát kỹ lưỡng xem cái tâm phát khởi ở nhân địa và sự giác ngộ ở quả địa là giống hay khác nhau. A-nan, nếu ở nhân địa ông dùng tâm sinh diệt làm gốc rễ tu hành và tìm cầu Phật Thừa vốn không sinh không diệt, thì không có chỗ như vậy. Vì lý do này, ông nên soi sáng tất cả các vật chất trong thế gian. Tất cả các pháp có thể tạo tác đều chịu sự thay đổi và hoại diệt. A-nan, hãy quan sát thế gian: có cái gì tạo tác được mà không hư hoại? Nhưng ông chưa bao giờ nghe nói hư không nát hay hoại. Tại sao? Hư không không phải là thứ có thể tạo tác. Do đó, từ đầu đến cuối, nó không bao giờ hư hoại hay biến mất. Trong cơ thể ông, yếu tố cứng là đất, yếu tố ẩm là nước, yếu tố ấm là lửa, và yếu tố chuyển động là gió. Do bốn sự trói buộc này, tâm giác ngộ sáng suốt, vi diệu, tròn đầy, vắng lặng của ông bị chia thành thấy, nghe, cảm, và biết. Từ đầu đến cuối, có năm lớp vẩn đục. Vẩn đục là gì? A-nan, ví như nước trong vốn dĩ sạch sẽ. Bụi, đất, tro và cát về bản chất là những chướng ngại. Các chất của hai loại này tự nhiên khác nhau về tính chất. Nếu một người trong thế gian lấy đất và bụi ném vào nước sạch, đất mất đi sự rắn chắc và nước mất đi sự sạch sẽ. Vẻ ngoài trở nên đục ngầu; đây gọi là vẩn đục. Năm lớp vẩn đục của ông cũng giống như vậy.”

Đức Phật thấy rằng một số hành giả có mặt chưa hiểu rõ ý nghĩa thực sự của Bồ-đề tâm. Ngài muốn giúp đỡ những người này, cũng như các hành giả trong tương lai khi Đức Phật không còn ở đời. Vì vậy, Ngài nói với A-nan và những người khác:

“Này các bạn, nếu các bạn thực sự muốn thành Phật, trước tiên các bạn phải hiểu hai nguyên lý quan trọng.”

“Nguyên lý thứ nhất là: Giả sử ông muốn tu hành để thành Phật, ông phải suy nghĩ rõ ràng trước, tâm hiện tại của ông có giống hay khác với tâm khi ông thành Phật trong tương lai? A-nan, nếu ông dùng một cái tâm sinh diệt để tu hành, nhưng lại muốn đạt được Phật quả vốn không sinh không diệt, điều này là không thể.”

“Để Ta cho ông một ví dụ. Hãy nhìn các sự vật trong thế gian này, mọi thứ có thể được tạo ra cuối cùng sẽ tan vỡ, phải không? Nhưng ông đã bao giờ nghe nói không khí bị vỡ chưa? Tại sao? Bởi vì không khí không được tạo ra, nên nó sẽ không vỡ.”

“Bây giờ, hãy nhìn vào cơ thể ông. Có những thứ cứng trong cơ thể ông, như xương, giống như đất; những thứ ướt, như máu, giống như nước; những thứ ấm, giống như lửa; và những thứ chuyển động, giống như gió. Bốn thứ này bao bọc tâm vốn thanh tịnh của ông, mang lại cho ông khả năng thấy, nghe, cảm và nghĩ.”

“Nhưng theo cách này, tâm ông trở nên không thanh tịnh. Nó giống như nước trong bị khuấy động bởi bùn. Vốn dĩ nước trong và bùn sẽ không hòa lẫn vào nhau, nhưng nếu ai đó ném bùn vào nước trong, nước sẽ trở nên đục. Tâm ông cũng như vậy, vốn dĩ thanh tịnh, nhưng vì những giác quan và suy nghĩ này, nó trở nên đục và không rõ ràng.”

“A-nan, ông thấy hư không bao trùm mười phương. Hư không và cái thấy không tách rời. Hư không không có THỰC THỂ, và cái thấy không có sự nhận biết. Hai cái này đan xen vào nhau một cách giả dối để tạo thành lớp thứ nhất, được gọi là Kiếp Trược (Sự Vẩn Đục của Thời Gian). Cơ thể ông dường như vật lộn với tứ đại làm bản chất của nó. Thấy, nghe, nhận biết và biết bị cản trở và khiến phải ở lại. Nước, lửa, gió và đất xoay vần và gây ra cảm giác và biết. Chúng đan xen vào nhau một cách giả dối để tạo thành lớp thứ hai, được gọi là Kiến Trược (Sự Vẩn Đục của Quan Điểm). Ngoài ra, trí nhớ, sự phân biệt và tụng niệm trong tâm ông mang lại tri kiến dung nạp sáu trần. Rời khỏi trần thì không có tướng; rời khỏi nhận biết thì không có tính. Chúng đan xen vào nhau một cách giả dối để tạo thành lớp thứ ba, được gọi là Phiền Não Trược. Ngoài ra, ngày và đêm ông phải chịu sự sinh diệt vô tận. Tri kiến của ông luôn muốn ở lại thế gian, trong khi nghiệp mệnh của ông liên tục di chuyển ông đến các cõi khác nhau. Chúng đan xen vào nhau một cách giả dối để tạo thành lớp thứ tư, được gọi là Chúng Sinh Trược. Cái thấy và cái nghe của ông vốn không khác tính, nhưng vô số bụi trần tạo ra chướng ngại, và những sự khác biệt vô hình nảy sinh một cách khó hiểu. Trong tính của chúng, chúng biết nhau, nhưng trong dụng của chúng, chúng chống đối nhau. Đồng và dị mất đi tiêu chuẩn. Chúng đan xen vào nhau một cách giả dối để tạo thành lớp thứ năm, được gọi là Mạng Trược (Sự Vẩn Đục của Mạng Sống).”

Đức Phật tiếp tục dạy A-nan, giải thích năm loại vẩn đục: “A-nan, hư không mà ông thấy bao trùm mười phương, nhưng thực tế hư không và cái thấy không thể tách rời. Hư không không có thực thể, và cái thấy không có sự nhận biết. Hai khái niệm này đan xen để tạo thành một sự hiểu biết sai lầm. Đây là loại vẩn đục thứ nhất, gọi là Kiếp Trược.”

“Cơ thể ông được cấu thành từ bốn yếu tố đất, nước, lửa và gió. Cái thấy, nghe, cảm và biết của ông bị các yếu tố này cản trở. Tứ đại và sự nhận biết đan xen để tạo thành một sự hiểu biết sai lầm. Đây là loại vẩn đục thứ hai, gọi là Kiến Trược.”

“Thói quen ghi nhớ, nhận biết và tụng niệm trong tâm trí ông sinh ra tri kiến, tiếp nhận sáu trần cảnh là sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Nếu không có những trần cảnh này, thì không có hình tướng; nếu không có sự giác biết, thì không có tánh. Những thứ này đan xen nhau tạo thành sự hiểu biết sai lầm. Đây là loại trược thứ ba, gọi là Phiền Não Trược.”

“Mạng sống của ông thay đổi mỗi ngày với sự sinh và diệt, nhưng tri kiến của ông luôn muốn ở lại thế gian, trong khi nghiệp lực thường khiến ông phải luân hồi. Những thứ này đan xen nhau tạo thành sự hiểu biết sai lầm. Đây là loại trược thứ tư, gọi là Chúng Sinh Trược.”

“Cái thấy và cái nghe của ông vốn không thể phân biệt, nhưng do sự ngăn ngại của các trần lao, nên sinh ra những hiểu biết khác nhau. Tánh thì biết nhau, nhưng dụng thì trái ngược nhau. Những thứ này đan xen nhau tạo thành sự hiểu biết sai lầm. Đây là loại trược thứ năm, gọi là Mạng Trược.”

“Này A-nan, nếu nay ông muốn khiến cái thấy, nghe, hay, biết của mình trở về và hợp với Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Như Lai, thì trước hết ông nên chọn căn nguyên của sự tử sinh và nương vào tính viên mãn, vắng lặng, vốn không sinh không diệt. Với sự vắng lặng này, xoay chuyển sự sinh diệt hư vọng, điều phục chúng và trở về với sự giác biết ban đầu, đạt được sự giác ngộ sáng suốt bản nguyên. Dùng cái tánh không sinh không diệt làm cái tâm nhân địa. Chỉ khi đó ông mới thực hiện được sự tu chứng quả địa. Giống như lóng nước bùn đựng trong bình sạch. Nếu để yên không động, cát đất tự lắng xuống, nước trong hiện ra. Đây gọi là bước đầu điều phục khách trần phiền não. Khi bùn được loại bỏ và chỉ còn lại nước trong, đây gọi là vĩnh viễn đoạn trừ vô minh căn bản. Khi sự sáng suốt và các hình tướng đều thanh tịnh và bản chất viên mãn, thì mọi sự hiện khởi đều không phải là phiền não. Tất cả đều hợp với đức thanh tịnh, vi diệu của Niết-bàn.”

Đức Phật sau đó bảo A-nan: “Nếu ông muốn cái thấy, nghe, hay, biết của mình đạt đến cảnh giới của Phật, trước tiên ông phải tìm ra gốc rễ của sinh tử, và nương vào bản tánh viên mãn không sinh không diệt. Dùng tánh này để loại bỏ sinh tử hư vọng, và trở về với giác tánh ban đầu. Sử dụng tánh không sinh không diệt này làm nền tảng tu hành, thì ông mới có thể thành tựu trọn vẹn quả Phật.”

Đức Phật dùng một ví dụ: “Giống như để nước đục vào trong bình sạch và để yên; bùn cát sẽ tự nhiên lắng xuống, và nước trong sẽ hiện ra. Đây là trạng thái ban đầu điều phục phiền não. Loại bỏ hoàn toàn bùn đất và chỉ để lại nước trong là vĩnh viễn đoạn trừ vô minh căn bản. Khi tánh sáng suốt thanh tịnh, mọi sự biến đổi sẽ không trở thành phiền não, và tất cả đều hợp với các đức thanh tịnh của Niết-bàn.”

“Nguyên tắc thứ hai là thế này: nếu ông quyết định phát tâm Bồ-đề và dũng mãnh trong Bồ-tát thừa, ông phải từ bỏ mọi tướng hữu vi. Ông nên xem xét kỹ gốc rễ của phiền não. Từ vô thủy đến nay, ai tạo nghiệp và ai chịu đựng sự tạo nghiệp và nuôi dưỡng mạng sống? A-nan, nếu trong khi tu Bồ-đề mà ông không quán sát kỹ gốc rễ của phiền não, ông sẽ không thể biết được gốc rễ của hư vọng. Nếu ông thậm chí không biết sự điên đảo ở đâu, làm sao ông có thể điều phục nó và đạt được địa vị của Như Lai? A-nan, hãy quan sát một người ở thế gian đang mở nút thắt: nếu người ấy không thấy nút thắt ở đâu, làm sao biết cách mở? Ông chưa bao giờ nghe nói hư không bị ông đập vỡ. Tại sao? Vì hư không không có hình tướng, nên không có nút thắt để mở. Nhưng nay mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý của ông là sáu tên trộm làm môi giới để cướp đoạt gia bảo của chính ông. Vì lẽ này, chúng sinh từ vô thủy đã bị trói buộc trong thế gian và không thể vượt thoát thế giới vật chất.”

Phật lại nói: “Nguyên tắc quan trọng thứ hai là nếu ông muốn phát tâm Bồ-đề và dũng mãnh tinh tấn trên con đường Bồ-tát, ông nên hoàn toàn từ bỏ mọi tướng hữu vi bề ngoài. Ông nên quán sát kỹ gốc rễ của phiền não. Từ vô thủy đến nay, ai tạo nghiệp và ai chịu quả báo? A-nan, nếu ông không quán sát kỹ gốc rễ phiền não khi tu hành Bồ-đề đạo, ông sẽ không thể biết nguồn gốc của sự hư vọng. Nếu ông thậm chí không biết sự mê lầm nằm ở đâu, làm sao ông có thể điều phục phiền não và đạt đến cảnh giới Phật?”

Cuối cùng Đức Phật dùng một ví dụ: “A-nan, hãy nhìn người mở nút thắt ở thế gian. Nếu anh ta không thấy nút thắt ở đâu, làm sao anh ta biết cách mở? Ông chưa bao giờ nghe nói hư không bị ông làm vỡ, phải không? Vì hư không không có hình tướng và không có nút thắt để mở. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý hiện tại của ông đóng vai trò như sáu tên trộm, đánh cắp gia bảo của ông. Chính vì lý do này mà chúng sinh đã bị trói buộc trong thế gian từ vô thủy và không thể vượt thoát nó.”

“A-nan, thế nào gọi là thế giới chúng sinh? ‘Thế’ (Shi) nghĩa là thời gian và sự trôi chảy; ‘Giới’ (Jie) nghĩa là vị trí và phương hướng. Ông nên biết rằng đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên và dưới làm thành giới (Jie). Quá khứ, vị lai và hiện tại làm thành thế (Shi). Có mười phương cho vị trí và ba cho dòng chảy. Tất cả chúng sinh được hình thành do sự đan xen của hư vọng. Trong thân có sự trao đổi và biến hóa, và thế giới liên quan lẫn nhau. Về tánh chất của giới này, mặc dù mười phương được thiết lập và rõ ràng, thế gian chỉ thấy đông, tây, nam và bắc. Trên và dưới không có vị trí; ở giữa không có phương hướng cố định. Bốn phương được thiết lập rõ ràng và tương tác với thế (thời gian). Ba nhân bốn là mười hai, xoay vần thành mười hai. Với ba lớp của dòng chảy và biến đổi, một, mười, một trăm, một ngàn. Điều này tóm tắt sự bắt đầu và kết thúc. Trong sáu căn, mỗi căn có một công đức một ngàn hai trăm.”

Đức Phật tiếp tục giải thích cho A-nan: “Thế giới chúng sinh là gì? ‘Thế’ chỉ dòng chảy của thời gian, và ‘Giới’ chỉ phương hướng của không gian. Ông nên biết rằng đông, tây, nam, bắc, cộng với đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, cũng như trên và dưới, đây là mười phương. Quá khứ, hiện tại và tương lai là ba đời.”

“Không gian có mười phương, và thời gian có ba giai đoạn. Tất cả chúng sinh được hình thành bởi sự đan xen của những khái niệm sai lầm này.”

Đức Phật tiếp tục: “Trong cơ thể chúng ta, những khái niệm này không ngừng thay đổi, và các thế giới tương tác với nhau. Mặc dù chúng ta có thể chỉ rõ mười phương, mọi người thường chỉ nói đông, nam, tây và bắc. Trên và dưới không có vị trí cố định, và ở giữa không có phương hướng xác định. Bốn phương đan xen với ba đời tạo thành mười hai khái niệm. Những khái niệm này mỗi cái có hàng ngàn biến hóa.”

“Nói chung, trong sáu căn của chúng ta (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý), mỗi căn có một ngàn hai trăm loại chức năng.”

“A-nan, ông nên xác định sự ưu việt và kém cỏi trong số chúng. Ví dụ, mắt có thể thấy; nhìn lại phía sau thì tối, nhìn ra phía trước thì sáng. Phía trước hoàn toàn sáng, phía sau hoàn toàn tối. Nhìn sang trái và phải, thấy được hai phần ba. Bàn về chức năng của nó một cách toàn diện, công đức không trọn vẹn. Ba phần có công đức, một phần không có công đức. Ông nên biết rằng mắt chỉ có tám trăm công đức. Ví dụ, tai nghe khắp mười phương không sót. Những chuyển động, dù gần hay xa, đều được nghe đến giới hạn vô biên. Ông nên biết rằng nhĩ căn viên mãn với một ngàn hai trăm công đức. Ví dụ, mũi ngửi mùi với sự đi qua của hơi thở vào và ra. Có lối ra và lối vào, nhưng thiếu ở chỗ giao nhau. Xem xét tị căn, một phần ba bị thiếu. Ông nên biết rằng mũi chỉ có tám trăm công đức. Ví dụ, lưỡi tuyên thuyết và dùng hết tất cả trí tuệ thế gian và xuất thế gian. Lời nói có giới hạn, nhưng đạo lý thì vô tận. Ông nên biết rằng thiệt căn viên mãn với một ngàn hai trăm công đức. Ví dụ, thân cảm nhận xúc chạm và nhận biết sự thuận và nghịch. Nó cảm nhận khi có tiếp xúc, nhưng không biết gì khi tách rời. Tách rời là một và tiếp xúc là hai; xem xét thân căn, một phần ba bị thiếu. Ông nên biết rằng thân chỉ có tám trăm công đức. Ví dụ, ý thầm lặng chứa mười phương và ba đời, và tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian. Dù thánh hay phàm, không gì là không chứa đựng đến tột cùng. Ông nên biết rằng ý căn viên mãn với một ngàn hai trăm công đức.”

Đức Phật sau đó giải thích chi tiết chức năng của từng giác quan: “Mắt thấy vật, sáng phía trước và tối phía sau, và chỉ có thể thấy hai phần ba bên trái và phải. Do đó, mắt chỉ có tám trăm công đức.”

“Tai có thể nghe âm thanh ở khắp mười phương, bất kể khoảng cách. Nên nhĩ căn có một ngàn hai trăm công đức viên mãn.”

“Mũi có thể ngửi mùi, hít vào và thở ra, nhưng thiếu quá trình trao đổi ở giữa. Nên mũi chỉ có tám trăm công đức.”

“Lưỡi có thể diễn đạt trí tuệ thế gian và xuất thế gian. Dù lời nói có hạn, đạo lý là vô tận. Nên thiệt căn có một ngàn hai trăm công đức viên mãn.”

“Thân có thể cảm nhận xúc chạm, nhưng chỉ cảm thấy khi tiếp xúc; nó không biết gì khi tách rời. Nên thân chỉ có tám trăm công đức.”

“Ý thức có thể bao hàm tất cả các pháp của mười phương và ba đời, chứa đựng suy nghĩ của cả thánh nhân và phàm phu. Nên ý căn có một ngàn hai trăm công đức viên mãn.”

“A-nan, nếu nay ông muốn đi ngược dòng tham dục và sinh tử, và trở về làm cạn nguồn của dòng chảy để đạt đến trạng thái không sinh không diệt, ông nên xem xét sáu căn thọ nhận và tác dụng này: Cái nào hợp và cái nào ly? Cái nào sâu và cái nào cạn? Cái nào thông suốt viên mãn và cái nào không viên mãn? Nếu ông có thể tự mình giác ngộ căn thông suốt viên mãn, ông có thể đảo ngược dòng nghiệp được dệt bởi sự hư vọng từ vô thủy. Nếu ông theo sự thông suốt viên mãn, sự tiến bộ của ông sẽ gấp đôi so với dựa vào một căn không viên mãn trong ngàn kiếp. Nay Ta đã hiển lộ đầy đủ sáu tánh sáng suốt lặng lẽ và viên mãn cùng số lượng công đức căn bản của chúng. Ông có thể lựa chọn chi tiết cái nào để vào; Ta sẽ giải thích để trợ giúp sự tiến bộ của ông. Các Đức Như Lai mười phương, trong mỗi mười tám giới, đã tu hành và đều đạt được Bồ-đề viên mãn, vô thượng. Trong số họ không có người hơn hay kẻ kém. Nhưng vì căn cơ của ông thấp kém và ông chưa thể hành động viên mãn với trí tuệ trong số đó, Ta tuyên thuyết điều này để cho phép ông thâm nhập sâu vào một cửa. Vào một cửa không hư vọng, và sáu căn sẽ thanh tịnh cùng lúc.”

Cuối cùng Đức Phật bảo A-nan: “Nếu ông muốn đảo ngược dòng thác sinh tử và trở về cội nguồn vô sinh bất diệt, ông nên quan sát kỹ sáu căn này. Xem cái nào phù hợp hơn, cái nào viên mãn hơn, và cái nào khiếm khuyết. Nếu ông có thể nhận ra căn viên mãn nhất, ông có thể đảo ngược nghiệp hư vọng từ vô thủy. Tu hành với một căn viên mãn hiệu quả hơn nhiều so với dựa vào một căn khiếm khuyết.”

“Các Đức Như Lai mười phương đã tu hành trong mỗi mười tám giới và đạt được Bồ-đề vô thượng viên mãn, bất kể cao hay thấp. Tuy nhiên, căn cơ của ông vẫn còn thấp kém và ông không thể hiểu trọn vẹn. Do đó, Ta đề nghị ông chỉ chọn một để bắt đầu và tu hành sâu sắc. Nếu ông có thể đạt được không sai lầm ở một phương diện, năm căn còn lại cũng sẽ cùng thanh tịnh.”

A-nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, làm sao việc đảo ngược dòng chảy và thâm nhập sâu vào một cửa có thể khiến sáu căn thanh tịnh cùng lúc?”

A-nan cung kính hỏi: “Bạch Thế Tôn, Ngài có thể cho con biết làm thế nào để khiến sáu giác quan của chúng con thanh tịnh cùng một lúc?”

Phật bảo A-nan: “Ông nay đã đắc quả Tu-đà-hoàn. Ông đã diệt trừ những mê lầm của kiến hoặc của thế giới chúng sinh trong ba cõi. Tuy nhiên, ông vẫn chưa biết những tập khí hư vọng từ vô thủy tích tụ trong các căn. Những tập khí này phải được cắt đứt thông qua tu tập, chưa nói đến nhiều chi nhánh của sinh, trụ, dị, và diệt. Nay ông hãy quan sát sáu căn hiện tiền trước mắt ông: chúng là một hay sáu? A-nan, nếu ông nói chúng là một, tại sao tai không thể thấy? Tại sao mắt không thể nghe? Tại sao đầu không đi? Tại sao chân không nói? Nếu sáu căn này nhất định là sáu, như Ta nay tuyên thuyết pháp môn vi diệu cho ông trong hội chúng này, căn nào trong sáu căn của ông đến để thọ nhận?”

Đức Phật cười và đáp: “A-nan, ông đã đạt được quả vị Tu-đà-hoàn. Điều này tốt. Nhưng ông nên biết rằng vẫn còn nhiều tập khí tích tụ từ vô thủy ẩn trong các giác quan của chúng ta. Những tập khí này cần được loại bỏ thông qua thực hành.”

Tiếp theo, Đức Phật muốn thử thách sự hiểu biết của A-nan, nên Ngài hỏi: “A-nan, ông nghĩ sáu căn của chúng ta (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) là một thực thể duy nhất hay sáu phần độc lập?”

A-nan nói: “Con nghe bằng tai.”

A-nan suy nghĩ một lúc rồi đáp: “Bạch Thế Tôn, con nghe Ngài bằng tai.”

Phật nói: “Tai ông tự nghe; điều đó có liên quan gì đến thân và miệng ông? Miệng ông hỏi nghĩa, và thân ông bày tỏ sự cung kính. Do đó, ông nên biết rằng nếu chúng không phải là một, chúng ắt phải là sáu; nếu chúng không phải là sáu, chúng ắt phải là một. Nhưng rốt cuộc các căn của ông vốn chẳng phải một cũng vốn chẳng phải sáu. A-nan, ông nên biết rằng các căn này chẳng phải một cũng chẳng phải sáu. Do những ảo giác hư vọng dẫn đến chìm đắm từ vô thủy, ý nghĩa của một và sáu khởi lên trong sự vắng lặng viên mãn. Mặc dù ông đã đạt được sáu sự diệt của Tu-đà-hoàn, ông vẫn chưa phá hủy cái một. Nó giống như hư không vừa vặn vào một nhóm các bình chứa. Vì hình dáng các bình chứa khác nhau, hư không được gọi tên khác nhau. Nếu ông bỏ các bình chứa và nhìn vào hư không, ông nói hư không là một. Làm sao hư không rộng lớn đó lại trở nên giống hay khác đối với ông? Huống chi là được gọi là một hay chẳng phải một? Ông nên biết rằng sáu căn thọ nhận và tác dụng cũng như vậy.”

Đức Phật cười và nói: “Rất tốt, nhưng tai ông chỉ có thể nghe, không thể nói, đúng không? Miệng ông đang hỏi, và thân ông đang bày tỏ lòng tôn kính. Do đó, sáu căn không hoàn toàn tách biệt cũng không hoàn toàn thống nhất.”

Đức Phật tiếp tục giải thích: “Nó giống như mối quan hệ giữa bầu trời và bình chứa. Bầu trời là một, nhưng sau khi bị chia cắt bởi các bình chứa khác nhau, nó trông như những không gian khác nhau. Tương tự, mặc dù sáu căn của chúng ta có vẻ độc lập, về bản chất chúng là thống nhất.”

“A-nan, ông phải hiểu rằng các giác quan của chúng ta không phải là sáu phần hoàn toàn tách biệt cũng không phải là một khối duy nhất, mà là một sự thống nhất vi diệu.”

“Từ hai hình tướng sáng và tối, tánh thấy phát sinh, dính chặt sâu vào sự viên mãn diệu kỳ. Bản chất của tánh thấy phản chiếu sắc tướng và kết hợp với sắc tướng để trở thành căn. Nguồn gốc của căn là tứ đại thanh tịnh. Do đó, nhãn thể được đặt tên; nó trông giống như chùm nho. Phù trần căn và tứ trần trôi chảy, chạy theo sắc tướng. Từ hai hình tướng động và tĩnh, tánh nghe phát sinh, dính chặt sâu vào sự viên mãn diệu kỳ. Bản chất của tánh nghe phản chiếu âm thanh và cuộn lại với âm thanh để trở thành căn. Nguồn gốc của căn là tứ đại thanh tịnh. Do đó, nhĩ thể được đặt tên; nó trông giống như chiếc lá tươi cuộn lại. Phù trần căn và tứ trần trôi chảy, chạy theo âm thanh. Từ hai hình tướng thông và tắc, tánh ngửi phát sinh, dính chặt sâu vào sự viên mãn diệu kỳ. Bản chất của tánh ngửi phản chiếu mùi hương và thu nhận mùi hương để trở thành căn. Nguồn gốc của căn là tứ đại thanh tịnh. Do đó, tỵ thể được đặt tên; nó trông giống như hai móng vuốt treo xuống. Phù trần căn và tứ trần trôi chảy, chạy theo mùi hương. Từ hai hình tướng nhạt và biến đổi, tánh nếm phát sinh, dính chặt sâu vào sự viên mãn diệu kỳ. Bản chất của tánh nếm phản chiếu hương vị và hòa quyện với hương vị để trở thành căn. Nguồn gốc của căn là tứ đại thanh tịnh. Do đó, thiệt thể được đặt tên; nó trông giống như vầng trăng lưỡi liềm. Phù trần căn và tứ trần trôi chảy, chạy theo hương vị. Từ hai hình tướng ly và hợp, tánh xúc phát sinh, dính chặt sâu vào sự viên mãn diệu kỳ. Bản chất của tánh xúc phản chiếu sự xúc chạm và nắm bắt sự xúc chạm để trở thành căn. Nguồn gốc của căn là tứ đại thanh tịnh. Do đó, thân thể được đặt tên; nó trông giống như cái trống cơm. Phù trần căn và tứ trần trôi chảy, chạy theo sự xúc chạm. Từ hai hình tướng liên tục sinh và diệt, tánh biết phát sinh, dính chặt sâu vào sự viên mãn diệu kỳ. Bản chất của tánh biết phản chiếu các pháp và thu nhận các pháp để trở thành căn. Nguồn gốc của căn là tứ đại thanh tịnh. Do đó, ý căn được đặt tên; nó giống như nhìn thấy trong phòng tối. Phù trần căn và tứ trần trôi chảy, chạy theo các pháp.”

Đức Phật tiếp tục nói với A Nan: “A Nan, hãy để Như Lai nói cho ông nghe các giác quan của chúng ta được hình thành như thế nào. Nó giống như một câu chuyện kỳ diệu vậy.”

“Đầu tiên, hãy nhìn vào đôi mắt: Hãy tưởng tượng một bong bóng ma thuật vốn dĩ trong vắt và trong suốt. Nhưng khi gặp ánh sáng và bóng tối, khả năng ’thấy’ được sinh ra. Khả năng ’thấy’ này giống như tấm gương, phản chiếu màu sắc, và sau đó hình thành nên đôi mắt. Hình dạng của đôi mắt giống như chùm nho nhỏ.”

“Tiếp theo là đôi tai: Khi bong bóng ma thuật này gặp động và tĩnh, khả năng ’nghe’ được sinh ra. Khả năng ’nghe’ này nắm bắt âm thanh, và sau đó hình thành nên đôi tai. Hình dạng của đôi tai giống như chiếc lá mới cuộn lại.”

“Sau đó đến cái mũi: Khi bong bóng ma thuật này gặp đường thông và đường tắc, khả năng ’ngửi’ được sinh ra. Khả năng ’ngửi’ này hấp thụ mùi hương, và sau đó hình thành nên cái mũi. Hình dạng của cái mũi giống như hai chiếc móng vuốt treo lơ lửng.”

“Rồi đến cái lưỡi: Khi bong bóng ma thuật này gặp sự nhạt nhẽo và đa dạng, khả năng ’nếm’ được sinh ra. Khả năng ’nếm’ này nếm các vị, và sau đó hình thành nên cái lưỡi. Hình dạng của cái lưỡi giống như trăng lưỡi liềm.”

“Tiếp đến là cơ thể: Khi bong bóng ma thuật này gặp sự tiếp xúc và chia cách, khả năng ‘xúc chạm’ được sinh ra. Khả năng ‘xúc chạm’ này cảm nhận sự tiếp xúc, và sau đó hình thành nên cơ thể. Hình dạng của cơ thể giống như cái trống cơm.”

“Cuối cùng là ý thức: Khi bong bóng ma thuật này gặp sự sinh và diệt, khả năng ‘biết’ được sinh ra. Khả năng ‘biết’ này hiểu biết các sự vật khác nhau, và sau đó hình thành nên ý thức. Ý thức giống như nhìn đồ vật trong phòng tối.”

“A Nan, sáu căn là như vậy. Do sự sáng tỏ của tánh giác đó, mà có sự sáng tỏ và nhận biết. Đánh mất bản chất của sự hiểu biết đó, người ta dính mắc vào cái giả dối và phát ra ánh sáng. Do đó, bây giờ rời khỏi bóng tối và ánh sáng, ông không có thực thể của cái thấy. Rời khỏi động và tĩnh, ông vốn không có thực thể của cái nghe. Không có thông và tắc, tánh ngửi không phát sinh. Không có biến đổi và nhạt nhẽo, cái nếm không tạo ra gì cả. Không có ly và hợp, cảm giác xúc chạm về cơ bản là không tồn tại. Không có diệt và sinh, cái biết của ý thức không có nơi nương tựa. Ông chỉ cần không chạy theo mười hai tướng duyên khởi của động và tĩnh, hợp và ly, nhạt và biến đổi, thông và tắc, sinh và diệt, tối và sáng. Theo đó, hãy nhổ một căn lên, giải phóng sự dính mắc, và nhiếp phục nó vào bên trong. Nhiếp phục nó cho đến khi trở về chân lý bản nguyên và phát ra ánh sáng rực rỡ ban đầu. Khi tánh sáng chiếu soi, năm sự dính mắc kia sẽ được nhổ ra và giải thoát hoàn toàn. Ông sẽ không nương tựa vào kiến thức và cái thấy phát sinh từ trần cảnh trước mắt. Ánh sáng sẽ không chạy theo căn, mà sẽ chiếu soi nương nơi căn. Nhờ đó sáu căn sẽ hoạt động thay thế lẫn nhau.”

“A Nan, ông nên hiểu rằng sáu giác quan của chúng ta vốn dĩ thanh tịnh và không ô nhiễm. Nhưng vì chúng ta bám chấp vào ngoại cảnh, nên giống như phủ bụi lên tấm gương sáng vậy.”

Đức Phật giơ tay làm động tác phủi bụi, tiếp tục nói: “Nếu ông không còn bị ảnh hưởng bởi những thay đổi bên ngoài, ví dụ, không còn bám chấp vào các khái niệm tương đối như động và tĩnh, hợp và tan, nhạt và đa dạng, thông và tắc, sinh và diệt, sáng và tối, ông sẽ có thể trở về trạng thái thanh tịnh ban đầu.”

Đức Phật mỉm cười và nói: “Hãy tưởng tượng nếu ông có thể thanh lọc một trong các giác quan, thì các giác quan khác cũng sẽ trở nên thanh tịnh. Giống như một chuỗi hạt; nếu ông kéo một hạt, những hạt khác sẽ di chuyển theo.”

“A Nan, sao ông có thể không biết? Nay trong hội chúng này, A Na Luật mù mắt nhưng vẫn thấy. Rồng Bạt Nan Đà điếc tai nhưng vẫn nghe. Thần Nữ Sông Hằng không dùng mũi ngửi mùi hương. Kiều Phạm Bát Đề nếm vị bằng cái lưỡi kỳ lạ. Thần Thuấn Nhã Đa không có thân thể nhưng vẫn cảm nhận xúc chạm. Trong ánh sáng của Như Lai, họ được phản chiếu và xuất hiện tạm thời. Vì họ dùng gió làm bản chất, nên thân thể họ về cơ bản là không tồn tại. Những người trong Diệt Tận Định đạt được sự tịch tĩnh và nghe được âm thanh. Trong hội chúng này, Ma Ha Ca Diếp đã diệt ý căn từ lâu, nhưng tánh biết rõ ràng viên mãn và sáng ngời của ông không dựa vào suy nghĩ của ý thức. A Nan, nếu bây giờ ông có thể nhổ sạch hoàn toàn các căn của mình, bên trong chúng sẽ lấp lánh và phát ra ánh sáng. Như vậy phù trần và thế giới vật chất, cùng tất cả các tướng biến đổi, sẽ như băng tan trong nước nóng. Để đáp ứng với ý nghĩ của ông, chúng sẽ chuyển hóa thành tri kiến và sự nhận biết vô thượng.”

Tiếp theo, Đức Phật sử dụng một số ví dụ cụ thể để minh họa nguyên lý này: “Hãy nhìn xem, trong hội chúng của chúng ta, có một số ví dụ đặc biệt. A Na Luật, mặc dù mù, nhưng có thể nhìn thấy thế giới bằng tâm nhãn. Rồng Bạt Nan Đà không có tai nhưng có thể nghe thấy âm thanh. Thần Nữ Sông Hằng không có mũi nhưng có thể ngửi thấy mùi hương. Kiều Phạm Bát Đề có cái lưỡi khác thường nhưng có thể phân biệt các mùi vị khác nhau. Thần Thuấn Nhã Đa không có thân xác nhưng có thể cảm nhận xúc chạm.”

Giọng nói của Đức Phật trở nên nhẹ nhàng hơn: “Ngoài ra, những hành giả như Ma Ha Ca Diếp đã vượt qua ý thức thông thường và đạt đến trạng thái nhận thức cao hơn.”

Cuối cùng, Đức Phật khuyến khích A Nan: “A Nan, nếu ông có thể thanh lọc hoàn toàn các giác quan của mình, nội tâm ông sẽ phát ra ánh sáng. Khi đó, thế giới vô thường này sẽ giống như băng tan trong nước nóng, chuyển hóa thành trí tuệ tối thượng.”

“A Nan, ví như người thế gian gom cái thấy vào đôi mắt. Nếu ông làm cho người ấy nhắm mắt lại ngay lập tức, tướng tối sẽ hiện ra trước mặt người ấy. Sáu căn mờ mịt và tối tăm; đầu và chân thuộc cùng một loại. Nếu người ấy dùng tay sờ soạng bên ngoài cơ thể, mặc dù không nhìn thấy, nhưng người ấy có thể phân biệt đầu và chân; sự nhận biết của người ấy vẫn như vậy. Do cái thấy, sáng và tối trở thành không thấy; nếu không có ánh sáng, nó tự phát ra. Vậy thì tất cả tướng tối không bao giờ có thể che lấp được nó. Vì căn và trần đã bị tiêu diệt, làm sao tánh giác sáng ngời lại không trở nên viên mãn và diệu kỳ?”

Đức Phật tiếp tục giải thích cho A Nan, sử dụng một phép ẩn dụ thú vị: “A Nan, hãy tưởng tượng nếu ai đó đột nhiên nhắm mắt lại, họ sẽ thấy bóng tối, đúng không? Nhưng ngay cả trong bóng tối, họ vẫn có thể dùng tay chạm vào cơ thể mình và phân biệt vị trí của đầu và chân. Điều này cho thấy gì? Nó cho thấy nhận thức của chúng ta không hoàn toàn phụ thuộc vào thị giác của đôi mắt.”

Đức Phật mỉm cười và nói: “Tương tự như vậy, nếu chúng ta có thể vượt qua ánh sáng và bóng tối, vượt qua giới hạn của các giác quan, chúng ta có thể đạt đến trạng thái nhận thức cao hơn. Nhận thức này viên mãn và diệu kỳ.”

A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, như Phật đã dạy, nếu nhân địa của tâm giác ngộ muốn tìm cầu sự thường trụ, thì phải tương ưng với danh xưng và thuật ngữ của quả vị. Bạch Thế Tôn, các quả vị Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tánh, Am Ma La Thức, Không Như Lai Tạng, và Đại Viên Cảnh Trí—mặc dù bảy tên gọi này khác nhau, nhưng bản tánh thanh tịnh và viên mãn của chúng thì kiên cố và vững chắc. Như vua Kim Cang, chúng thường trụ và bất hoại. Nếu cái thấy và nghe này rời khỏi tối và sáng, động và tĩnh, thông và tắc, thì rốt cuộc chúng không có thực thể. Giống như tâm suy nghĩ; rời khỏi tiền trần, nó vốn không tồn tại. Làm sao Như Lai có thể lấy sự đoạn diệt rốt ráo này làm nguyên nhân tu hành, mong cầu đạt được bảy quả thường trụ của Như Lai? Bạch Thế Tôn, nếu cái thấy rời khỏi sáng và tối, rốt cuộc nó là không. Giống như không có tiền trần; tánh của suy nghĩ tự diệt. Đi đi lại lại trong vòng luân chuyển, tìm kiếm chi tiết, vốn không có tâm tôi hay chỗ ở của tâm tôi. Ai sẽ lập nhân để cầu sự giác ngộ vô thượng? Như Lai trước đây đã nói ’thể tánh trạm nhiên, viên mãn và thường trụ’, nhưng mâu thuẫn với lời nói chân thành của Ngài, nó lại trở thành lý thuyết hý luận. Làm sao Như Lai có thể là người nói lời chân thật? Con chỉ mong Ngài ban đại bi để mở mang sự ngu muội và đình trệ của con.”

Nghe vậy, A Nan trầm ngâm. Ông bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, con hiểu lời dạy của Ngài. Ngài nói rằng để đạt đến trạng thái vĩnh hằng, phương pháp tu tập của chúng con phải tương ứng với quả vị cuối cùng. Nhưng con có một số nghi ngờ.”

A Nan tiếp tục: “Bồ Đề, Niết Bàn, Chân Như, Phật Tánh v.v… mà Ngài đề cập đều trong sáng và hoàn hảo, vững chắc như kim cương. Nhưng nếu các giác quan của chúng con rời bỏ đối tượng của chúng, ví dụ, thị giác rời bỏ sáng và tối, thính giác rời bỏ động và tĩnh, chúng dường như không còn tồn tại nữa. Điều này giống như suy nghĩ của chúng con biến mất khi rời bỏ đối tượng của chúng.”

A Nan bối rối hỏi: “Vậy, làm sao chúng con có thể sử dụng cái dường như biến mất hoàn toàn làm cơ sở cho sự tu tập? Làm sao chúng con có thể thiết lập một nền tảng vững chắc cho sự tu tập để đạt đến những trạng thái vĩnh hằng đó?”

A Nan chân thành nói: “Bạch Thế Tôn, con thực sự bối rối. ‘Thể tánh trạm nhiên, viên mãn và thường trụ’ (thanh tịnh, vi diệu, hoàn hảo, vĩnh hằng) mà Ngài đề cập trước đây dường như mâu thuẫn với nguyên lý này. Xin Ngài từ bi giải thích cho con.”

Phật bảo A Nan: “Ông học nhiều nhưng chưa dứt hết các lậu hoặc. Trong lòng ông chỉ biết nguyên nhân của sự điên đảo, nhưng ông thực sự không thể nhận ra sự điên đảo thật sự khi nó xuất hiện trước mắt ông. Ta e rằng tâm chân thành của ông vẫn chưa tin và phục. Bây giờ ta sẽ thử dùng sự việc thế gian để giải trừ nghi ngờ của ông.” Ngay lập tức Như Lai ra lệnh cho La Hầu La đánh chuông một tiếng. Ngài hỏi A Nan: “Bây giờ ông có nghe không?”

Sau khi nghe câu hỏi của A Nan, Đức Phật nở nụ cười từ bi và thoáng chút tinh nghịch trên khuôn mặt. Ngài nói với A Nan: “A Nan, mặc dù ông có kiến thức, nhưng ông vẫn chưa hoàn toàn trút bỏ được phiền não. Mặc dù ông biết lý do của sự mê lầm, nhưng ông vẫn không thể nhận ra nó khi đối mặt với sự mê lầm thực sự. Ta e rằng tâm ông chưa hoàn toàn tin và phục chân lý một cách sâu sắc. Nhưng đừng lo, để Ta dùng một ví dụ đơn giản giúp ông giải tỏa nghi ngờ.”

Nói xong, Đức Phật quay sang La Hầu La bên cạnh và bảo: “La Hầu La, hãy thỉnh chuông.”

“Boong-” Tiếng chuông vang lên du dương. Đức Phật hỏi: “A Nan, ông có nghe thấy âm thanh vừa rồi không?”

A Nan và đại chúng đều nói: “Chúng con có nghe.”

A Nan và những người có mặt đều trả lời: “Chúng con có nghe.”

Chuông dừng và không có tiếng. Đức Phật lại hỏi: “Bây giờ ông có nghe không?”

Một lúc sau, tiếng chuông tắt dần. Đức Phật lại hỏi: “Còn bây giờ thì sao, ông có nghe thấy âm thanh nào không?”

A Nan và đại chúng đều nói: “Chúng con không nghe thấy.”

Lần này A Nan và đám đông lắc đầu nói: “Không.”

Sau đó La Hầu La lại đánh chuông. Đức Phật lại hỏi: “Bây giờ ông có nghe không?”

Đức Phật ra hiệu cho La Hầu La thỉnh chuông lần nữa. “Boong-” Tiếng chuông lại vang lên.

Đức Phật lại hỏi: “Bây giờ ông có nghe không?”

A Nan và đại chúng lại nói họ có nghe.

Mọi người lại đồng thanh trả lời: “Chúng con có nghe.”

Phật hỏi A Nan: “Tại sao ông nghe, và tại sao ông không nghe?”

Đức Phật mỉm cười và hỏi A Nan: “A Nan, ông có thể giải thích tại sao lúc thì ông nói nghe thấy, lúc thì ông nói không nghe thấy không?”

A Nan và đại chúng đều bạch Phật: “Nếu chuông được đánh, chúng con nghe thấy. Nếu đánh xong và sau một thời gian dài âm thanh dứt và tiếng vang cũng hết, thì gọi là không nghe.”

A Nan suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Bạch Thế Tôn, khi chuông rung, chúng con có thể nghe thấy âm thanh. Nhưng khi âm thanh tắt dần, chúng con không thể nghe thấy nó. Vì vậy, khi có âm thanh, chúng con nói là nghe thấy; khi không có âm thanh, chúng con nói là không nghe thấy.”

Như Lai lại ra lệnh cho La Hầu La đánh chuông, và hỏi A Nan: “Bây giờ có tiếng không?”

Nhìn A Nan, Đức Phật quyết định thực hiện một thí nghiệm khác.

Ngài nói với La Hầu La lần nữa: “La Hầu La, hãy thỉnh chuông lần nữa.” “Boong-” Tiếng chuông lại vang lên.

Đức Phật hỏi A Nan: “Bây giờ có tiếng không?”

A Nan nói: “Có tiếng.”

A Nan trả lời: “Có tiếng.”

Một lát sau tiếng dứt, và Đức Phật lại hỏi: “Bây giờ có tiếng không?”

Một lúc sau, tiếng chuông dần biến mất. Đức Phật lại hỏi: “Còn bây giờ thì sao?”

A Nan và đại chúng trả lời: “Không có tiếng.”

A Nan và đại chúng đều trả lời: “Không có tiếng.”

Một lát sau La Hầu La lại đến đánh chuông, và Đức Phật lại hỏi: “Bây giờ có tiếng không?”

Đức Phật yêu cầu La Hầu La thỉnh chuông lần thứ ba. “Boong-”

Đức Phật lại hỏi: “Bây giờ có tiếng không?”

A Nan và đại chúng đều nói: “Có tiếng.”

A Nan và đại chúng đồng thanh nói: “Có tiếng.”

Phật hỏi A Nan: “Tại sao ông nói có tiếng, và tại sao ông nói không có tiếng?”

Đức Phật mỉm cười và hỏi: “A Nan, ông có thể giải thích lại tại sao lúc thì có tiếng và lúc thì không có tiếng không?”

A Nan và đại chúng đều bạch Phật: “Nếu chuông được đánh, thì gọi là có tiếng. Nếu đánh xong và sau một thời gian dài âm thanh dứt và tiếng vang cũng hết, thì gọi là không có tiếng.”

A Nan suy nghĩ một lúc và trả lời: “Bạch Thế Tôn, khi chuông rung, chúng con nghe thấy âm thanh, nên chúng con nói có tiếng. Khi âm thanh tắt dần, chúng con không thể nghe thấy nó, nên chúng con nói không có tiếng.”

Phật bảo A Nan và đại chúng: “Tại sao bây giờ các ông lại nói năng lộn xộn và mâu thuẫn như vậy?”

Nghe câu trả lời của A Nan, vẻ mặt Đức Phật có phần nghiêm nghị. Ngài nói với A Nan và đại chúng có mặt: “Câu trả lời của các ông bây giờ có chút tự mâu thuẫn không?”

Đại chúng và A-nan đồng thời hỏi Phật: “Chúng con hiện nay bị mê lầm và mâu thuẫn ở điểm nào?”

A-nan và đại chúng hoang mang hỏi: “Bạch Thế Tôn, chúng con đã nói sai ở đâu? Tại sao Ngài lại nói chúng con tự mâu thuẫn?”

Phật dạy: “Ta hỏi ông có nghe không, ông nói có nghe. Rồi Ta hỏi ông có tiếng không, ông nói có tiếng. Ông trả lời bằng ’nghe’ và ’tiếng’ mà không có định nghĩa. Như vậy làm sao không mê lầm và mâu thuẫn? Này A-nan, khi tiếng dứt, không còn tiếng vang, ông nói không có cái nghe. Nếu thật sự không có cái nghe, thì tánh nghe đã diệt mất, như gỗ chết. Khi chuông lại đánh, làm sao ông biết? Biết có và biết không chính là thanh trần. Hoặc có hoặc không; tánh nghe làm sao vì ông mà có hay không? Nếu cái nghe thật sự không có, ai biết là không nghe? Cho nên A-nan, tiếng tự nhiên sinh diệt trong cái nghe. Không phải là cái nghe của ông sinh diệt theo tiếng sinh diệt. Ông vẫn còn điên đảo, lầm cho tiếng là nghe. Chẳng trách ông tiêu biểu cho sự mê lầm và cho cái thường hằng là đoạn diệt. Rốt cuộc, ông không nên nói rằng ngoài động và tĩnh, bế và khai, lại không có tánh nghe.”

Đức Phật nhìn A-nan và đại chúng đang hoang mang, mỉm cười từ bi và bắt đầu giải thích: “Hãy xem, khi Ta hỏi các ông có nghe tiếng không, các ông nói có. Khi Ta hỏi có tiếng không, các ông nói có. Câu trả lời của các ông dao động giữa ’nghe’ và ’tiếng’. Chẳng phải là tự mâu thuẫn sao?”

Đức Phật tiếp tục: “Này A-nan, ông nói ông không thể nghe khi tiếng biến mất. Nhưng nếu ông thực sự không thể nghe, thì tánh nghe của ông chẳng phải cũng biến mất sao? Nếu vậy, làm sao ông có thể nghe khi chuông reo trở lại?”

Đức Phật mỉm cười nói: “Thực ra, tiếng sinh và diệt trong cái nghe của ông, nhưng tánh nghe của ông không thay đổi vì sự có mặt hay vắng mặt của tiếng. Giống như tấm gương, nó không thay đổi vì vật phản chiếu đến và đi.”

“Ví như người ngủ say trên gối. Có người trong nhà đang đập áo hoặc giã gạo trong khi người ấy ngủ. Trong giấc mộng, người ấy nghe tiếng đập và giã, lầm tưởng là thứ khác: có thể là đánh trống hoặc đánh chuông. Trong mộng, người ấy tự hỏi tại sao tiếng chuông nghe như gỗ hoặc đá. Đột nhiên thức dậy, liền biết đó là tiếng chày. Người ấy nói với gia đình: ‘Tôi vừa nằm mơ, và tôi lầm tiếng giã gạo là tiếng trống.’ Này A-nan, người trong mộng ấy làm sao nhớ được tĩnh và động, khai và bế, thông và nghẽn? Tuy hình hài ngủ, nhưng tánh nghe không mờ. Dù cho hình hài ông tan nát, mạng sống chuyển dời và phai nhạt, tánh này làm sao vì ông mà diệt mất?”

Để mọi người dễ hiểu hơn, Đức Phật kể một câu chuyện khác: “Hãy tưởng tượng một người đang ngủ say, và gia đình đang giã gạo gần đó. Người ấy nghe tiếng giã gạo trong giấc mơ, nhưng trong mơ, người ấy lầm tưởng tiếng đó là tiếng trống hoặc chuông. Khi thức dậy, người ấy chợt nhận ra rằng đó thực sự là tiếng giã gạo.”

Đức Phật giải thích: “Ngay cả trong giấc ngủ, tánh nghe của người này cũng không biến mất. Tương tự như vậy, ngay cả khi thân xác ông biến mất, chân tánh của ông sẽ không biến mất.”

“Bởi vì tất cả chúng sinh từ vô thủy theo sắc và thanh, đuổi theo vọng niệm trong lưu chuyển, nên chưa từng giác ngộ bản thể vốn thanh tịnh, vi diệu và thường hằng. Họ không theo cái thường hằng, mà đuổi theo sinh diệt. Vì thế họ trôi lăn trong sự pha tạp ô nhiễm đời này qua đời khác. Nếu họ bỏ sinh diệt và giữ cái chân thường, thì thường quang sẽ hiện tiền. Các căn, trần và thức sẽ lập tức tan biến. Vọng tưởng và hình tướng là trần, thức và tình là cấu; cả hai đều được tránh xa. Khi đó Pháp nhãn của ông sẽ lập tức thanh tịnh và sáng suốt. Làm sao ông không đạt được tri kiến và giác ngộ tối thượng?”

Cuối cùng, Đức Phật kết luận: “Từ vô thủy, chúng sinh đã bị mê hoặc bởi sắc và thanh bên ngoài, quên mất tánh vốn thanh tịnh và xinh đẹp của mình. Nếu các ông có thể buông bỏ sự chấp trước vào hiện tượng sinh tử và giữ lấy tánh chân thật và thường hằng, tâm các ông sẽ trở nên trong sáng và cuối cùng đạt đến cảnh giới giác ngộ tối thượng.”

A-nan và đại chúng dường như đã có những hiểu biết mới sau khi nghe lời giải thích của Đức Phật. Họ bắt đầu hiểu rằng chân tánh của cái nghe vượt qua sự có mặt hay vắng mặt của tiếng, đây là một bước quan trọng hướng tới cảnh giới cao hơn.

Tham khảo

All rights reserved,未經允許不得隨意轉載
Built with Hugo
Theme Stack thiết kế bởi Jimmy