Tóm tắt Kinh Lăng Nghiêm Quyển 2
- Đối thoại giữa Đức Phật và Vua Prasenajit: Thảo luận về sự vô thường của thân xác, nhưng tánh thấy (Chân Tâm) là bất biến.
- Câu hỏi của A Nan: Nếu tánh thấy không sinh không diệt, tại sao Đức Phật lại nói rằng chúng sinh đã đánh mất chân tánh của mình?
- Đức Phật giải thích về sự phổ quát của tánh thấy: Nó bao trùm tất cả và không bị giới hạn bởi không gian.
- Thảo luận về mối quan hệ giữa tánh thấy và đối tượng: Tánh thấy không phải là đối tượng, cũng không tách rời khỏi đối tượng.
- Văn Thù Sư Lợi thỉnh cầu Đức Phật làm rõ hơn mối quan hệ giữa cái thấy và đối tượng.
- Đức Phật giải thích tánh thấy là Chân Tâm diệu minh: Vượt lên trên sự nhị nguyên của thị và phi.
- A Nan hỏi về sự khác biệt giữa tánh thấy và tự nhiên/nhân duyên mà ngoại đạo nói đến.
- Đức Phật phủ nhận tánh thấy là tự nhiên hay nhân duyên: Nó vượt lên trên những khái niệm này.
- Giải thích rằng các hiện tượng nhân duyên thế gian không phải là chân lý tối hậu: Giới thiệu khái niệm ‘khi thấy cái thấy, cái thấy không phải là cái thấy’.
- Giải thích hai loại thấy sai lầm gây ra luân hồi: biệt nghiệp vọng kiến và đồng phân vọng kiến.
- Giải thích chi tiết về việc Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức) là hư vọng như thế nào:
- Sắc Uẩn như hoa đốm hư ảo trong hư không
- Thọ Uẩn như hai bàn tay cọ xát vào nhau
- Tưởng Uẩn như nói chuyện về mơ chua
- Hành Uẩn như sóng trong dòng nước xiết
- Thức Uẩn như đựng hư không trong bình
- Nhấn mạnh rằng Ngũ Uẩn đều là hư vọng, chẳng phải nhân duyên cũng chẳng phải tự nhiên.
- Tư tưởng cốt lõi xuyên suốt kinh: Mọi hiện tượng đều là vọng tưởng; chân tánh (Như Lai Tạng) là bất sinh bất diệt, vượt qua mọi khái niệm nhị nguyên.
Những nội dung này phản ánh giáo nghĩa cốt lõi của Kinh Lăng Nghiêm, tức vạn pháp duy tâm, chân tâm bất biến, vượt thoát mọi đối đãi nhị nguyên, mà chúng sinh vì vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể thấy tánh.
Kinh Lăng Nghiêm Quyển 2 Trọn bộ
Bấy giờ A Nan và đại chúng, nghe lời Phật dạy thân tâm thái nhiên. Nghĩ thương từ vô thủy đến nay thất mất bản tâm, vọng nhận duyên trần phân biệt bóng dáng. Ngày nay khai ngộ như đứa con mất sữa chợt gặp mẹ hiền, chắp tay lễ Phật, nguyện nghe Như Lai hiển xuất thân tâm chân vọng hư thực, hiện tiền sanh diệt cùng hai tánh phát minh chẳng sanh diệt.
Vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật: ‘Xưa con chưa thừa hưởng lời dạy của chư Phật, gặp Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử, đều nói thân này sau khi chết là đoạn diệt, gọi là Niết Bàn. Con nay tuy gặp Phật mà vẫn còn hồ nghi, làm sao phát huy để chứng biết tâm này là địa địa bất sanh diệt? Khiến cho đại chúng và những người còn hữu lậu đây đều được nghe.’
Phật bảo đại vương: ‘Thân ông hiện còn, nay lại hỏi ông. Nhục thân này của ông là đồng như kim cang thường trụ bất hủ, hay là biến hoại?’
‘Bạch Thế Tôn, thân con nay đây rốt cuộc rồi sẽ biến diệt.’
Phật ngôn: ‘Đại vương, ông chưa từng diệt, làm sao biết diệt?’
‘Bạch Thế Tôn, cái thân vô thường biến hoại này của con, tuy chưa từng diệt, nhưng con quan sát hiện tiền, niệm niệm dời đổi, mới mới chẳng dừng. Như lửa thành tro, dần dần tiêu mòn, mòn chết chẳng nghỉ, quyết biết thân này lo sẽ diệt tận.’
Phật ngôn: ‘Đúng thế đại vương. Tuổi đời của ông nay đã già suy, nhan mạo so với lúc còn bé thế nào?’
‘Bạch Thế Tôn, xưa con còn bé da dẻ nhuận trạch, đến tuổi trưởng thành huyết khí sung mãn. Nay về già bị sự suy lão bức bách, hình sắc khô héo, tinh thần hôn muội, tóc bạc mặt nhăn, cái chết chẳng còn bao lâu. Làm sao so sánh được với lúc đang sung mãn?’
Phật ngôn: ‘Đại vương, hình dung của ông hẳn chẳng phải hư nát ngay lập tức.’
Vua nói: ‘Bạch Thế Tôn, sự biến hóa mật di, con thật chẳng hay biết. Hàn thử dời đổi dần dần đến thế này. Vì cớ sao? Con năm hai mươi tuổi tuy gọi là thiếu niên, nhưng nhan mạo đã già hơn lúc mười tuổi. Ba mươi tuổi lại suy hơn hai mươi, nay đã sáu mươi lại quá thêm hai năm, nhìn lại lúc năm mươi tuổi thấy còn cường tráng. Bạch Thế Tôn, con thấy sự dời đổi ngấm ngầm, tuy sự tàn tạ này, khoảng giữa lưu dịch chỉ hạn trong mười năm. Nếu lại bảo con suy nghĩ vi tế, sự biến đổi đâu chỉ một kỷ hai kỷ, thực là biến đổi theo năm. Há chỉ biến đổi theo năm, lại còn biến hóa theo tháng. Đâu chỉ biến hóa theo tháng, lại còn dời đổi theo ngày. Trầm tư quan sát kỹ, sát na sát na, trong khoảng niệm niệm chẳng được dừng trụ. Nên biết thân con rốt cuộc sẽ biến diệt.’
Phật ngôn: ‘Đại vương, ông thấy sự biến hóa dời đổi chẳng dừng, ngộ biết ông sẽ diệt, vậy trong khi diệt, ông có biết trong thân ông có cái chẳng diệt chăng?’
Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: ‘Con thật chẳng biết.’
Phật ngôn: ‘Ta nay chỉ cho ông cái tánh bất sanh diệt. Đại vương, ông năm bao nhiêu tuổi thì thấy nước sông Hằng?’
Vua nói: ‘Con sanh ra được ba tuổi, mẹ hiền bồng con đi lễ đền trời Kỳ Bà, đi qua dòng sông này, lúc ấy liền biết là nước sông Hằng.’
Phật ngôn: ‘Đại vương, như ông đã nói, lúc hai mươi tuổi suy hơn mười tuổi, cho đến sáu mươi tuổi, ngày tháng năm giờ niệm niệm dời đổi. Vậy khi ông ba tuổi thấy sông này, đến năm mười ba tuổi nước ấy thế nào?’
Vua nói: ‘Như lúc ba tuổi rành rành chẳng khác, cho đến nay sáu mươi hai tuổi cũng không có gì khác.’
Phật ngôn: ‘Nay ông tự thương tóc bạc mặt nhăn, mặt ông tất định nhăn hơn lúc còn bé. Nhưng cái thấy của ông nay xem sông Hằng này, với cái thấy xem sông lúc còn bé xưa kia, có già trẻ không?’
Vua nói: ‘Chẳng vậy, bạch Thế Tôn.’
Phật ngôn: ‘Đại vương, mặt ông tuy nhăn mà tánh kiến tinh này chưa từng nhăn. Cái nhăn thì biến đổi, cái chẳng nhăn thì phi biến đổi. Cái biến đổi thì chịu diệt, cái chẳng biến đổi kia vốn vô sanh diệt. Làm sao ở trong đó chịu sự sanh tử của ông? Mà còn dẫn lời của bọn Mạ Già Lê kia, đều nói thân này sau khi chết là diệt hẳn.’
Vua nghe lời này, tin biết sau thân này bỏ sanh lại thú hướng sanh, cùng với đại chúng vui mừng hớn hở đắc vị tằng hữu.
A Nan tức thời từ chỗ ngồi đứng dậy, lạy Phật, chắp tay quỳ dài bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, nếu cái thấy nghe này quả thật là bất sanh bất diệt, vì sao Thế Tôn gọi chúng con là bỏ mất chân tánh, làm việc điên đảo? Nguyện xin Phật khởi lòng từ bi rửa sạch bụi nhơ cho con.’
Tức thời Như Lai đưa cánh tay vàng ròng, năm ngón tay chỉ xuống, bảo A Nan rằng: ‘Ông nay thấy tay Mẫu Đà La của ta là chánh hay là đảo?’
A Nan bạch: ‘Chúng sanh thế gian cho đây là đảo, còn con chẳng biết thế nào là chánh, thế nào là đảo.’
Phật bảo A Nan: ‘Nếu người thế gian cho đây là đảo, thì người thế gian cho cái gì là chánh?’
A Nan bạch: ‘Như Lai dựng cánh tay lên, tay Đâu La Miên chỉ lên hư không, thì gọi là chánh.’
Phật liền dựng cánh tay lên bảo A Nan: ‘Nếu cái điên đảo này chỉ là đầu đuôi tráo đổi, người thế gian xem đó là thấy gấp đôi. Ông nên biết thân ông cùng thanh tịnh Pháp Thân của chư Như Lai so sánh với nhau cũng như vậy. Thân Như Lai gọi là Chánh Biến Tri, thân các ông gọi là Tánh Điên Đảo. Ông hãy xét kỹ thân ông và thân Phật, chỗ gọi là điên đảo, tên gọi điên đảo ấy ở chỗ nào?’
Bấy giờ A Nan cùng chư đại chúng, nhìn Phật mắt chẳng nháy, chẳng biết chỗ điên đảo của thân tâm ở đâu. Phật hưng khởi lòng từ bi, thương xót A Nan và chư đại chúng, phát ra âm thanh như hải triều bảo khắp trong hội: ‘Này thiện nam tử, ta thường nói sắc tâm và các duyên, cùng các sở duyên pháp của tâm sở sử, đều là vật biến hiện của tâm. Thân ông, tâm ông đều là vật hiện trong Diệu Minh Chân Tinh Diệu Tâm. Tại sao các ông bỏ mất cái Tâm bản diệu viên diệu minh, Tánh bảo minh diệu? Nhận cái mê trong cái ngộ, hối muội cho là không; trong cái không hối ám kết cái tối lại làm sắc. Sắc xen tạp với vọng tưởng, tưởng tướng làm thân. Tụ tập duyên lay động bên trong, rong ruổi theo bên ngoài. Đem cái tướng hôn nhiễu này làm tâm tánh. Một phen mê lầm cho là tâm, quyết định lầm cho là ở trong sắc thân. Chẳng biết núi sông hư không đại địa bên ngoài sắc thân, đều là vật trong Diệu Minh Chân Tâm. Ví như bỏ trăm ngàn biển lớn trong lặng, chỉ nhận một cái bọt nổi cho là toàn thể biển cả, cùng tận các dòng nước. Các ông tức là người mê bội phần trong cái mê, như ta rũ tay xuống chẳng có sai biệt. Như Lai nói là kẻ đáng thương xót.’
A Nan thừa hưởng sự cứu vớt từ bi và lời dạy ân cần của Phật, rơi lệ chắp tay bạch Phật: ‘Con nay tuy thừa hưởng diệu âm như vậy của Phật, ngộ được Diệu Minh Tâm vốn viên mãn thường trụ nơi tâm địa. Nhưng con nay ngộ được pháp âm hiện tại của Phật, là dùng cái tâm phan duyên mà chiêm ngưỡng. Chỉ được cái tâm này, chưa dám nhận là bản nguyên tâm địa. Nguyện xin Phật thương xót tuyên dương viên âm, nhổ sạch gốc rễ nghi ngờ của con, khiến con quay về Vô Thượng Đạo.’
Phật bảo A Nan: ‘Các ông còn dùng tâm phan duyên để nghe pháp, thì pháp này cũng là sở duyên, chẳng đắc pháp tánh. Như người dùng ngón tay chỉ trăng cho người khác xem, người kia nên nương ngón tay mà nhìn trăng. Nếu lại nhìn ngón tay cho là thể của trăng, thì người này chẳng những bỏ mất vòng trăng, mà còn bỏ mất cả ngón tay. Vì cớ sao? Vì nhận ngón tay chỉ cho là trăng sáng. Chẳng những bỏ mất ngón tay, mà còn chẳng biết sáng và tối. Vì cớ sao? Vì nhận thể ngón tay là tánh sáng của trăng, nên chẳng hiểu rõ hai tánh minh ám. Ông cũng như vậy. Nếu lấy cái phân biệt pháp âm của ta làm tâm ông, thì cái tâm này nên lìa cái tiếng phân biệt ra, tự có tánh phân biệt. Ví như khách trọ ở nhà trọ, tạm dừng rồi đi, trọn chẳng thường trụ. Còn người chưởng quản nhà trọ thì chẳng đi đâu, gọi là chủ nhà trọ. Đây cũng như vậy. Nếu thật là tâm ông, thì chẳng có đi đâu. Tại sao rời tiếng lại không có tánh phân biệt? Đây há chỉ là cái tâm phân biệt tiếng nói, mà cái ta phân biệt dung mạo, lìa các sắc tướng cũng chẳng có tánh phân biệt. Như vậy cho đến hoàn toàn không có phân biệt, phi sắc phi không, bọn Câu Xá Ly muội cho là minh đế, lìa các pháp duyên chẳng có tánh phân biệt. Thì tâm tánh của ông mỗi mỗi đều có chỗ trả về, lấy gì làm chủ?’
A Nan nói: ‘Nếu tâm tánh của con mỗi mỗi đều có chỗ trả về, thì Diệu Minh Nguyên Tâm mà Như Lai nói, tại sao không có chỗ trả về? Cúi xin Phật rủ lòng thương xót, tuyên thuyết cho con.’
Phật bảo A Nan: ‘Thả ông hãy nhìn cái thấy tinh minh của ta. Cái thấy này tuy chẳng phải là cái diệu tinh minh tâm, nhưng như mặt trăng thứ hai, chẳng phải là bóng trăng. Ông hãy nghe kỹ, nay ta chỉ cho ông cái chỗ không có trả về. A Nan, đại giảng đường này mở rộng về phương đông, mặt trời lên trên trời thì có sáng, đêm giữa tháng tối hay mây mù hối minh thì lại tối. Qua các khe cửa sổ thì thấy thông, khoảng giữa vách và mái hiên thì thấy bít. Chỗ phân biệt thì thấy duyên, trong nơi ngoan hư thì khắp là tánh không. Tướng uất bột thì dính với trần hôn ám, mưa tạnh khí thanh thì lại thấy thanh tịnh. A Nan, ông xem các tướng biến hóa này. Nay ta đều trả về từng bản nhân của nó. Thế nào là bản nhân? A Nan, trong các biến hóa này, sáng trả về cho mặt trời. Vì cớ sao? Không có mặt trời thì không sáng, nguyên nhân của sáng thuộc về mặt trời, nên trả về cho mặt trời. Tối trả về cho trăng tối. Thông trả về cho cửa sổ. Bít trả về cho tường mái. Duyên trả về cho phân biệt. Ngoan hư trả về cho hư không. Uất bột trả về cho bụi trần. Thanh minh trả về cho trời tạnh. Tất cả cái có trong thế gian chẳng ra ngoài các loại này. Tánh thấy tinh minh tám loại ông thấy, lo sẽ trả về cho ai? Vì cớ sao? Nếu trả về cho sáng, thì khi chẳng sáng, ắt chẳng thấy tối. Tuy có các sự sai biệt như sáng tối, nhưng cái thấy chẳng có sai biệt. Các cái có thể trả về được, tự nhiên chẳng phải là ông. Cái chẳng trả về cho ông, phi ông là ai? Tức hãy biết tâm ông bản lai diệu minh thanh tịnh. Ông tự mê muội bỏ mất cái gốc, chịu luân chuyển, thường trôi chìm trong sanh tử. Thế nên Như Lai gọi là kẻ đáng thương xót.’
A Nan nói: ‘Con tuy biết cái tánh thấy này không có chỗ trả về, nhưng làm sao biết đó là chân tánh của con?’
Phật bảo A-nan: ‘Nay ta hỏi ông. Hiện tại, ông chưa được lậu tận, nhưng nhờ thần lực của Phật, ông có thể thấy cõi Sơ Thiền không bị chướng ngại. A-na-luật thấy thế giới Diêm-phù-đề này như nhìn quả a-ma-la trong lòng bàn tay. Các vị Bồ-tát thấy hàng trăm ngàn thế giới. Các Đức Như Lai trong mười phương thấy tất cả các cõi tịnh độ nhiều như bụi trần không gì không thấy. Tầm nhìn của chúng sinh không vượt quá một phân. A-nan, nay ta và ông nhìn các cung điện nơi Tứ Thiên Vương cư ngụ. Chúng ta thấy mọi thứ ở giữa, nước, đất liền và hư không. Tuy có nhiều hình ảnh sáng tối khác nhau, nhưng chúng không gì khác hơn là tàn dư của trần cảnh bên ngoài do phân biệt mà có. Ông nên phân biệt giữa mình và người trong việc này. Nay ta sẽ chọn cho ông từ cái thấy của ông: Ai là bản thể của chúng ta và cái gì là vật? A-nan, hãy cùng tột nguồn gốc cái thấy của ông. Từ cung điện của mặt trời và mặt trăng, đây là vật, không phải ông. Đến Bảy Núi Vàng, hãy nhìn kỹ khắp nơi; tuy có nhiều ánh sáng khác nhau, chúng cũng là vật, không phải ông. Dần dần quan sát thêm: mây nổi, chim bay, gió thổi, bụi bay, cây cối, núi sông, cỏ, người và thú - tất cả đều là vật, không phải ông. A-nan, tất cả những vật gần xa này đều có tính chất vật lý. Tuy chúng khác nhau, nhưng đều được quan sát bởi tinh thể thấy thanh tịnh của ông. Vậy thì mọi loại vật đều có sự khác biệt riêng, nhưng tánh thấy thì không có sự khác biệt. Tinh thể diệu minh này thực sự là tánh thấy của ông. Nếu cái thấy là một vật, thì ông cũng có thể thấy cái thấy của ta. Nếu chúng ta cùng thấy một vật và ông gọi đó là thấy cái thấy của ta, thì khi ta không thấy, tại sao ông không thấy chỗ không thấy của ta? Nếu ông thấy cái không thấy của ta, thì đó tự nhiên không phải là tướng của cái không thấy. Nếu ông không thấy chỗ không thấy của ta, thì nó tự nhiên không phải là vật; sao có thể không phải là ông? Hơn nữa, khi ông thấy vật hiện nay, vì ông thấy vật, vật cũng thấy ông. Nếu tánh của bản thể lẫn lộn, thì ông và ta và cả thế giới không thể thành lập. A-nan, nếu khi ông thấy, đó là ông chứ không phải ta, thì tánh thấy trùm khắp mọi nơi; nếu không phải là ông thì là ai? Tại sao ông lại nghi ngờ chân tánh của chính mình? Đó là tánh của ông chứ không phải là không thật, vậy mà ông lại nhận ta để cầu sự thật.’
A-nan bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, nếu tánh thấy này chắc chắn là con chứ không phải ai khác, thì khi con và Như Lai nhìn các bảo điện nguy nga của Tứ Thiên Vương và cư ngụ trong cung điện mặt trời mặt trăng, cái thấy này bao trùm tất cả và lan khắp thế giới Ta-bà. Khi trở về Tinh xá, con chỉ thấy tu viện. Khi ngồi trong giảng đường thanh tịnh, con chỉ nhìn thấy mái hiên và hành lang. Bạch Thế Tôn, cái thấy này là như vậy: bản thể của nó vốn trùm khắp cả thế giới, nhưng nay ở trong phòng nó chỉ đầy một căn phòng. Cái thấy này co lại từ lớn thành nhỏ, hay các bức tường kẹp nó và cắt đứt nó? Con không biết nghĩa này nằm ở đâu. Cúi xin Ngài mở lòng đại bi giải thích cho con.’
Phật bảo A-nan: ‘Trong tất cả các thế giới, lớn và nhỏ, trong và ngoài, mọi hoạt động đều thuộc về trần cảnh bên ngoài. Ông không nên nói rằng cái thấy có sự co giãn. Ví dụ, khi quan sát một khoảng không gian vuông trong một cái hộp vuông, ta hỏi ông: Khoảng không gian vuông được thấy trong cái hộp vuông này là vuông cố định hay vuông không cố định? Nếu nó là vuông cố định, thì khi ông đặt một cái hộp tròn ở nơi khác, không gian không nên tròn. Nếu nó là không cố định, thì trong cái hộp vuông không nên có không gian vuông. Ông nói ông không biết nghĩa nằm ở đâu. Tánh của nghĩa là như vậy; làm sao ông có thể hỏi nó ở đâu? A-nan, nếu ông muốn làm cho nó không vuông cũng không tròn, chỉ cần bỏ cái vuông của cái hộp đi, và bản thể của không gian không có cái vuông. Ông không nên nói rằng ông phải loại bỏ thêm vị trí của tướng không gian. Nếu, như ông hỏi, khi vào phòng, cái thấy co lại thành nhỏ, thì khi ông ngước nhìn mặt trời, ông có kéo cái thấy của mình ra để chạm đến bề mặt mặt trời không? Nếu xây tường có thể kẹp cái thấy và cắt đứt nó, thì nếu ông khoan một lỗ nhỏ, tại sao không có dấu vết của cái lỗ? Lý luận này không đúng. Tất cả chúng sinh, từ vô thủy, đã lầm lạc về bản thân mình như là vật, đánh mất tâm bản nguyên và bị vật chuyển. Do đó, họ thấy lớn và nhỏ trong đó. Nếu họ có thể chuyển vật, thì họ đồng với Như Lai. Thân và tâm họ tròn đầy sáng suốt, là đạo tràng bất động. Trên đầu một sợi lông, họ có thể chứa đựng các cõi nước mười phương.’
A-nan bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, nếu tinh thể thấy này chắc chắn là diệu tánh của con, hãy để diệu tánh này hiện ra trước mặt con ngay bây giờ. Cái thấy chắc chắn là sự thật của con. Thân và tâm con bây giờ là vật gì? Nhưng nay thân và tâm được phân biệt và hữu hình, trong khi cái thấy kia không được phân biệt hay tách rời khỏi thân con. Nếu nó thực sự là tâm con, hãy làm cho con thấy nó ngay bây giờ. Nếu tánh thấy thực sự là con và thân không phải là con, thì nó khác gì với sự bác bỏ trước đây của Như Lai rằng vật có thể thấy con? Xin Ngài mở lòng đại bi khai thị cho những kẻ chưa tỉnh ngộ.’
Phật bảo A-nan: ‘Điều ông nói bây giờ, rằng cái thấy ở trước mặt ông, là không đúng về nghĩa. Nếu nó thực sự ở trước mặt ông và ông thực sự thấy nó, thì tinh thể thấy này sẽ có một vị trí và có thể chỉ ra được. Nay ta ngồi cùng ông trong rừng Kỳ-đà, nhìn khắp rừng cây, dòng nước, và giảng đường, lên đến mặt trời mặt trăng, và nhìn sông Hằng ở phía trước. Nay, trước tòa Sư Tử của ta, hãy định rõ và chỉ ra những tướng trạng khác nhau này: cái râm mát là cây, cái sáng là mặt trời, cái ngăn che là tường, cái thông suốt là hư không. Như vậy, ngay cả cỏ cây mảnh mai, tuy kích thước khác nhau, miễn là có hình tướng, đều có thể chỉ ra được. Nếu chắc chắn có cái thấy hiện ra trước mặt ông, ông nên dùng tay chỉ ra chắc chắn cái nào là cái thấy. A-nan, ông nên biết rằng nếu hư không là cái thấy, vì nó đã là cái thấy, thì hư không là gì? Nếu vật là cái thấy, vì nó đã là cái thấy, thì vật là gì? Ông có thể bóc tách tỉ mỉ vạn tượng, phân tích tinh thể thấy thanh tịnh và nhiệm màu, và chỉ nó ra cho ta xem, rõ ràng không nhầm lẫn, giống như những vật kia.’
A-nan nói: ‘Nay con, trong giảng đường trùng các này, nhìn xa ra sông Hằng và ngước nhìn mặt trời mặt trăng. Bất cứ thứ gì tay con chỉ và mắt con quan sát đều là vật; không gì là cái thấy. Bạch Thế Tôn, như Phật đã nói, huống chi là một Thanh văn sơ cơ còn lậu hoặc như con, ngay cả Bồ-tát cũng không thể mổ xẻ cái thấy chính xác từ trước hình ảnh của vạn vật và tìm ra một tự tánh riêng biệt tách rời khỏi mọi vật.’
Phật nói: ‘Đúng thế, đúng thế.’
Phật lại bảo A-nan: ‘Như ông nói, không có cái thấy chính xác nào có tự tánh riêng biệt tách rời khỏi mọi vật. Vậy thì, trong những vật ông chỉ ra, không gì là cái thấy. Nay ta lại bảo ông: Khi ông và Như Lai ngồi trong rừng Kỳ-đà và nhìn lại khu vườn, và cả mặt trời mặt trăng cùng nhiều hình ảnh khác nhau, chắc chắn không có tinh thể thấy nào có thể được ông chỉ ra. Ông hãy giải thích thêm: trong những vật này, cái gì KHÔNG PHẢI là cái thấy?’
A-nan nói: ‘Con thực sự nhìn khắp nơi trong rừng Kỳ-đà này, và con không biết cái gì trong đó không phải là cái thấy. Tại sao? Nếu cây không phải là cái thấy, làm sao con có thể thấy cây? Nếu cây là cái thấy, thì làm sao chúng là cây? Và cứ thế, nếu hư không không phải là cái thấy, làm sao nó có thể là hư không? Nếu hư không là cái thấy, thì làm sao nó là hư không? Con nghĩ lại về vạn tượng này; khi xem xét tỉ mỉ, không gì là không phải cái thấy.’
Phật nói: ‘Đúng thế, đúng thế.’
Bấy giờ đại chúng, và những người chưa phải là vô học (A-la-hán), nghe lời Phật dạy, đều hoang mang không biết đầu đuôi nghĩa này ra sao. Trong chốc lát, họ kinh hãi và mất phương hướng. Như Lai biết tâm họ dao động và sợ hãi, nên sinh lòng thương xót và an ủi A-nan cùng đại chúng: ‘Này các thiện nam tử, Vô Thượng Pháp Vương nói lời chân thật. Như Ngài nói, Ngài không lừa dối hay nói sai. Nó không giống như bốn loại bất tử và những lý thuyết sai lầm, hỗn loạn của Makkhali Gosala. Các ông nên quán sát kỹ lưỡng; đừng hạ thấp sự ngưỡng mộ đáng thương của mình.’
Lúc bấy giờ, Pháp Vương Tử Văn Thù Sư Lợi, thương xót tứ chúng, từ chỗ ngồi giữa đại chúng đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính và bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, đại chúng này không hiểu nghĩa của hai loại tánh thấy căn bản, sắc và không, có và không, như Như Lai đã khai thị. Bạch Thế Tôn, nếu những duyên trước như sắc và không là cái thấy, chúng nên có thể chỉ ra được. Nếu chúng không phải là cái thấy, chúng không nên được quan sát. Nay họ không biết nghĩa này quy về đâu, nên họ sợ hãi. Không phải là căn lành quá khứ của họ mỏng manh. Con chỉ mong Như Lai, với lòng đại bi, khai thị những vật và hình ảnh này và tinh thể thấy này vốn là gì. Ở giữa, không có có hay không.’
Phật bảo Văn Thù và đại chúng: ‘Các Đức Như Lai trong mười phương và các vị Đại Bồ-tát, trong Tam-muội an trụ của chính mình, thấy cái thấy và các duyên của cái thấy, cũng như các tướng của tư tưởng, như hoa đốm trong hư không, vốn không có thực. Cái thấy và duyên này vốn là bản thể diệu tịnh minh của Bồ-đề. Làm sao có thể có có hay không trong đó? Văn Thù, nay ta hỏi ông. Có một Văn Thù nào khác ngoài ông, Văn Thù, không? Văn Thù đó là Văn Thù hay không phải Văn Thù?’
‘Đúng vậy, bạch Thế Tôn. Con là Văn Thù thật; không có Văn Thù nào khác. Tại sao? Nếu có người khác, sẽ có hai Văn Thù. Nhưng nay con không phải là không-Văn Thù. Ở giữa, thực sự không có tính nhị nguyên của có và không.’
Phật nói: ‘Cái thấy diệu minh này và các hư không và trần cảnh khác nhau cũng như vậy; chúng vốn là tánh diệu minh. Vô Thượng Bồ-đề, Chân Tâm thanh tịnh tròn đầy, vọng hiện làm sắc và không, nghe và thấy. Như mặt trăng thứ hai: ai là mặt trăng thật và ai không phải là mặt trăng? Văn Thù, chỉ có một mặt trăng thật; ở giữa, tự nhiên không có chuyện là mặt trăng hay không phải là mặt trăng. Do đó, khi ông quan sát cái thấy và trần cảnh hiện nay, các biểu hiện khác nhau được gọi là vọng tưởng. Ông không thể phân biệt có và không trong chúng. Do tánh giác diệu minh chân thật bản nhiên này, ông có thể chỉ ra hoặc không chỉ ra.’
A-nan bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, quả thật như Pháp Vương đã nói, duyên giác ngộ trùm khắp mười phương, vắng lặng và thường hằng, và tánh của nó không chịu sinh diệt. Điều này khác gì với chân lý mơ hồ mà Phạm chí Kapila trước đây và các ngoại đạo khác như phái rắc tro đã nói, những người nói rằng có một chân ngã trùm khắp mười phương? Thế Tôn cũng đã giải thích nghĩa này trên núi Lăng-già cho Mahamati và những người khác. Những ngoại đạo đó luôn nói về tự nhiên (Svabhava); con nói về nhân duyên, vốn không phải là cảnh giới của họ. Nay con quán sát tánh giác này là tự nhiên, chẳng sinh chẳng diệt, xa lìa mọi mê lầm và đảo điên. Nó dường như không phải là nhân duyên, mà giống như tự nhiên của họ. Ngài có thể giải thích điều này như thế nào để chúng con không rơi vào tà kiến mà đạt được Chân Tâm, tánh giác diệu minh?’
Phật bảo A-nan: ‘Nay ta giảng phương tiện như thế này để nói cho ông sự thật, nhưng ông vẫn không tỉnh ngộ và nhầm lẫn nó với tự nhiên. A-nan, nếu nó phải là tự nhiên, ông phải phân biệt rõ ràng rằng có một bản thể của tự nhiên. Ông quan sát cái thấy diệu minh này: cái gì là ngã của nó? Cái thấy này lấy sáng làm ngã, lấy tối làm ngã, lấy hư không làm ngã, hay lấy lấp làm ngã? A-nan, nếu sáng là ngã của nó, ông không nên thấy tối. Nếu hư không là bản thể ngã của nó, ông không nên thấy lấp. Và cứ thế, nếu tối và các tướng khác là ngã của nó, thì khi sáng, tánh thấy bị diệt; làm sao ông có thể thấy sáng?’
A-nan nói: ‘Nếu tánh thấy màu nhiệm này chắc chắn không phải là tự nhiên, nay con suy luận nó là tánh nhân duyên. Tâm con vẫn chưa thông; con xin hỏi Như Lai. Nghĩa này phù hợp với tánh nhân duyên như thế nào?’
Phật nói: ‘Ông nói về nhân duyên. Ta lại hỏi ông. Nay ông thấy tánh thấy hiện ra trước mặt. Cái thấy này tồn tại là do sáng, do tối, do hư không, hay do lấp? A-nan, nếu nó tồn tại do sáng, ông không nên thấy tối. Nếu nó tồn tại do tối, ông không nên thấy sáng. Và cứ thế, do hư không và lấp, nó cũng giống như sáng và tối. Hơn nữa, A-nan, cái thấy này tồn tại do duyên sáng, do duyên tối, do duyên hư không, hay do duyên lấp? A-nan, nếu nó do duyên hư không, ông không nên thấy lấp. Nếu do duyên lấp, ông không nên thấy hư không. Và cứ thế, do duyên sáng và tối, nó cũng giống như hư không và lấp. Ông nên biết rằng tánh giác bản nhiên, diệu minh này, chẳng phải nhân chẳng phải duyên, chẳng phải tự nhiên, chẳng phải không tự nhiên. Nó chẳng phải phi-phi, cũng chẳng phải thị-thị. Nó lìa tất cả các tướng, nhưng là tất cả các pháp. Tại sao nay ông lại đặt tâm mình vào trong này và phân biệt bằng những danh tướng phù phiếm thế tục? Nó giống như dùng tay nắm bắt hư không; chỉ làm tăng thêm sự mệt mỏi của chính ông. Làm sao hư không có thể theo sự nắm bắt của ông?’
A Nan bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, nếu tính diệu giác chẳng phải nhân, chẳng phải duyên, tại sao Thế Tôn thường nói với các tỳ kheo rằng tính thấy hội đủ bốn loại nhân duyên? Nghĩa là do hư không, do sáng, do tâm và do mắt. Nghĩa này là thế nào?’
Phật bảo: ‘A Nan, những gì ta nói về các pháp nhân duyên thế gian không phải là đệ nhất nghĩa. A Nan, nay ta lại hỏi ông. Người thế gian nói ’tôi thấy được’. Cái gì gọi là thấy và cái gì gọi là không thấy?’
A Nan thưa: ‘Do ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và đèn, người thế gian thấy được các loại hình sắc; đây gọi là thấy. Nếu không có ba loại ánh sáng đó thì không thể thấy.’
‘A Nan, nếu ở trong tối gọi là không thấy, thì ông không nên thấy tối. Nếu ông ắt thấy tối, thì đây chỉ là không có ánh sáng, sao có thể nói là không thấy? A Nan, nếu ở trong tối không thấy sáng gọi là không thấy, thì nay ở trong sáng không thấy tướng tối cũng nên gọi là không thấy. Nếu hai tướng này cướp đoạt lẫn nhau, thì tính thấy của ông tạm thời chẳng mất trong đó. Do đó ông nên biết rằng cả hai đều gọi là thấy. Sao có thể nói là không thấy? Vì vậy, A Nan, ông nay nên biết rằng khi thấy sáng, cái thấy chẳng phải là sáng. Khi thấy tối, cái thấy chẳng phải là tối. Khi thấy hư không, cái thấy chẳng phải là hư không. Khi thấy vật ngăn ngại, cái thấy chẳng phải là vật ngăn ngại. Khi bốn nghĩa này thành tựu, ông lại nên biết rằng khi thấy cái thấy, cái thấy ấy chẳng phải là chân kiến (cái thấy chân thật). Chân kiến lìa cái thấy (phân biệt), cái thấy (phân biệt) không thể đến được đó. Sao còn nói những tướng nhân duyên, tự nhiên và hòa hợp? Hàng Thanh Văn các ông kiến thức hẹp hòi, thiếu trí tuệ, không thể thông đạt thật tướng thanh tịnh. Nay ta dạy ông khéo tư duy, chớ có trễ nải trên đạo Bồ Đề vi diệu.’
A Nan bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, như Phật đã rưới pháp âm cho chúng con, nói về nhân duyên và tự nhiên, các tướng hòa hợp và chẳng hòa hợp. Tâm con vẫn chưa mở ngộ, nay lại nghe ’thấy cái thấy thì cái thấy ấy chẳng phải là thấy’, con càng mê muội thêm. Cúi mong Thế Tôn rủ lòng đại bi, ban cho con mắt đại trí, chỉ cho chúng con thấy giác tâm sáng suốt thanh tịnh.’ Nói xong, ông rơi lệ đảnh lễ, kính cẩn tiếp nhận thánh ý.
Khi ấy, Thế Tôn thương xót A Nan và đại chúng, muốn hiển bày con đường tu hành vi diệu của Đại Đà La Ni và các Tam Ma Đề, liền bảo A Nan: ‘Tuy ông ghi nhớ rất nhiều, nhưng chỉ làm tăng thêm kiến thức. Ông vẫn chưa hiểu rõ về sự quán chiếu vi mật của Xa Ma Tha. Nay hãy lắng nghe, ta sẽ phân tích và hiển bày cho ông, cũng khiến cho chúng sinh hữu lậu trong tương lai chứng được quả Bồ Đề. A Nan, tất cả chúng sinh luân hồi trong thế gian là do hai loại vọng kiến điên đảo. Những vọng kiến này sinh ra ngay tại chỗ và gây ra sự luân chuyển của nghiệp. Hai loại thấy đó là gì? Một là biệt nghiệp vọng kiến của chúng sinh, hai là đồng phân vọng kiến của chúng sinh.’
‘Thế nào gọi là biệt nghiệp vọng kiến? A Nan, như người thế gian mắt bị màng đỏ (mắt nhặm), ban đêm nhìn ánh đèn thấy có quầng tròn năm màu bao quanh. Ông nghĩ sao? Quầng sáng hiện ra quanh đèn đêm này là màu của đèn hay là màu của cái thấy? A Nan, nếu là màu của đèn, tại sao người không bị mắt nhặm lại không thấy khác? Nhưng bóng tròn này chỉ người mắt nhặm mới thấy. Nếu là màu của cái thấy, thì cái thấy đã thành màu sắc rồi, vậy người mắt nhặm thấy bóng tròn kia gọi là gì? Lại nữa, A Nan, nếu bóng tròn này lìa ngọn đèn mà có, thì nhìn sang bình phong, màn, bàn, chiếu bên cạnh cũng phải thấy bóng tròn. Nếu lìa cái thấy mà có, thì mắt không thể thấy được; sao người mắt nhặm lại thấy bóng tròn bằng mắt? Do đó nên biết rằng màu sắc thực sự ở nơi đèn, còn màng mắt hóa thành bóng. Bóng và cái thấy đều là lỗi của màng mắt, nhưng cái thấy được màng mắt thì không phải là bệnh. Tại sao ông lại nói nó là đèn hay là thấy? Trong đây chẳng có đèn cũng chẳng có thấy, giống như mặt trăng thứ hai chẳng phải là thể cũng chẳng phải là bóng. Tại sao? Vì sự thấy mặt trăng thứ hai là do dụi mắt mà thành. Người trí không nên nói gốc của việc dụi mắt này là hình thể hay không phải hình thể, lìa cái thấy hay không lìa cái thấy. Việc này cũng do màng mắt mà thành, ông muốn gọi cái gì là đèn hay là thấy? Huống chi là phân biệt cái không phải đèn và không phải thấy.’
‘Thế nào gọi là đồng phân vọng kiến? A Nan, cõi Diêm Phù Đề này, ngoại trừ nước biển cả, ở giữa đất bằng có ba ngàn châu. Châu lớn ở chính giữa mở rộng đông tây, bao gồm hai ngàn ba trăm nước lớn. Các châu nhỏ còn lại ở trong các biển, trong đó hoặc có hai ba trăm nước, hoặc một, hai, cho đến ba mươi, bốn mươi, năm mươi. A Nan, nếu trong số đó có một châu nhỏ chỉ có hai nước. Nếu người của một nước đồng phận cảm nhận ác duyên, thì chúng sinh của châu nhỏ đó sẽ thấy tất cả các cảnh giới không lành. Họ hoặc thấy hai mặt trời, hai mặt trăng, các loại tai dị như vựng, tích, bội, quyết, tuệ, bột, phi lưu, phụ nhĩ, hồng nghê, và các ác tướng khác. Nhưng chúng sinh của nước kia vốn không thấy không nghe những điều này. A Nan, nay ta hợp hai sự việc này để làm sáng tỏ nghĩa tiến lui cho ông.’
‘A Nan, như biệt nghiệp vọng kiến của chúng sinh, thấy bóng tròn hiện trong ánh đèn; tuy hiện ra như cảnh giới, nhưng rốt cuộc là do màng mắt của người nhìn tạo thành. Màng mắt là sự mệt mỏi của cái thấy, không phải do sắc tạo ra. Tuy nhiên, cái nhận biết màng mắt rốt cuộc không bị lỗi lầm của cái thấy. Ví như nay ông dùng mắt thấy núi sông đất đai và chúng sinh đều là do bệnh thấy từ vô thủy tạo thành. Cái thấy và duyên của cái thấy dường như hiện ra cảnh giới trước mắt. Vốn là giác minh của ta thấy cái duyên của màng mắt. Cái giác thấy màng mắt là bản giác minh tâm. Cái duyên của giác chẳng phải là màng mắt; cái giác duyên theo màng mắt, nhưng giác không nằm trong màng mắt. Đây thực sự là thấy cái thấy (kiến kiến). Sao ông còn gọi là giác, văn, tri, kiến? Vì thế, nay ông thấy ta, thấy chính ông và toàn thế giới, mười loại chúng sinh, đều là thấy màng mắt. Cái không phải là thấy màng mắt mới là chân tính của cái thấy. Tính ấy không phải là màng mắt, nên không gọi là thấy (bệnh).’
‘A Nan, như đồng phân vọng kiến của chúng sinh. Hãy so sánh vọng kiến của một người mắt bệnh kia với cả nước đó. Bóng tròn mà người kia thấy là do vọng tưởng của màng mắt sinh ra. Những điềm chẳng lành mà cả chúng đồng phận thấy là do chướng khí ác trược trong nghiệp thấy đồng phận sinh ra. Cả hai đều sinh ra từ vọng kiến vô thủy. So sánh ba ngàn châu trong Diêm Phù Đề, bao gồm bốn biển lớn và thế giới Ta Bà, cùng tất cả các nước hữu lậu và chúng sinh trong mười phương. Tất cả đều là diệu tâm vô lậu cùa giác minh. Kiến, văn, giác, tri là duyên bệnh hư vọng, hòa hợp mà vọng sinh, hòa hợp mà vọng diệt. Nếu có thể xa lìa tất cả các duyên hòa hợp và không hòa hợp, thì diệt trừ được mọi nguyên nhân sinh tử. Viên mãn tính Bồ Đề bất sinh diệt, bản tâm thanh tịnh, bản giác thường trụ.’
‘A Nan, tuy ông trước đây đã ngộ bản giác là diệu minh, tính ấy chẳng phải nhân duyên cũng chẳng phải tự nhiên. Nhưng ông chưa hiểu rõ nguồn gốc của giác này chẳng phải hòa hợp cũng chẳng phải không hòa hợp. A Nan, nay ta lại dùng trần cảnh bên ngoài hỏi ông. Ông nay vẫn còn nghi ngờ bản thân với những vọng tưởng thế gian về hòa hợp và các tính nhân duyên. Khi thấy tâm Bồ Đề sinh ra do hòa hợp, thì cái thấy tinh diệu thanh tịnh hiện tại của ông hòa với sáng, hòa với tối, hòa với thông, hay hòa với tắc? Nếu hòa với sáng, hãy nhìn cái sáng; khi cái sáng hiện ra, cái thấy nương đâu mà hòa? Tướng của cái thấy có thể phân biệt; hình trạng hòa tạp là thế nào? Nếu không phải là thấy, sao ông thấy được sáng? Nếu là thấy, sao ông lại thấy cái thấy? Nếu cái thấy viên mãn, thì hòa với sáng ở chỗ nào? Nếu cái sáng viên mãn, thì không khớp với sự hòa hợp của cái thấy. Cái thấy ắt phải khác với cái sáng; nếu hòa tạp thì mất tên gọi tính sáng kia. Hòa tạp thì mất tính sáng, và sự hòa hợp của cái sáng không có ý nghĩa. Tối, thông và các thứ ngăn ngại cũng lại như vậy.’
‘Lại nữa A Nan, cái thấy tinh diệu thanh tịnh hiện tại của ông hợp với sáng, hợp với tối, hợp với thông, hay hợp với tắc? Nếu hợp với sáng, thì khi tối đến, tướng sáng đã diệt. Cái thấy này không hợp với tối; sao ông thấy được tối? Nếu khi thấy tối, nó không hợp với tối, mà lại hợp với sáng, thì không nên thấy sáng. Đã không thấy sáng, sao có thể hợp với sáng? Hiểu rằng sáng không phải là tối, thì tối, thông và các thứ ngăn ngại cũng lại như vậy.’
A Nan bạch Phật: ‘Bạch Thế Tôn, khi con suy nghĩ về nguồn gốc của diệu giác này, nó không hòa hợp với các duyên trần cảnh và vọng tưởng.’
Phật bảo: ‘Ông nay lại nói giác chẳng phải là hòa hợp. Ta lại hỏi ông: cái thấy tinh diệu không hòa hợp này, là không hòa hợp với sáng, không hòa hợp với tối, không hòa hợp với thông, hay không hòa hợp với tắc? Nếu không hòa hợp với sáng, thì cái thấy và cái sáng ắt phải có ranh giới. Hãy nhìn kỹ: đâu là sáng và đâu là thấy? Ranh giới giữa thấy và sáng ở đâu? A Nan, nếu trong ranh giới của sáng nhất định không có cái thấy, thì hai cái không chạm nhau. Tự nhiên ông không biết tướng sáng ở đâu; làm sao thành lập ranh giới? Tối, thông và các thứ ngăn ngại cũng lại như vậy.’
‘Lại nữa, tính thấy vi diệu không hòa hợp kia, là không hợp với sáng, không hợp với tối, không hợp với thông, hay không hợp với tắc? Nếu không hợp với sáng, thì tính thấy và tính sáng trái ngược nhau, như tai và ánh sáng, hoàn toàn không chạm nhau. Cái thấy thậm chí không biết tướng sáng ở đâu; làm sao phân biệt sự hợp và sáng là hợp lý? Tối, thông và các thứ ngăn ngại cũng lại như vậy.’
‘A Nan, ông vẫn chưa hiểu rằng tất cả phù trần và các tướng huyễn hóa đều sinh ra ngay tại chỗ và diệt đi ngay tại chỗ; huyễn vọng gọi là tướng. Tính của nó thực sự là thân diệu giác minh. Như vậy, ngay cả Ngũ Uẩn và Lục Nhập, từ Mười Hai Xứ đến Mười Tám Giới, đều do nhân duyên hòa hợp mà hư vọng sinh ra, và do nhân duyên biệt ly mà hư vọng gọi là diệt. Ông tuyệt đối không thể biết sự đến đi của sinh diệt. Như Lai Tạng bản tính thường trụ diệu minh. Bản tính chân như nhiệm màu bất động cùng khắp. Tìm cầu sự đến đi, mê ngộ, sinh tử trong bản tính chân thường thì trọn không thể được.’
‘A Nan, tại sao Ngũ Uẩn vốn là tính chân như nhiệm màu của Như Lai Tạng? A Nan, ví như có người dùng mắt thanh tịnh nhìn bầu trời quang đãng; chỉ có một hư không, không có vật gì khác. Người ấy vô cớ không chớp mắt nhìn trân trân cho đến khi mỏi mệt. Liền thấy trong hư không riêng có hoa đốm, và các thứ tướng cuồng loạn không thật. Nên biết Sắc Uẩn cũng lại như vậy. A Nan, hoa đốm hư không này chẳng phải từ không đến, cũng chẳng phải từ mắt ra. Như vậy, A Nan, nếu từ hư không đến, đã từ hư không đến thì phải trở vào hư không. Nếu có ra vào thì chẳng phải là hư không. Nếu hư không chẳng không, thì tự nhiên không dung chứa hoa sinh diệt. Như thân A Nan không dung chứa một A Nan khác. Nếu từ mắt ra, đã từ mắt ra thì phải trở vào mắt. Tính của hoa này từ mắt ra, nên phải có cái thấy. Nếu có cái thấy, thì khi đi ra có hoa giữa hư không; khi trở về phải thấy con mắt. Nếu không có cái thấy, thì đi ra làm mờ hư không, trở về phải làm mờ mắt. Hơn nữa, khi thấy hoa, mắt không được bị che lấp. Tại sao gọi trời quang là mắt thanh tịnh? Do đó nên biết, Sắc Uẩn là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên cũng chẳng phải tự nhiên.’
‘Này A Nan, ví như có người, tay chân an ổn, trăm xương điều hòa, không có gì trái nghịch. Người ấy bỗng dưng thu nhiếp hai bàn tay cọ xát mãi vào nhau trong hư không. Trong hai tay vọng sanh ra tướng sáp, trơn, lạnh, nóng. Ông nên biết Thọ Ấm cũng giống như vậy. A Nan, những xúc chạm hư ảo này không đến từ hư không, cũng không ra từ bàn tay. Này A Nan, nếu đến từ hư không, vì đã chạm vào bàn tay, tại sao không chạm vào thân thể? Hư không không lẽ lại chọn nơi để chạm? Nếu ra từ bàn tay, thì không cần đợi hai tay hợp lại. Hơn nữa, nếu ra từ bàn tay, thì khi hợp lại lòng bàn tay đã biết, khi rời ra xúc chạm ấy phải quay về nơi lòng bàn tay. Cánh tay, cổ tay, xương và tủy cũng phải biết dấu vết ra vào ấy. Lại phải có cái tâm biết sự ra vào, là vật vãng lai trong thân thể. Tại sao đợi hai tay hợp lại mới biết và gọi đó là xúc chạm? Do đó nên biết Thọ Ấm là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.’
‘A Nan, ví như người nói đến quả mơ chua thì trong miệng nước miếng chảy ra. Nghĩ đến việc đạp lên vách núi treo leo thì lòng bàn chân ghê rợn. Ông nên biết Tưởng Ấm cũng giống như vậy. A Nan, tiếng nói chua ấy không từ quả mơ sinh ra, cũng chẳng phải từ miệng vào. A Nan, như vậy, nếu từ quả mơ sinh ra, thì quả mơ phải tự nói; sao lại đợi người nói? Nếu từ miệng vào, thì miệng phải tự nghe được phân biệt; sao lại đợi tai? Nếu một mình tai nghe được, sao nước miếng không chảy ra từ tai? Nghĩ đến việc đạp lên vách núi cũng giống như việc nói kia. Do đó nên biết Tưởng Ấm là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.’
‘Này A Nan, ví như dòng nước xiết, các lớp sóng nối tiếp nhau, lớp trước lớp sau không vượt qua nhau. Ông nên biết Hành Ấm cũng giống như vậy. Này A Nan, tánh của dòng chảy này không sanh từ hư không, cũng chẳng phải do nước mà có. Chẳng phải là tánh nước, cũng chẳng rời hư không và nước. Như vậy, A Nan, nếu sanh từ hư không, thì hư không vô tận trong mười phương sẽ thành dòng chảy vô tận, và thế giới tự nhiên sẽ bị nhấn chìm. Nếu do nước mà có, thì tánh của dòng nước xiết này chẳng phải là nước; có tướng hữu, thì ngày nay phải hiện tiền. Nếu là tánh nước, thì khi trong lặng đứng yên, lẽ ra không phải là thể nước. Nếu rời hư không và nước, thì hư không chẳng có bên ngoài; ngoài nước chẳng có dòng chảy. Do đó nên biết Hành Ấm là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.’
‘Này A Nan, ví như có người lấy cái bình Tần Già, bịt kín hai lỗ lại, chứa đầy hư không trong đó, đem đi ngàn dặm để tặng cho nước khác. Ông nên biết Thức Ấm cũng giống như vậy. Này A Nan, hư không ấy không từ phương kia đến, cũng chẳng nhập vào phương này. Như vậy A Nan, nếu từ phương kia đến, thì cái bình đã đựng hư không đi rồi, lẽ ra nơi để cái bình cũ phải thiếu hư không. Nếu nhập vào phương này, thì khi mở lỗ chút ngược bình, lẽ ra phải thấy hư không đi ra. Do đó nên biết Thức Ấm là hư vọng, vốn chẳng phải tánh nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.’
Bạch Thoại Lăng Nghiêm Kinh Quyển 2
Lúc bấy giờ, A Nan và đại chúng, nghe lời Phật dạy, thân tâm đều được thư thái. Họ nhớ lại từ vô thủy đã đánh mất bản tâm, vọng nhận bóng dáng duyên trần làm sự phân biệt của chính mình. Ngày nay họ được khai ngộ, như đứa trẻ lạc đường bỗng gặp lại người mẹ từ bi. Họ chắp tay đảnh lễ Phật, mong muốn được nghe Như Lai hiển bày tánh của thân tâm, cái chân và cái vọng, cái hư và cái thật, cái sanh diệt và cái không sanh diệt.
Từ rất lâu về trước, có một nhóm người đang lắng nghe lời Phật dạy. Trong số đó có tôn giả A Nan cùng nhiều thính chúng khác. Sau khi nghe lời Phật dạy, họ cảm thấy vô cùng an lạc và hoan hỷ. Họ chợt nhận ra bấy lâu nay mình đã bỏ quên chân tâm mà cứ mãi mê mờ theo ngoại cảnh. Cảm giác này giống như đứa trẻ lạc đường cuối cùng cũng tìm lại được người mẹ hiền yêu thương. Mọi người đều rất xúc động và lần lượt đảnh lễ Phật. Họ muốn biết rõ hơn về cái gì là thật, cái gì là hư ảo, cái gì là vĩnh hằng và cái gì là vô thường.
Vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật rằng: “Trước khi con được nghe lời Phật dạy, con đã gặp Ca Chiên Diên và Tỳ La Chi Tử, cả hai đều nói rằng thân này sau khi chết là đoạn diệt, và gọi đó là Niết Bàn. Tuy con đã gặp Phật, nhưng vẫn còn nghi ngờ. Làm sao để chứng ngộ được cảnh giới của tâm này là không sanh không diệt? Xin Ngài hãy vì những người còn hữu lậu trong đại chúng này mà tuyên thuyết.”
Lúc này, một vị vua tên là Ba Tư Nặc đứng dậy. Ông bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, con từng nghe giáo pháp từ các vị thầy khác. Họ nói rằng sau khi chết là không còn gì cả, và đó gọi là Niết Bàn. Tuy nay con đã gặp Ngài, nhưng trong lòng vẫn còn chút nghi hoặc. Ngài có thể chỉ cho chúng con làm sao để chắc chắn rằng tâm của chúng ta là vĩnh hằng và bất diệt không? Con nghĩ mọi người ở đây đều muốn biết câu trả lời.”
Phật bảo Đại vương: “Thân thể Đại vương hiện đang tồn tại. Ta hỏi Đại vương: Thân thịt của ông là như kim cương thường trụ bất diệt, hay là biến đổi và hư hoại?”
Đức Phật nghe xong, mỉm cười và bảo Vua: “Đại vương, chúng ta hãy tìm hiểu về thân thể hiện tại của ông. Ông cảm thấy thân thể mình rắn chắc và vĩnh cửu như kim cương, hay nó đang từ từ già đi và thay đổi?”
“Bạch Thế Tôn, cái thân này của con rốt cuộc rồi sẽ biến đổi và tiêu diệt.”
Vua trả lời: “Bạch Phật, thân thể con tất nhiên là đang từ từ già đi và thay đổi.”
Phật nói: “Đại vương, ông chưa diệt, làm sao biết mình sẽ diệt?”
Đức Phật hỏi lại: “Vậy thì, ông chưa chết, làm sao ông biết cái chết là như thế nào?”
“Bạch Thế Tôn, thân vô thường biến hoại này của con tuy chưa diệt, nhưng con quan sát hiện tại, niệm niệm dời đổi, mãi mãi không dừng, như lửa thành tro, dần dần tiêu mòn, tàn tạ không ngừng. Con quyết biết thân này rồi sẽ diệt tận.”
Vua giải thích: “Tuy con chưa trải qua cái chết, nhưng con có thể quan sát thấy thân thể mình không ngừng thay đổi. Như lửa từ từ hóa thành tro, con biết rằng một ngày nào đó thân thể này sẽ tan biến.”
Phật nói: “Đúng vậy, Đại vương. Nay ông đã già yếu. Dung mạo của ông so với khi còn bé thì như thế nào?”
Đức Phật gật đầu và hỏi tiếp: “Đại vương, dung mạo của ông bây giờ có khác với khi ông còn bé không?”
“Bạch Thế Tôn, khi con còn bé, da dẻ nhuận trạch. Khi trưởng thành, khí huyết đầy đủ. Nay tuổi đã xế chiều, thân hình khô héo, tinh thần uể oải, tóc bạc mặt nhăn. Chẳng còn bao lâu nữa. Làm sao có thể so sánh với khi đang thời sung mãn?”
Vua hồi tưởng: “Ôi, bạch Phật, da dẻ con thật mềm mại khi con còn bé! Khi lớn lên, con tráng kiện và tràn đầy sức sống. Nhưng bây giờ thì sao? Con già yếu, tinh thần không còn minh mẫn như trước. Tóc con bạc, mặt con nhăn, và con cảm thấy ngày cuối đời không còn xa. Làm sao con có thể so sánh với khi mình còn trẻ?”
Phật nói: “Đại vương, dung mạo của ông không phải suy tàn ngay tức khắc.”
Đức Phật nói nhẹ nhàng: “Đại vương, sự thay đổi dung mạo của ông hẳn là diễn ra từ từ, chứ không phải già đi ngay lập tức, đúng không?”
Vua nói: “Bạch Thế Tôn, sự thay đổi ấy âm thầm dời đổi, con thật không hay biết. Thời gian qua đi dần dần khiến con đến nông nỗi này. Tại sao? Khi con hai mươi tuổi, tuy vẫn còn trẻ, nhưng mặt mày đã già hơn khi mười tuổi. Khi ba mươi tuổi, lại già hơn khi hai mươi. Nay sáu mươi hai tuổi, nhìn lại khi năm mươi, lúc đó vẫn còn khỏe mạnh. Bạch Thế Tôn, con thấy sự dời đổi âm thầm này; tuy sự suy tàn này đã diễn ra, nhưng sự trôi chảy và thay đổi của nó hạn cuộc trong mười năm. Nếu con suy nghĩ tinh tế hơn, sự thay đổi không chỉ trong một hai kỷ (mười hai năm); thực ra nó thay đổi từng năm. Không chỉ thay đổi từng năm, mà còn thay đổi từng tháng. Không chỉ thay đổi từng tháng, mà còn thay đổi từng ngày. Chiêm nghiệm sâu xa, sát na (khoảnh khắc) đều biến đổi, niệm niệm không dừng. Vì vậy con biết thân con rốt cuộc sẽ biến đổi và diệt vong.”
Vua nghe Phật nói xong, trầm ngâm trả lời: “Bạch Phật, Ngài nói đúng. Sự thay đổi này diễn ra lặng lẽ, con thậm chí không nhận ra. Như sự thay đổi của bốn mùa, nó từ từ trở thành như bây giờ. Ngài biết không? Khi con hai mươi tuổi, tuy còn trẻ, nhưng mặt đã già hơn khi mười tuổi. Khi ba mươi tuổi, con trông già hơn nhiều so với hai mươi. Nay con sáu mươi hai tuổi, và trông già hơn khi năm mươi. Nhớ lại khi năm mươi, con cảm thấy lúc đó mình khá khỏe mạnh.” Vua tiếp tục: “Giờ con hiểu rồi, sự thay đổi này tuy chậm, nhưng thực ra mỗi mười năm đều có sự khác biệt rõ rệt. Nếu nghĩ kỹ, có lẽ mỗi năm, mỗi tháng, hay thậm chí mỗi ngày đều đang thay đổi. Nếu quan sát kỹ, nó thay đổi từng khoảnh khắc, không bao giờ dừng lại. Vì vậy con biết rằng thân thể con cuối cùng sẽ biến mất.”
Phật nói: “Đại vương, ông thấy sự biến hóa và dời đổi không dừng ấy mà ngộ ra sự diệt vong của mình. Nhưng ngay trong khi diệt vong, ông có biết trong thân ông có cái gì không diệt vong chăng?”
Phật nghe xong hỏi nhẹ nhàng: “Đại vương, ông thấy những thay đổi trong thân thể mình và biết nó cuối cùng sẽ tàn phai. Vậy, ông có bao giờ nghĩ xem trong thân ông có cái gì sẽ không biến mất không?”
Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: “Con thật không biết.”
Vua chắp tay đáp: “Bạch Phật, con thật sự không biết.”
Phật nói: “Nay Ta sẽ chỉ cho ông cái tánh không sanh không diệt. Đại vương, năm bao nhiêu tuổi ông thấy sông Hằng?”
Đức Phật mỉm cười nói: “Vậy thì, để Ta nói cho ông biết cái tánh vĩnh hằng bất diệt là gì. Đại vương, ông còn nhớ lần đầu tiên ông thấy sông Hằng là khi nào không?”
Vua nói: “Khi con ba tuổi, mẹ từ bi dẫn con đi bái yết Kỳ Bà Thiên (Thần Trường Thọ). Chúng con đi qua sông này, lúc ấy mới biết là sông Hằng.”
Vua nhớ lại: “Khi con ba tuổi, mẹ đưa con đi thăm đền thờ thần Kỳ Bà. Chúng con đi ngang qua sông Hằng, và lúc đó con biết đó là sông Hằng.”
Phật nói: “Đại vương, như ông đã nói, hai mươi tuổi thì già hơn mười tuổi. Cho đến sáu mươi tuổi, ngày tháng năm qua đi, niệm niệm đều dời đổi. Khi ông ba tuổi thấy sông này, so với khi mười ba tuổi thì dòng nước như thế nào?”
Phật hỏi tiếp: “Vậy, từ khi ông thấy sông Hằng lúc ba tuổi cho đến khi ông mười ba tuổi, nước sông có thay đổi không?”
Vua nói: “Y hệt như khi con ba tuổi, không có gì khác. Đến nay con sáu mươi hai tuổi, cũng vẫn không khác.”
Vua trả lời: “Không, nó y hệt như khi con thấy lúc ba tuổi. Cho đến giờ, sáu mươi hai tuổi, sông Hằng mà con thấy vẫn không thay đổi.”
Phật nói: “Nay ông than tóc bạc mặt nhăn. Mặt ông chắc chắn nhăn hơn lúc trẻ. Nhưng nay khi ông nhìn sông Hằng này, cái thấy (kiến) của ông có khác với cái thấy khi ông nhìn sông lúc còn bé không? Có cái thấy già hay cái thấy trẻ không?”
Đức Phật gật đầu hỏi lại: “Ông nói bây giờ tóc ông bạc và mặt ông nhăn. Vậy, có sự khác biệt nào giữa ‘cái thấy’ khi ông nhìn sông Hằng bây giờ và ‘cái thấy’ khi ông nhìn sông Hằng lúc nhỏ không? Có sự khác biệt giữa già và trẻ không?”
Vua nói: “Không, bạch Thế Tôn.”
Vua nghĩ một lát rồi đáp: “Không có gì khác biệt, bạch Phật.”
Phật nói: “Đại vương, tuy mặt ông nhăn, nhưng tánh thấy (kiến tinh) này chưa từng nhăn. Cái nhăn thì biến đổi, cái không nhăn thì không biến đổi. Cái biến đổi thì chịu sự hoại diệt, cái không biến đổi thì vốn không sanh không diệt. Sao nó lại chịu sự sanh tử của ông? Tại sao ông còn dẫn lời của Mặc Già Lê (Lê Câu Chi Tử - Maskari Goshaliputra) và những người khác nói rằng thân này chết rồi là hoàn toàn đoạn diệt?”
Đức Phật vui vẻ nói: “Hãy nhìn xem, Đại vương. Tuy mặt ông có nếp nhăn, nhưng tánh ’thấy’ mọi vật của ông chưa từng thay đổi. Cái bị nhăn nheo thì thay đổi, cái không bị nhăn nheo thì không thay đổi. Cái thay đổi rốt cuộc sẽ biến mất, còn cái không thay đổi thì không có sanh hay tử. Đã vậy thì tại sao phải lo lắng về cái chết? Tại sao tin vào những lời nói rằng sau khi chết là không còn gì cả?”
Nghe lời này rồi, Vua tin biết rằng sau khi bỏ thân này, sẽ qua thân khác. Ông và đại chúng vui mừng hớn hở vì được điều chưa từng có.
Nghe những lời này từ Đức Phật, Vua và mọi người có mặt cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Cuối cùng họ đã hiểu rằng dù thân xác có già đi và phai tàn, vẫn có một tánh vĩnh hằng không bao giờ thay đổi.
A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Phật, chắp tay quỳ gối bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, nếu cái thấy nghe này quả thật là không sanh không diệt, tại sao Thế Tôn lại nói chúng con đã đánh mất chân tánh và hành động điên đảo? Cầu mong Ngài khởi lòng từ bi, rửa sạch bụi nhơ cho chúng con.”
Sau khi nghe lời Phật dạy, A Nan vẫn còn chút nghi hoặc trong lòng. Tôn giả đứng dậy, cung kính đảnh lễ Phật, rồi quỳ xuống nói: “Bạch Phật, nếu tánh thấy nghe của chúng con là không sanh không diệt, tại sao Ngài lại nói chúng con đã đánh mất chân tánh và làm những việc sai trái đảo điên? Xin Ngài từ bi giải đáp, rửa sạch sự mê lầm trong lòng chúng con.”
Tức thì Như Lai duỗi cánh tay sắc vàng, năm ngón tay chỉ xuống dưới, thị hiện cho A Nan thấy và phán rằng: “Ông thấy tay của Như Lai đang để xuôi hay để ngược?”
Đức Phật nghe xong mỉm cười hiền từ. Ngài duỗi cánh tay vàng ròng, úp lòng bàn tay xuống và bảo A Nan: “A Nan, hãy nhìn tay của ta, là thuận hay là nghịch?”
A Nan nói: “Chúng sinh trong thế gian coi đây là nghịch, nhưng con không biết cái gì là thuận và cái gì là nghịch.”
A Nan bối rối trả lời: “Bạch Thế Tôn, người phàm có thể nói đây là nghịch, nhưng con không biết cái gì là thuận và cái gì là nghịch.”
Đức Phật bảo A Nan: “Nếu người thế gian coi đây là nghịch, thì người thế gian coi cái gì là thuận?”
Đức Phật lại hỏi: “Vậy thì, nếu người đời nghĩ đây là nghịch, họ nghĩ cái gì là thuận?”
A Nan nói: “Khi Như Lai đưa cánh tay lên và bàn tay Đâu La Miên chỉ lên hư không, đó gọi là thuận.”
A Nan suy nghĩ một lúc rồi nói: “Nếu lòng bàn tay của Ngài hướng lên trên và cánh tay thẳng chỉ lên trời, đó hẳn là thuận.”
Đức Phật liền đưa cánh tay lên và bảo A Nan: “Nếu sự điên đảo này chỉ là sự hoán đổi đầu đuôi, thì người thế gian đối đãi với nó bằng cái nhìn hai chiều. Ông nên biết rằng thân của ông và Pháp thân thanh tịnh của chư Như Lai cũng được so sánh như vậy. Thân Như Lai gọi là ‘Chính Biến Tri’; thân của các ông gọi là ‘Tính Điên Đảo’. Khi ông xem xét kỹ thân ông và thân Phật, rốt cuộc sự điên đảo nằm ở đâu?”
Đức Phật nghe xong, bèn đưa thẳng cánh tay lên và bảo A Nan: “Hãy nhìn xem, chỉ cần lật lại như thế này, người đời sẽ nhìn nó khác đi. Thực ra, thân ông và thân Phật về bản chất là giống nhau. Thân Phật gọi là Chính Biến Tri, trong khi thân ông gọi là Tính Điên Đảo. Nhìn kỹ xem, rốt cuộc sự điên đảo nằm ở đâu?”
Lúc bấy giờ, A Nan và đại chúng nhìn Đức Phật không chớp mắt, không biết sự điên đảo của thân tâm nằm ở đâu. Đức Phật khởi lòng từ bi, thương xót A Nan và đại chúng. Ngài phát ra âm thanh như tiếng hải triều và bảo đại chúng: “Này các thiện nam tử, ta luôn nói rằng sắc, tâm, và mọi nhân duyên, cũng như các pháp do tâm tạo tác, đều là sự biểu hiện của tâm. Thân ông và tâm ông đều là vật hiện ra trong tâm diệu, minh, chân, tinh, diệu. Tại sao các ông đánh mất tâm bản lai diệu viên diệu minh và tánh bảo minh diệu? Nhận lầm mê lầm trong sự giác ngộ, các ông lầm tưởng sự tối tăm là hư không. Trong hư không tối tăm, các ông kết sự tối tăm lại thành sắc. Sắc pha trộn với vọng tưởng, hình tướng của tưởng trở thành thân. Tụ tập các duyên lay động bên trong, rong ruổi ra bên ngoài. Các ông lấy sự xáo động mê lầm này làm tâm tánh của mình. Một khi đã lầm về nó là tâm, các ông quyết định rằng nó nằm trong thân xác. Các ông không biết rằng núi, sông, hư không và đại địa bên ngoài thân xác đều là vật trong tâm diệu minh chân thật. Giống như bỏ trăm ngàn biển lớn trong xanh mà chỉ nhận một bọt nước nổi là toàn bộ đại dương, bỏ sót vùng nước mênh mông. Các ông là những người mê lầm chồng chất trong mê lầm. Chẳng khác gì bàn tay buông thõng của ta. Như Lai nói các ông thật đáng thương.”
A Nan và mọi người có mặt đều mở to mắt nhìn Đức Phật, nhất thời không biết trả lời thế nào, cũng không hiểu thân tâm mình điên đảo ở đâu. Đức Phật thấy sự bối rối của mọi người, trong lòng cảm thấy từ bi, bèn nói với mọi người bằng giọng nhẹ nhàng: “Này những người tốt, ta thường nói rằng mọi thứ chúng ta nhìn thấy, bao gồm cả thân và tâm ta, đều do chân tâm của ta biểu hiện. Làm sao các ông có thể quên đi chân tâm diệu viên này? Các ông lấy sự mê lầm làm thực tại, và lấy bóng tối hư không làm vật chất đặc. Các ông lầm tưởng những suy nghĩ và cảm xúc khác nhau là con người thật của mình, và bị bối rối bởi những vật bên ngoài. Các ông nghĩ rằng tâm ở trong thân, nhưng không biết rằng núi, sông, đại địa, và toàn bộ vũ trụ đều tồn tại trong chân tâm của các ông.”
Đức Phật bèn dùng một ví dụ: “Điều này giống như một người đối mặt với đại dương bao la, nhưng chỉ nhìn thấy một bọt nước nhỏ, và nghĩ rằng đó là toàn bộ đại dương. Các ông bây giờ giống như những người đặc biệt mê lầm, cũng giống như khi ta úp lòng bàn tay xuống vừa rồi, không biết cái gì là thuận và cái gì là nghịch. Điều này thật đau lòng.”
A Nan, sau khi nhận được sự cứu độ từ bi và giáo pháp sâu sắc của Đức Phật, đã khóc, chắp tay và bạch Phật: “Mặc dù con đã nhận được âm thanh vi diệu như vậy từ Đức Phật và ngộ ra tâm diệu minh vốn tròn đầy và thường trụ nơi tâm địa. Nhưng khi con ngộ ra Pháp âm hiện tại của Đức Phật, con đang dùng tâm phan duyên để ngưỡng mộ nó. Con chỉ mới đạt được tâm này và không dám nhận nó là tâm địa bản lai. Cúi xin Đức Phật thương xót chúng con mà tuyên thuyết viên âm, nhổ sạch gốc rễ nghi ngờ của con và đưa con trở về Vô Thượng Đạo.”
A Nan nghe xong lời dạy của Đức Phật. Ông cung kính bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, mặc dù con hiểu rằng tâm diệu minh mà Ngài nói đến là viên mãn và thường hằng, nhưng con vẫn đang dùng tâm phân biệt của mình để hiểu lời dạy của Ngài. Con không dám chắc rằng đây là bản tâm mà Ngài nói đến. Xin Ngài từ bi giải thích lại cho con, để giúp con loại bỏ nghi ngờ và nhận ra chân lý tối thượng.”
Đức Phật bảo A Nan: “Ông vẫn đang nghe Pháp bằng tâm phan duyên. Pháp này khi đó cũng là phan duyên và ông chưa đắc được Pháp tánh. Ví như có người dùng ngón tay chỉ trăng để cho người khác thấy. Người đó nên nhìn trăng nương theo ngón tay. Nếu người ấy nhìn ngón tay và coi đó là mặt trăng, thì người này không chỉ đánh mất mặt trăng mà còn đánh mất cả ngón tay. Tại sao? Vì người ấy lấy ngón tay chỉ làm mặt trăng sáng. Không những đánh mất ngón tay, mà người ấy còn không nhận biết được sáng và tối. Tại sao? Vì người ấy lấy thể của ngón tay làm tánh sáng của mặt trăng, và không hiểu hai tánh sáng và tối. Ông cũng như vậy. Nếu ông lấy sự phân biệt pháp âm của ta làm tâm của ông, thì tâm này phải có tánh phân biệt rời khỏi âm thanh được phân biệt. Ví dụ, nếu khách trọ ở quán trọ, người ấy tạm dừng chân rồi rời đi, không bao giờ ở lại vĩnh viễn. Nhưng chủ quán trọ thì không có nơi nào để đi; tên của ông ta là chủ quán. Điều này cũng vậy. Nếu đó thực sự là tâm của ông, nó không có nơi nào để đi. Tại sao nó không có tánh phân biệt khi rời khỏi âm thanh? Không chỉ đúng đối với tâm phân biệt âm thanh; sự phân biệt hình tướng của ta cũng không có tánh phân biệt khi rời khỏi các sắc tướng. Và ngay cả khi không có sự phân biệt, không phải sắc cũng không phải không, như Gośāla và những người khác mê lầm về chân lý mờ mịt, rời khỏi các pháp và nhân duyên, thì không có tánh phân biệt. Vậy thì tâm tánh của ông trong mỗi trường hợp đều trở về với cái khác. Làm sao nó có thể là chủ nhân?”
Đức Phật nhìn A Nan một cách nhân từ và giải thích kiên nhẫn: “A Nan, ông vẫn đang nghe Pháp bằng tâm phân biệt. Pháp nghe thheo cách này chỉ là hời hợt và không thực sự hiểu được cốt tủy của Pháp. Hãy để ta dùng một ví dụ để giải thích:”
Hãy tưởng tượng có người dùng ngón tay chỉ lên mặt trăng để cho người khác xem. Người xem nên nhìn vào mặt trăng theo hướng của ngón tay. Nhưng nếu người này chỉ nhìn chằm chằm vào ngón tay và nghĩ rằng ngón tay là mặt trăng, thì anh ta không chỉ không thấy được mặt trăng thật, mà còn hiểu sai chức năng của ngón tay. Tại sao? Vì anh ta lầm tưởng ngón tay chỉ là mặt trăng."
Người như vậy không chỉ lầm lẫn chức năng của ngón tay, mà thậm chí còn nhầm lẫn sáng và tối. Tại sao? Vì anh ta coi ngón tay là ánh sáng của mặt trăng, và kết quả là, anh ta bối rối về cái gì là sáng và cái gì là tối."
A Nan, tình trạng của ông bây giờ cũng như vậy. Nếu ông nghĩ rằng cái tâm có thể phân biệt âm thanh lời dạy của ta là chân tâm của ông, thì tâm này phải có khả năng rời khỏi âm thanh mà vẫn duy trì khả năng phân biệt."
Để ta đưa ra một ví dụ khác: giống như một lữ khách ở trong quán trọ, anh ta chỉ ở tạm thời và sẽ sớm rời đi, không ở đó mãi mãi. Nhưng người quản lý quán trọ sẽ không rời đi; chúng ta gọi ông ấy là chủ quán."
Cũng theo lẽ đó, nếu đó là chân tâm của ông, nó không nên thay đổi theo những thay đổi bên ngoài. Tuy nhiên, tại sao khả năng phân biệt của ông lại biến mất khi âm thanh biến mất?"
Không chỉ vậy, khi ông phân biệt hình dáng của ta, nếu ông rời khỏi sắc tướng, khả năng phân biệt của ông cũng sẽ biến mất. Ngay cả khi ông không phân biệt gì cả, rời khỏi sắc và không, tâm ông vẫn không có tự tánh. Giống như một số ngoại đạo hiểu lầm trạng thái này là chân lý tối thượng."
Nếu tâm ông như thế này, thì nó luôn phụ thuộc vào những thứ bên ngoài để tồn tại. Làm sao một cái tâm như vậy có thể được gọi là chủ nhân?"
Thông qua những ví dụ sinh động này, Đức Phật muốn nói với A Nan và mọi người: cái tâm mà chúng ta thường nghĩ đến thực chất là thứ thay đổi theo thế giới bên ngoài, không phải là chân tánh. Chân tánh phải là bất biến và độc lập với thế giới bên ngoài. Hiểu được điều này là rất quan trọng để chúng ta nhận ra chân tánh của mình.
A Nan nói: “Nếu tâm tánh của con trong mỗi trường hợp đều trở về với cái khác, tại sao diệu minh bản tâm mà Như Lai nói đến lại không có nơi để trở về? Xin Ngài từ bi giải thích điều này cho con.”
A Nan nghe xong lại hỏi: “Nếu tâm tánh của con thay đổi theo môi trường bên ngoài, thì tại sao diệu minh bản tâm mà Ngài nói đến lại không thay đổi?”
Đức Phật bảo A Nan: “Hãy nhìn cái tinh thể trong cái thấy của ta. Mặc dù cái thấy này không phải là diệu tinh của diệu minh tâm, nhưng nó giống như mặt trăng thứ hai, không phải là bóng của mặt trăng. Ông hãy nghe cho kỹ; nay ta sẽ chỉ cho ông chỗ không có sự trở về. A Nan, giảng đường lớn này mở rộng về phía đông. Khi mặt trời mọc trên bầu trời, thì có ánh sáng. Vào nửa đêm, khi mặt trăng vô nghĩa và mây mù mờ mịt, thì tối tăm. Qua các khe hở của cửa ra vào và cửa sổ, thì có cái thấy sự thông suốt. Giữa tường và mái hiên, thì có cái thấy sự ngăn bít. Nơi nào có sự phân biệt, thì có cái thấy các duyên. Trong hư không mờ mịt, thì có sự trống rỗng khắp nơi. Nơi có bụi và hơi nước, thì hòa lẫn với bụi bặm hỗn loạn. Khi mưa tạnh và không khí lắng xuống, lại thấy sự thanh tịnh. A Nan, ông nhìn tất cả những tướng biến đổi này. Nay ta sẽ đưa mỗi tướng trở về nguyên nhân gốc của nó. Nguyên nhân gốc là gì? A Nan, trong những biến đổi này, ánh sáng trở về với mặt trời. Tại sao? Không có mặt trời thì không có ánh sáng; nguyên nhân của ánh sáng thuộc về mặt trời, nên nó trở về với mặt trời. Bóng tối trở về với trăng tối. Sự thông suốt trở về với cửa ra vào và cửa sổ. Sự ngăn bít trở về với tường và mái hiên. Các duyên trở về với sự phân biệt. Hư không mờ mịt trở về với sự trống rỗng. Bụi và hơi nước trở về với bụi bặm. Sự trong sáng trở về với thời tiết tạnh ráo. Mọi sự hiện hữu trên thế gian không ra ngoài các loại này. Ông thấy tám loại tánh thấy thanh tịnh; chúng nên trở về với ai? Tại sao? Nếu nó trở về với ánh sáng, thì khi không sáng, sẽ không có cái thấy bóng tối. Mặc dù có những sự khác biệt như sáng và tối, nhưng cái thấy không có sự khác biệt. Bất cứ cái gì có thể trả về được thì tự nhiên không phải là ông. Cái không thể trả về cho ông không phải là ông, thì là ai? Hãy biết rằng tâm ông vốn diệu, minh và thanh tịnh. Ông mê lầm và mờ mịt, đánh mất cái gốc và chấp nhận vòng luân hồi, trôi nổi và chìm đắm không ngừng trong sinh tử. Do đó, Như Lai gọi ông là đáng thương.”
Đức Phật tiếp tục kiên nhẫn giải thích cho A Nan: “A Nan, thấy ta bây giờ, khả năng thấy của ông chưa phải là diệu minh chân tâm tối hậu, nhưng nó cũng không phải là cái bóng hư ảo, giống như mặt trăng thứ hai không phải là mặt trăng thật, nhưng cũng không phải là bóng của mặt trăng. Giờ hãy lắng nghe kỹ, ta muốn nói với ông một sự thật sẽ không thay đổi.”
Hãy tưởng tượng chúng ta đang ở trong một giảng đường lớn, với cửa ra vào và cửa sổ mở về phía đông. Khi mặt trời mọc, ở đây trở nên sáng sủa. Vào nửa đêm, khi không có trăng và có mây mù, thì trời tối. Nhìn ra từ các khe hở ở cửa ra vào và cửa sổ, tầm nhìn thông thoáng. Nhìn vào tường, tầm nhìn bị chặn lại. Nơi có đồ vật, ông có thể nhìn thấy đồ vật. Nơi trống rỗng, là hư không. Khi bụi bay, ông sẽ thấy màu xám. Khi trời quang đãng, ông sẽ thấy sự trong trẻo trở lại."
A Nan, ông thấy những hiện tượng thay đổi này, nay ta sẽ hoàn trả chúng về nguyên nhân gốc rễ của chúng. Ông có biết những nguyên nhân này là gì không?"
- Sáng là do mặt trời; không có mặt trời sẽ không có ánh sáng, vậy ánh sáng nên được trả về cho mặt trời.
- Tối là do không có mặt trăng, nên nên được trả về cho đêm tối không trăng.
- Thông suốt là do cửa ra vào và cửa sổ, nên nên được trả về cho cửa ra vào và cửa sổ.
- Bị chặn là do bức tường, nên nên được trả về cho bức tường.
- Thấy sự vật là do tâm phân biệt, nên nên được trả về cho tâm phân biệt.
- Cảm giác trống rỗng nên được trả về cho hư không.
- Vẻ ngoài màu xám nên được trả về cho bụi bặm.
- Cảnh tượng trong sáng nên được trả về cho thời tiết tạnh ráo.
Mọi vật trên thế gian đều không thoát khỏi những loại này. Nhưng, A Nan, ông nên trả khả năng nhìn thấy tám hiện tượng này cho ai?"
Tại sao lại hỏi điều này? Nếu ông trả khả năng này cho ánh sáng, thì ông sẽ không thể nhìn thấy trong bóng tối. Nhưng thực tế, dù sáng hay tối, khả năng nhìn của ông vẫn như nhau."
Tất cả những gì có thể trả về cho cái khác đều không phải là con người thật của ông. Vậy thì, cái không thể trả về cho người khác chẳng phải là con người thật của ông sao?"
Vì vậy ông nên hiểu rằng, tâm ông vốn dĩ diệu, minh và thanh tịnh. Chỉ là ông đã bối rối và quên mất diện mạo ban đầu của mình, nên ông liên tục luân hồi trong sinh tử. Đây là lý do tại sao Như Lai nói ông thật đáng thương."
Đức Phật muốn nói với A Nan và mọi người: Chúng ta thường nhầm lẫn những vật bên ngoài là chính mình, nhưng cái tôi thực sự là sự nhận biết vĩnh cửu và bất biến đó. Hiểu được điều này là rất quan trọng để chúng ta nhận ra bản tánh chân thật của mình và thoát khỏi vòng sinh tử.
A Nan bạch: “Tuy con nhận ra rằng tánh thấy này không có nơi để trở về, nhưng làm sao con biết đó là bản tánh chân thật của con?”
A Nan dường như đã hiểu một chút, nhưng vẫn còn một số nghi ngờ: “Con hiểu rằng ‘cái thấy’ này sẽ không thay đổi, nhưng làm sao con có thể chắc chắn rằng đây là bản tánh chân thật của con?”
Đức Phật bảo A Nan: “Nay Như Lai hỏi ông. Hiện tại ông chưa đắc được sự thanh tịnh vô lậu, nhưng nhờ thần lực của Phật, ông có thể nhìn thấy cõi Sơ Thiền không ngại. A Na Luật nhìn thấy thế giới Diêm Phù Đề này như nhìn quả a ma la trong lòng bàn tay. Các vị Bồ Tát nhìn thấy hàng trăm ngàn thế giới. Các Đức Như Lai trong mười phương nhìn thấy tất cả các cõi tịnh độ nhiều như bụi trần không gì không thấy. Tầm nhìn của chúng sinh không vượt quá một tấc. A Nan, nay Ta và ông nhìn xem các cung điện nơi Tứ Thiên Vương cư ngụ. Chúng ta thấy mọi thứ ở giữa, nước, đất khô, và hư không. Mặc dù có nhiều hình ảnh khác nhau của bóng tối và ánh sáng, chúng không gì khác hơn là tàn dư của trần cảnh bên ngoài do sự phân biệt gây ra. Ở đây ông nên phân biệt giữa mình và người. Nay Ta sẽ chọn cho ông từ cái thấy của ông: Ai là thể chất của chúng ta và cái gì là vật? A Nan, hãy mở rộng nguồn gốc cái thấy của ông đến tận cùng. Từ cung điện của mặt trời và mặt trăng, đây là vật, không phải ông. Đến bảy núi vàng, hãy nhìn kỹ khắp nơi; mặc dù có nhiều loại ánh sáng khác nhau, chúng cũng là vật, không phải ông. Dần dần quan sát xa hơn: mây nổi, chim bay, gió động, bụi bay, cây cối, núi sông, cỏ, người và thú vật—tất cả đều là vật, không phải ông. A Nan, tất cả những vật xa gần này đều có tính chất vật lý. Mặc dù chúng khác nhau, nhưng tất cả đều được quan sát bởi tinh thể thấy thanh tịnh của ông. Vậy thì mọi loại vật đều có sự khác biệt của riêng chúng, nhưng tánh thấy thì không có sự khác biệt. Tinh thể sáng diệu này thực sự là tánh thấy của ông. Nếu cái thấy là một vật, thì ông cũng có thể thấy cái thấy của Ta. Nếu chúng ta thấy cùng một vật và ông gọi đó là thấy cái thấy của Ta, thì khi Ta không thấy, tại sao ông không thấy chỗ không thấy của Ta? Nếu ông thấy cái không thấy của Ta, thì đó tự nhiên không phải là đặc điểm của cái không thấy. Nếu ông không thấy chỗ không thấy của Ta, thì đó tự nhiên không phải là vật; làm sao nó không phải là ông? Hơn nữa, khi ông thấy vật bây giờ, vì ông thấy vật, vật cũng thấy ông. Nếu tánh của thể chất đều lẫn lộn, thì ông và Ta và cả thế giới không thể thành lập. A Nan, nếu khi ông thấy, đó là ông chứ không phải Ta, tánh thấy trùm khắp mọi nơi; nếu không phải ông thì là ai? Tại sao ông lại nghi ngờ bản tánh chân thật của chính mình? Đó là tánh của ông chứ không phải là sự thật, vậy mà ông lại nhận Ta để tìm cầu sự thật.”
Đức Phật tiếp tục nói với A Nan: “A Nan, nay Ta muốn hỏi ông một câu. Mặc dù ông chưa hoàn toàn thanh tịnh, nhưng nhờ oai lực của Ta, ông có thể thấy cảnh giới trời Sơ Thiền mà không có bất kỳ chướng ngại nào. Và A Na Luật có thể thấy toàn bộ Diêm Phù Đề, giống như nhìn một quả nhỏ trong lòng bàn tay. Những vị Bồ Tát đó thậm chí có thể thấy hàng trăm ngàn thế giới. Chư Phật trong mười phương có thể thấy tất cả các cõi tịnh độ, không gì là không thấy đối với các Ngài. Nhưng đối với chúng sinh phàm phu, tầm nhìn của họ chỉ vươn tới vài tấc.”
“A Nan, hãy cùng quan sát cung điện của Tứ Thiên Vương. Chúng ta có thể thấy mọi thứ ở giữa các cung điện, bao gồm nước, đất, và những vật trong không trung. Mặc dù có ánh sáng và bóng tối và nhiều hình dạng khác nhau, đây đều là những vật bên ngoài được thấy bởi tâm phân biệt của chúng ta.”
“Bây giờ, Ta muốn ông phân biệt đâu là chính ông và đâu là vật bên ngoài trong số tất cả những thứ ông thấy. Bắt đầu từ cung điện của mặt trời và mặt trăng, cho đến bảy núi vàng, mặc dù có nhiều ánh sáng khác nhau, đây đều là những vật bên ngoài, không phải ông. Hãy nhìn mây bay và chim lượn, bụi bị gió thổi, cây cối, núi sông, cỏ, người và thú vật, đây đều là những vật bên ngoài, không phải ông.”
“A Nan, những vật ở khoảng cách khác nhau này, tuy khác nhau, nhưng đều được thấy bởi tánh thấy thanh tịnh của ông. Mặc dù những vật này có sự khác biệt, nhưng tánh thấy của ông không có sự khác biệt. Tánh thấy sáng diệu này là bản tánh chân thật của ông.”
“Nếu tánh thấy cũng là một vật bên ngoài, thì ông cũng phải có thể thấy tánh thấy của Ta. Nếu ông có thể thấy tánh thấy của Ta, thì khi Ta không thấy vật, tại sao ông không thể thấy trạng thái không thấy của Ta? Nếu ông không thể thấy trạng thái không thấy của Ta, thì tánh thấy tự nhiên không phải là vật bên ngoài. Vì nó không phải là vật bên ngoài, chẳng phải nó là chính ông sao?”
“Hơn nữa, nếu khi ông nhìn vật, vật cũng có thể thấy ông, thì mọi thứ sẽ trở nên hỗn loạn, và thế giới không thể thành lập.”
“A Nan, khi ông nhìn vật, tánh thấy có thể thấy đó trùm khắp mọi vật, đây chẳng phải là chính ông sao? Tại sao ông vẫn nghi ngờ rằng đây là bản tánh chân thật của ông? Nếu ông nghĩ đây không phải là bản tánh chân thật của ông, thì làm sao ông có thể tìm cầu sự thật từ Ta?”
Thông qua lời giải thích đơn giản này, Đức Phật muốn giúp A Nan hiểu: bản tánh chân thật của chúng ta là tánh thấy có thể thấy tất cả, nó không phải là vật bên ngoài, mà là chính chúng ta. Hiểu được điều này là rất quan trọng để chúng ta nhận ra bản tánh chân thật của mình.
A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nếu tánh thấy này chắc chắn là con chứ không phải ai khác, thì khi con và Như Lai nhìn cung điện báu nguy nga của Tứ Thiên Vương và cư trú trong cung điện mặt trời và mặt trăng, cái thấy này bao trùm tất cả và lan khắp thế giới Ta Bà. Khi trở về Tinh Xá, con chỉ thấy tu viện. Khi ngồi trong giảng đường thanh tịnh, con chỉ nhìn thấy mái hiên và hành lang. Bạch Thế Tôn, cái thấy này là như vậy: thể chất của nó vốn bao trùm cả thế giới, nhưng nay ở trong phòng nó chỉ lấp đầy một căn phòng. Cái thấy này co lại từ lớn thành nhỏ, hay các bức tường kẹp nó và cắt đứt nó? Con không biết nghĩa lý nằm ở đâu. Con mong Ngài mở lòng đại bi và giải thích cho con.”
A Nan cảm thấy hơi bối rối sau khi nghe lời giải thích của Đức Phật. Ông cung kính bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nếu tánh thấy này thực sự là chính con, không phải vật gì khác, thì con có một thắc mắc. Vừa rồi, nương theo thần lực của Ngài, con có thể thấy cung điện của Tứ Thiên Vương, và thậm chí cả cung điện nơi mặt trời và mặt trăng cư ngụ. Tánh thấy này có thể thấy toàn bộ thế giới Ta Bà.”
“Tuy nhiên, khi chúng ta trở về Tinh Xá, con chỉ có thể thấy phạm vi của ngôi chùa. Khi con ngồi yên lặng trong thiền đường, những gì con có thể thấy chỉ là mái hiên của căn phòng và sân trong.”
“Bạch Thế Tôn, tánh thấy này vốn có thể thấy cả thế giới, tại sao khi ở trong phòng bây giờ nó chỉ có thể thấy phạm vi của một căn phòng? Tánh thấy này co lại ư? hay nó bị bức tường chặn lại nên không thể thấy bên ngoài? Con không hiểu chuyện gì đã xảy ra, con cầu xin Ngài từ bi giải thích cho con.”
Câu hỏi của A Nan rất thú vị. Ông nhận thấy rằng mặc dù Đức Phật nói tánh thấy trùm khắp mọi nơi, nhưng tại sao tầm nhìn của chúng ta dường như bị giới hạn khi chúng ta nhìn sự vật một cách bình thường? Câu hỏi này chạm đến bản chất nhận thức của chúng ta về thế giới, và cũng phản ánh sự nghiêm túc và suy nghĩ sâu sắc của A Nan trong việc hiểu giáo lý của Đức Phật.
Câu hỏi này cũng đại diện cho sự bối rối mà nhiều người có thể gặp phải khi học Phật pháp: Nếu bản tánh của chúng ta là vô hạn, tại sao kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta dường như bị giới hạn? Câu hỏi của A Nan đã tạo cơ hội cho Đức Phật giải thích thêm về chân lý, và cũng cho phép chúng ta hiểu sâu hơn về những bí ẩn của Phật pháp.
Đức Phật bảo A Nan: “Trong tất cả các thế giới, lớn và nhỏ, trong và ngoài, mọi hoạt động đều thuộc về trần cảnh bên ngoài. Ông không nên nói rằng cái thấy có sự mở rộng và co lại. Ví dụ, khi quan sát một không gian vuông trong một cái hộp vuông, Ta hỏi ông: Không gian vuông được thấy trong cái hộp vuông này là vuông cố định hay vuông không xác định? Nếu là vuông cố định, thì nếu ông đặt một cái hộp tròn ở nơi khác, không gian không nên tròn. Nếu là không xác định, thì trong cái hộp vuông không nên có không gian vuông. Ông nói ông không biết nghĩa lý nằm ở đâu. Tánh chất của nghĩa lý là như vậy; làm sao ông có thể hỏi nó ở đâu? A Nan, nếu ông muốn làm cho nó không nhập vào vuông hay tròn, chỉ cần bỏ cái tính vuông của cái hộp, và thể chất của không gian không có tính vuông. Ông không nên nói rằng ông phải loại bỏ thêm vị trí của hình tướng không gian. Nếu, như ông hỏi, khi vào phòng, cái thấy co lại thành nhỏ, thì khi ông nhìn lên mặt trời, ông có kéo cái thấy của mình ra để chạm tới bề mặt mặt trời không? Nếu xây tường có thể kẹp cái thấy và cắt đứt nó, thì nếu ông khoan một lỗ nhỏ, tại sao không có dấu vết của cái lỗ? Lý luận này không đúng. Tất cả chúng sinh, từ vô thủy, đã lầm lạc về chính mình coi mình là vật, đánh mất tâm bản nguyên và bị vật chuyển. Do đó, họ thấy lớn và nhỏ trong đó. Nếu họ có thể chuyển vật, thì họ đồng như Như Lai. Thân và tâm của họ hoàn toàn sáng suốt, đạo tràng bất động. Trên đầu một sợi lông, họ có thể chứa đựng các cõi nước trong mười phương.”
Đức Phật nghe câu hỏi của A Nan, mỉm cười và trả lời: “A Nan, ông phải hiểu rằng mọi kích thước, trong và ngoài thế gian, mọi sự vật đều là vật bên ngoài. Chúng ta không nên nói rằng tánh thấy mở rộng hay co lại. Để Ta dùng một ví dụ để giải thích:”
“Hãy tưởng tượng có một cái hộp vuông, và ông thấy một không gian vuông bên trong. Ta hỏi ông, không gian trong cái hộp vuông này có chắc chắn là vuông không? Hay nó có thể thay đổi hình dạng?”
“Nếu nó chắc chắn là vuông, thì khi chúng ta đổi sang một cái hộp tròn, không gian bên trong vẫn phải là vuông, đúng không? Nhưng sự thật không phải vậy.”
“Nếu nó có thể thay đổi hình dạng, thì trong một cái hộp vuông, chúng ta không nên thấy một không gian vuông, đúng không? Nhưng chúng ta lại thấy một không gian vuông.”
“Ông nói ông không biết chân lý nằm ở đâu, thực ra chân lý ở ngay đây!”
“A Nan, nếu ông muốn không gian không có sự phân biệt giữa vuông và tròn, chỉ cần bỏ cái hộp đi. Không gian tự nó không có hình dạng, và chúng ta không cần phải loại bỏ bất cứ thứ gì khác.”
“Nói về câu hỏi của ông vừa rồi, khi ông vào phòng, tánh thấy của ông có co lại không? Khi ông nhìn lên mặt trời, tánh thấy của ông có kéo dài đến mặt trời không? Nếu các bức tường thực sự có thể chặn tánh thấy, thì nếu đục một lỗ nhỏ trên tường, tánh thấy chỉ nên đi ra từ lỗ nhỏ đó, nhưng sự thật không phải vậy.”
“Sự thật là thế này: tất cả chúng sinh từ vô thủy đã lầm nhận mình là vật bên ngoài, quên mất tâm bản nguyên của chính mình, và bị vật bên ngoài chuyển. Vì vậy có sự khác biệt trong việc thấy lớn và thấy nhỏ.”
“Nếu chúng ta có thể không bị vật bên ngoài chuyển, chúng ta sẽ giống như Như Lai. Thân và tâm hoàn toàn sáng suốt, chúng ta có thể đắc Đạo mà không cần di chuyển. Ngay cả một sợi lông cũng có thể chứa đựng thế giới mười phương.”
Thông qua ví dụ và lời giải thích sống động này, Đức Phật muốn nói với A Nan và mọi người: tánh thấy của chúng ta vốn không có kích thước, chính tâm phân biệt của chúng ta tạo ra sự khác biệt về kích thước. Nếu chúng ta có thể nhận ra bản tánh của chính mình, sẽ có thể vượt qua những giới hạn hời hợt này và đạt được tự do thực sự.
A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nếu tinh thể thấy này chắc chắn là tánh diệu của con, hãy để tánh diệu này hiện ra trước mặt con ngay bây giờ. Cái thấy chắc chắn là sự thật của con. Những gì là thân và tâm con bây giờ? Nhưng nay thân và tâm được phân biệt và hữu hình, trong khi cái thấy đó không được phân biệt hay tách rời khỏi thân con. Nếu nó thực sự là tâm con, hãy làm cho con thấy nó ngay bây giờ. Nếu tánh thấy thực sự là con và thân không phải là con, thì nó khác gì với sự bác bỏ trước đây của Như Lai rằng vật có thể thấy con? Xin Ngài mở lòng đại bi để khai sáng cho những người chưa giác ngộ.”
A Nan vẫn cảm thấy hơi bối rối sau khi nghe lời giải thích của Đức Phật. Ông cung kính bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nếu tánh thấy này thực sự là bản tánh sáng diệu của con, thì tại sao bản tánh sáng diệu này dường như ở trước mặt con, không phải chính con? Nếu tánh thấy thực sự là con, thì thân và tâm hiện tại của con là gì?”
“Bây giờ con có thể cảm nhận rõ ràng thân và tâm mình, chúng dường như là thật. Nhưng tánh thấy đó dường như tách rời khỏi thân con, nó không thể phân biệt thân con.”
“Nếu tánh thấy thực sự là tâm con, cho phép con thấy vật, thì tánh thấy là con thật sự, và thân không phải là con. Theo cách này, chẳng phải nó cũng bối rối như Ngài vừa nói ‘vật có thể thấy con’ sao?”
“Xin hãy từ bi, và giải thích cho chúng con những người chưa hiểu.”
Câu hỏi của A Nan phản ánh sự bối rối mà nhiều người có thể gặp phải khi tìm hiểu bản chất của cái tôi. Chúng ta thường đánh đồng mình với cơ thể và suy nghĩ, và khi nghe nói cái tôi thực sự là tánh thấy vượt lên trên những điều này, việc cảm thấy bối rối là điều không thể tránh khỏi.
Đức Phật bảo A Nan: “Điều ông nói bây giờ, rằng cái thấy ở trước mặt ông, là không đúng về nghĩa lý. Nếu nó thực sự ở trước mặt ông và ông thực sự thấy nó, thì tinh thể thấy này sẽ có một vị trí và có thể chỉ ra được. Nay Ta ngồi với ông trong rừng Kỳ Đà, nhìn khắp rừng cây, kênh rạch, và giảng đường, lên đến mặt trời và mặt trăng, và nhìn sông Hằng ở phía trước. Nay, trước Tòa Sư Tử của Ta, hãy xác định và chỉ ra những hình tướng khác nhau này: cái râm mát là cây, cái sáng là mặt trời, cái ngăn che là tường, cái thông suốt là hư không. Như vậy, ngay cả cỏ cây mảnh mai, tuy kích thước khác nhau, miễn là chúng có hình tướng, đều có thể chỉ ra được. Nếu chắc chắn có một cái thấy xuất hiện trước mặt ông, ông nên dùng tay chỉ ra chắc chắn cái nào là cái thấy. A Nan, ông nên biết rằng nếu hư không là cái thấy, vì nó đã là cái thấy, thì hư không là gì? Nếu vật là cái thấy, vì nó đã là cái thấy, thì vật là gì? Ông có thể bóc tách tỉ mỉ vạn tượng, phân tích tinh thể thấy thanh tịnh và nhiệm màu, và chỉ nó ra cho Ta xem, rõ ràng không nhầm lẫn, giống như những vật kia được không?”
Đức Phật nghe câu hỏi của A Nan, mỉm cười hiền từ và trả lời: “A Nan, điều ông vừa nói về tánh thấy ở trước mặt ông là không đúng. Để Ta giải thích: Nếu tánh thấy thực sự ở trước mặt ông, và ông thực sự có thể thấy nó, thì tánh thấy này nên có một vị trí xác định, và ông phải có thể chỉ ra nó.”
“Hiện tại, chúng ta đang ngồi trong rừng Kỳ Đà, ông có thể thấy rừng cây, mương nước, giảng đường xung quanh, nhìn lên thấy mặt trời và mặt trăng, và đối diện với sông Hằng. Nay ông đứng trước Tòa Sư Tử của Ta, hãy giơ tay lên và chỉ nó ra cho Ta:”
“Cái tối là rừng cây, cái sáng là mặt trời, cái ngăn che là tường, và cái thẩm thấu là hư không. Từ cỏ nhỏ đến cây lớn, từ bụi nhỏ đến núi sông khổng lồ, dù kích thước khác nhau, miễn là chúng có hình dạng, ông có thể chỉ ra chúng.”
“Vậy thì, nếu tánh thấy thực sự ở trước mặt ông, ông có thể dùng tay chỉ ra nó không? Cái nào là tánh thấy?”
“A Nan, ông nên biết, nếu ông nói hư không là tánh thấy, thì vì hư không đã trở thành tánh thấy, hư không là gì? Nếu ông nói vật là tánh thấy, thì vì vật đã là tánh thấy, vật là gì?”
“Ông có thể quan sát kỹ mọi vật, cố gắng tìm ra tánh thấy thanh tịnh và tuyệt vời đó từ chúng, và chỉ nó ra cho ta không? Giống như ông có thể chỉ ra những vật khác một cách rõ ràng mà không mơ hồ.”
Thông qua sự so sánh sống động này, Đức Phật muốn giúp A-nan hiểu rằng: thấy tánh không phải là cái gì đó có thể chỉ ra bằng ngón tay, nó không phải ở “trước mặt” chúng ta, mà là khả năng nhìn thấy thế giới của chính chúng ta. Lời dạy này nhằm phá vỡ quan niệm sai lầm của chúng ta khi coi thấy tánh như một đối tượng bên ngoài, hướng dẫn chúng ta nhận ra rằng thấy tánh là bản chất của chúng ta, không phải là thứ có thể bị quan sát.
A-nan bạch rằng: “Con nay ở trong giảng đường trùng các này, nhìn xa thấy sông Hằng và nhìn lên thấy mặt trời, mặt trăng. Bất cứ thứ gì tay con chỉ và mắt con quan sát đều là vật; không có cái nào là cái thấy. Bạch Thế Tôn, như lời Phật dạy, huống chi là hàng Thanh văn sơ cơ còn lậu hoặc như con, ngay cả các vị Bồ-tát cũng không thể mổ xẻ cái thấy chính xác từ trước hình ảnh của muôn vật và tìm ra một tự tánh riêng biệt tách rời khỏi muôn vật.”
A-nan rơi vào trầm tư sau khi nghe Đức Phật dạy. Ông nhìn quanh, rồi cung kính bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, con nay đứng trong giảng đường cao này, nhìn xa thấy sông Hằng, và nhìn lên thấy mặt trời, mặt trăng. Con giơ tay và nhìn bằng mắt, chỉ vào mọi thứ xung quanh. Nhưng những gì con chỉ đều là vật, không có cái nào là thấy tánh cả.”
“Chính như Ngài đã nói, nếu ngay cả một đệ tử Thanh văn như con, người vẫn còn phiền não và mới bắt đầu tu học, cũng không thể tìm thấy nó, thì ngay cả các vị Bồ-tát có lẽ cũng không thể tìm thấy thấy tánh vi diệu đó trong muôn vật? Thấy tánh dường như không thể tồn tại tách biệt khỏi tất cả các vật.”
Phật dạy: “Đúng thế, đúng thế.”
Đức Phật gật đầu và nói: “Đúng vậy, đúng vậy.”
Phật bảo A-nan thêm: “Như lời ông nói, không có cái thấy chính xác nào có tự tánh riêng biệt tách rời khỏi muôn vật. Vậy thì, trong những thứ ông chỉ, không có cái nào là cái thấy. Nay ta bảo lại ông: Khi ông và Như Lai ngồi trong rừng Kỳ-đà và nhìn lại khu vườn, và ngay cả mặt trời, mặt trăng và các hình ảnh khác nhau, chắc chắn không có bản chất của cái thấy nào có thể được ông chỉ ra. Ông hãy giải thích thêm: trong những thứ này, cái gì KHÔNG PHẢI là cái thấy?”
Đức Phật nghe A-nan nói, gật đầu từ ái, rồi bảo: “A-nan, ông vừa nói rằng ông không thể tìm thấy một thấy tánh tồn tại tách biệt khỏi muôn vật, và mọi thứ ông chỉ đều là vật, không phải thấy tánh. Vậy bây giờ, chúng ta hãy suy nghĩ về câu hỏi này từ một góc độ khác.”
“Ông và ta cùng ngồi trong rừng Kỳ-đà này, hãy quan sát kỹ môi trường xung quanh một lần nữa. Nhìn khu rừng này, nhìn mặt trời và mặt trăng trên bầu trời, và tất cả những thứ khác nhau xung quanh. Ông nói không có thứ nào trong số này là thấy tánh, đúng không?”
“Vậy thì, bây giờ ta hỏi ông: trong những thứ này, cái nào KHÔNG PHẢI là thấy tánh?”
A-nan bạch rằng: “Con thật sự nhìn khắp nơi trong rừng Kỳ-đà này, và con không biết cái gì trong đó không phải là cái thấy. Tại sao? Nếu cây không phải là cái thấy, làm sao con có thể thấy cây? Nếu cây là cái thấy, thì làm sao chúng là cây? Và cứ thế, nếu hư không không phải là cái thấy, làm sao nó có thể là hư không? Nếu hư không là cái thấy, thì làm sao nó là hư không? Con suy nghĩ lại về muôn ngàn hình ảnh này; sau khi xem xét tỉ mỉ, không có gì là không phải cái thấy.”
A-nan suy nghĩ một lúc rồi trả lời: “Con thực sự thấy toàn bộ rừng Kỳ-đà, nhưng con không biết cái nào KHÔNG PHẢI là ‘cái thấy’. Tại sao? Nếu cây không phải là ‘cái thấy’, làm sao con có thể thấy cây? Nếu cây là ‘cái thấy’, thì cây là gì? Tương tự, nếu không gian không phải là ‘cái thấy’, làm sao con có thể cảm nhận không gian? Nếu không gian là ‘cái thấy’, thì không gian là gì? Sau khi suy nghĩ kỹ, con thấy rằng mọi thứ dường như không thể tách rời khỏi ‘cái thấy’.”
Phật dạy: “Đúng thế, đúng thế.”
Đức Phật lại gật đầu và nói: “Đúng thế, đúng thế.”
Bấy giờ đại chúng, và những người chưa phải là vô học, nghe lời Phật dạy, đều mờ mịt, không biết đầu đuôi ý nghĩa này. Trong chốc lát, họ kinh sợ và mất phương hướng. Như Lai biết tâm họ dao động và sợ hãi, nên sinh lòng thương xót và an ủi A-nan cùng đại chúng: “Này các thiện nam tử, Vô Thượng Pháp Vương nói lời chân thật. Như lời Ngài nói, Ngài không lừa dối hay nói sai. Không giống như bốn loại bất tử và những lý thuyết sai lầm, hỗn loạn của Makkhati Gosala. Các ông nên quán sát kỹ; đừng làm giảm giá trị sự ngưỡng mộ đáng thương của các ông.”
Sau khi Đức Phật nói xong, khung cảnh bỗng trở nên yên tĩnh. Trong đại chúng có mặt, những người chưa giác ngộ hoàn toàn đều rất bối rối. Họ nghe lời Phật, nhưng không biết hiểu thế nào, hoàn toàn lẫn lộn ý nghĩa của Phật.
Mọi người bỗng cảm thấy hoảng hốt, dường như mất phương hướng, không biết phải làm gì. Nét mặt họ trở nên hoảng sợ, và lòng đầy nghi hoặc, bất an.
Thấy mọi người như vậy, Đức Phật đầy lòng từ bi. Ngài nhẹ nhàng an ủi A-nan và những người khác:
“Này các đệ tử thiện lành, đừng sợ. Những lời Vô Thượng Pháp Vương nói đều là sự thật. Mọi điều ta nói đều chân thật, không lừa dối hay giả dối. Không giống như những lời nhận xét hỗn loạn và không đúng sự thật của một số ngoại đạo.”
“Các ông nên suy nghĩ kỹ về lời của ta, và đừng phụ lòng thương xót của ta dành cho các ông.”
Khi ấy, Pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi, thương xót tứ chúng, từ chỗ ngồi trong đại chúng đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, đại chúng này không hiểu ý nghĩa của hai loại thấy tánh căn bản, sắc và không, có và không, như Như Lai đã hiển thị. Bạch Thế Tôn, nếu các duyên trước như sắc và không là thấy, thì chúng phải chỉ ra được. Nếu chúng không phải là thấy, thì chúng không nên được quan sát. Nay họ không biết nghĩa này quy về đâu, nên họ sợ hãi. Không phải là căn lành đời trước của họ mỏng manh. Con chỉ mong Như Lai, với lòng đại bi, hiển thị những vật và hình ảnh này cùng cái thấy tánh này rốt cuộc là gì. Ở giữa, không có có hay không.”
Lúc này, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi thấy sự bối rối của mọi người, đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cung kính đảnh lễ Phật, và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, mọi người dường như không hiểu nguyên lý liệu ‘cái thấy’ và vật có là một hay không như Ngài đã nói. Nếu vật là ‘cái thấy’, thì chúng phải chỉ ra được;”
“Nếu vật không phải là ‘cái thấy’, thì làm sao chúng có thể được nhìn thấy? Mọi người không hiểu chân lý này, nên họ cảm thấy sợ hãi. Xin Ngài từ bi giải thích lại, rốt cuộc mối quan hệ giữa các vật này và ‘cái thấy’ là gì? Có câu trả lời trung dung nào không hoàn toàn giống nhau cũng không hoàn toàn khác nhau không?”
Phật bảo Văn Thù Sư Lợi và đại chúng: “Các Đức Như Lai mười phương và các vị Đại Bồ-tát, trong tam muội an trụ của mình, thấy cái thấy và các duyên của cái thấy, cũng như các tướng suy nghĩ, như hoa đốm trong hư không, vốn không có thật. Cái thấy và các duyên này vốn là thể chất Bồ-đề vi diệu, thanh tịnh, sáng suốt. Làm sao có thể có có hay không trong đó? Văn Thù Sư Lợi, nay ta hỏi ông. Có Văn Thù Sư Lợi nào khác ngoài ông không, Văn Thù Sư Lợi? Văn Thù Sư Lợi đó là Văn Thù Sư Lợi hay không phải Văn Thù Sư Lợi?”
Đức Phật nói một cách từ ái với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi và đại chúng: “Chư Phật và Đại Bồ-tát mười phương, trong thiền định của các Ngài, thấy ’tâm có thể thấy’ và ‘vật bị thấy’, cũng như mọi tưởng tượng, đều như hoa đốm trong hư không, vốn không hiện hữu. ‘Cái thấy’ này và mọi thứ được thấy về bản chất là tâm Bồ-đề thanh tịnh và viên mãn, đâu là sự phân biệt giữa tồn tại và không tồn tại?” Đức Phật sau đó dùng một ví dụ để giải thích: “Văn Thù Sư Lợi, giả sử có một ‘Văn Thù Sư Lợi’ khác, ‘Văn Thù Sư Lợi’ đó có phải là Văn Thù Sư Lợi thật không?”
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn. Con là Văn Thù Sư Lợi thật; không có Văn Thù Sư Lợi nào khác. Tại sao? Nếu có người khác, sẽ có hai Văn Thù Sư Lợi. Nhưng nay con không phải là không-Văn Thù Sư Lợi. Ở giữa, thực sự không có nhị nguyên của có và không.”
Văn Thù Sư Lợi thưa: “Bạch Thế Tôn, con là Văn Thù Sư Lợi thật, không có Văn Thù Sư Lợi nào khác. Nếu có người khác, sẽ có hai Văn Thù Sư Lợi. Nhưng con có tồn tại, chỉ là không thể nói rằng có sự phân biệt ‘có’ hay ‘không’.”
Phật dạy: “Cái thấy sáng suốt vi diệu này và các loại hư không, trần cảnh cũng như vậy; chúng vốn là sự sáng suốt vi diệu. Vô Thượng Bồ-đề, Chân Tâm thanh tịnh viên mãn, hiện tướng hư vọng làm sắc và không, nghe và thấy. Như mặt trăng thứ hai: ai là mặt trăng thật và ai không phải là mặt trăng? Văn Thù Sư Lợi, chỉ có một mặt trăng thật; ở giữa, tự nhiên không có là mặt trăng hay không phải là mặt trăng. Do đó, khi ông quán sát cái thấy và trần cảnh hiện nay, các biểu hiện khác nhau được gọi là vọng tưởng. Ông không thể phân biệt có và không trong chúng. Do tánh giác ngộ sáng suốt, vi diệu, chân thật, cốt yếu này, ông có thể chỉ ra hoặc không chỉ ra.”
Đức Phật mỉm cười và nói: “Để ta kể cho các ông nghe một câu chuyện về sự thật và ảo ảnh.”
Đức Phật bắt đầu nói chậm rãi: “Hãy tưởng tượng tâm chúng ta như một tấm gương sáng, trong sạch và không tì vết. Nhưng khi chúng ta bắt đầu nhìn thấy nhiều thứ và nghe thấy nhiều âm thanh, dường như có một lớp bụi phủ lên tấm gương này.”
“Những hạt bụi này không có thật, giống như khi chúng ta nhìn mặt trăng trên trời, đôi khi chúng ta lầm tưởng mình thấy hai mặt trăng.”
Một đệ tử tò mò hỏi: “Bạch Phật, vậy cái nào là mặt trăng thật?”
Đức Phật mỉm cười và trả lời: “Thực ra, chỉ có một mặt trăng thật trên bầu trời. Cái trông giống mặt trăng thứ hai chỉ là ảo giác của mắt chúng ta. Tương tự, thế giới mà chúng ta thấy và nghe đôi khi khiến chúng ta có những suy nghĩ sai lầm.”
“Cũng như chúng ta không thể phân biệt cái nào là mặt trăng thật và cái nào là mặt trăng giả, chúng ta thường không thể phân biệt đâu là thực và đâu là ảo.”
Đức Phật tiếp tục: “Nhưng sâu trong tâm chúng ta, có một bản tánh trong sáng và rực rỡ. Chính bản tánh này cho phép chúng ta nhận ra lỗi lầm của mình và nhìn thấy bản chất của sự vật rõ ràng trở lại.”
Các đệ tử gật đầu trầm tư.
Đức Phật kết luận: “Vì vậy, các đệ tử thân yêu của ta, hãy nhớ rằng: khi các ông cảm thấy bối rối, đừng để bị các hiện tượng bề ngoài làm cho mê muội. Hãy bình tĩnh và lắng nghe tiếng nói của tâm mình, ở đó có trí tuệ chân thật.”
A-nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, quả thật như lời Pháp Vương dạy, điều kiện giác ngộ trùm khắp mười phương, vắng lặng và thường hằng, và tánh của nó không chịu sinh diệt. Điều này khác gì với chân lý tối tăm mà Phạm chí Kapila và các ngoại đạo khác như phái ném tro nói đến, những người nói rằng có một chân ngã trùm khắp mười phương? Đức Thế Tôn cũng đã giải thích nghĩa này trên núi Lăng-già cho Đại Huệ và những người khác. Những ngoại đạo đó luôn nói về tự tánh (Svabhava); con nói về nhân duyên, cái không phải là cảnh giới của họ. Nay con quán sát tánh giác ngộ này là tự nhiên, không sinh cũng không diệt, xa lìa mọi vọng tưởng và điên đảo. Nó dường như không phải là nhân duyên, mà giống như tự tánh của họ. Làm sao Ngài có thể giải thích điều này để chúng con không rơi vào tà kiến mà đạt được Chân Tâm, tánh giác ngộ sáng suốt vi diệu?”
A-nan cung kính hỏi: “Bạch Thế Tôn đáng kính, con có một câu hỏi muốn hỏi Ngài.” Đức Phật nhìn A-nan một cách từ ái và nói: “Nói đi, A-nan.”
A-nan bắt đầu: “Ngài vừa nói rằng tánh giác ngộ trùm khắp mười phương, là thường hằng, và không chịu sinh diệt. Điều này làm con nhớ đến một số tông phái khác, chẳng hạn như ‘Chân lý Tối tăm’ được bàn luận bởi Phạm chí Kapila, và những khổ hạnh giả ném tro. Họ cũng nói rằng có một chân ngã trùm khắp mười phương. Có sự khác biệt nào giữa hai tuyên bố này không?”
A-nan tiếp tục: “Con nhớ rằng trên núi Lăng-già, Ngài đã từng giải thích một nguyên lý tương tự cho Bồ-tát Đại Huệ. Ngài nói những ngoại đạo đó luôn nói về ’tự tánh’ (tự nhiên), trong khi Ngài nói về ’nhân duyên’, và hai cái đó khác nhau. Nhưng nay con nghe Ngài nói về tánh giác ngộ này, nó là tự nhiên, bất sinh bất diệt, xa lìa mọi vọng tưởng và điên đảo, nó dường như không thuộc về nhân duyên cũng không thuộc về tự nhiên. Con hơi bối rối.”
A-nan hỏi một cách chân thành: “Bạch Thế Tôn, Ngài có thể giải thích chi tiết hơn làm thế nào để hiểu chân lý này để không rơi vào tà kiến, mà thực sự hiểu tánh giác ngộ vi diệu này không?”
Phật bảo A-nan: “Nay ta giải thích phương tiện như thế này để nói cho ông biết sự thật, nhưng ông vẫn không tỉnh ngộ và lầm lẫn nó với tự nhiên. A-nan, nếu nó phải là tự nhiên, ông phải phân biệt rõ ràng rằng có một thực thể của tự nhiên. Ông hãy quan sát cái thấy sáng suốt vi diệu này: cái gì là ngã của nó? Cái thấy này lấy sáng làm ngã, lấy tối làm ngã, lấy không làm ngã, hay lấy tắc làm ngã? A-nan, nếu sáng là ngã của nó, ông không nên thấy tối. Nếu không là tự tánh của nó, ông không nên thấy tắc. Và cứ thế, nếu tối và các tướng khác là ngã của nó, thì khi trời sáng, tánh thấy bị tiêu diệt; làm sao ông có thể thấy sáng?”
Sau khi nghe câu hỏi của A-nan, Đức Phật mỉm cười và nói: “A-nan, để ta dùng một ví dụ đơn giản giải thích nguyên lý phức tạp này.” A-nan gật đầu cung kính, sẵn sàng lắng nghe chăm chú.
Đức Phật bắt đầu nói chậm rãi: “Hãy tưởng tượng ông có một chiếc gương thần có thể phản chiếu mọi thứ. Bây giờ, ta hỏi ông: bản chất của chiếc gương này là gì?”
A-nan suy nghĩ một lúc và nói: “Có phải là sự trong suốt và độ sáng của nó không?”
Đức Phật lắc đầu: “Hãy suy nghĩ kỹ. Nếu bản chất của gương là độ sáng, thì làm sao nó có thể phản chiếu những vật tối? Nếu bản chất của nó là sự trống rỗng, thì làm sao nó có thể phản chiếu những vật thể rắn?” A-nan lộ vẻ bối rối.
Đức Phật tiếp tục: “Nghĩ lại đi, nếu bản chất của gương là tối, thì khi ánh sáng đến, gương chẳng phải sẽ biến mất sao? Làm sao nó có thể phản chiếu ánh sáng?” A-nan gật đầu trầm tư.
Đức Phật kết luận: “Nhìn xem, A-nan, tâm chúng ta giống như chiếc gương này. Nó có thể nhận thức mọi thứ, nhưng bản thân nó không phải là bất kỳ vật cụ thể nào. Nó không sáng, không tối, không rỗng hay rắn. Nó là sự nhận biết thuần khiết.”
A-nan bạch rằng: “Nếu tánh thấy vi diệu này nhất định không phải là tự nhiên, con nay suy luận nó là tánh nhân duyên. Tâm con vẫn chưa rõ; con xin hỏi Như Lai. Nghĩa này phù hợp với tánh nhân duyên như thế nào?”
A-nan nói một cách cung kính: “Bạch Thế Tôn đáng kính, con nghĩ con dường như đã hiểu đôi chút, nhưng có vẻ như một số phần vẫn chưa rõ ràng lắm.”
Đức Phật nhìn A-nan một cách nhẹ nhàng, khuyến khích ông tiếp tục.
A-nan hít một hơi thật sâu và nói: “Nếu tánh thấy vi diệu này không phải là tự nhiên, thì nó có thuộc vào phạm trù nhân duyên không? Nhưng con cũng cảm thấy cách giải thích này có vẻ không đúng. Bạch Thế Tôn, Ngài có thể giải thích lại cho con được không? Tánh thấy này rốt cuộc là gì? Tại sao nó lại phù hợp với quy luật nhân duyên?”
Phật dạy: “Ông nói về nhân duyên. Ta hỏi lại ông. Ông nay thấy tánh của cái thấy hiện ra trước mặt. Cái thấy này tồn tại là do sáng, do tối, do không, hay do tắc? A-nan, nếu nó tồn tại do sáng, ông không nên thấy tối. Nếu nó tồn tại do tối, ông không nên thấy sáng. Và cứ thế, do không và tắc, nó cũng giống như sáng và tối. Hơn nữa, A-nan, cái thấy này tồn tại có điều kiện do sáng, có điều kiện do tối, có điều kiện do không, hay có điều kiện do tắc? A-nan, nếu nó có điều kiện do không, ông không nên thấy tắc. Nếu nó có điều kiện do tắc, ông không nên thấy không. Và cứ thế, có điều kiện do sáng và tối, nó cũng giống như không và tắc. Ông nên biết rằng tánh giác ngộ căn bản, sự sáng suốt vi diệu này, không phải là nhân hay duyên, cũng không phải là tự nhiên, cũng không phải là không tự nhiên. Nó không phải là phi-phi, cũng không phải là thị-thị. Nó xa lìa mọi tướng, nhưng lại là tất cả các pháp. Tại sao ông nay lại đặt tâm mình vào trong này và tạo ra những phân biệt với những tên gọi và tướng trạng phù phiếm của thế gian? Nó giống như nắm bắt hư không bằng tay; chỉ làm tăng thêm sự mệt mỏi của chính mình. Làm sao hư không có thể theo sự nắm bắt của ông?”
Đức Phật nghe câu hỏi của A Nan, mỉm cười và nói: “A Nan, chúng ta hãy dùng một ví dụ đơn giản để tìm hiểu vấn đề này.”
A Nan gật đầu hiểu ý, và các đệ tử khác cũng vểnh tai lên để lắng nghe chăm chú.
Đức Phật bắt đầu nói chậm rãi: “Hãy tưởng tượng rằng tất cả chúng ta đều có thể nhìn thấy cảnh vật xung quanh ngay bây giờ. Khả năng ’nhìn’ này, ông nghĩ nó tồn tại là do đâu?”
A Nan suy nghĩ một lúc rồi nói: “Có lẽ là vì có ánh sáng?”
Đức Phật tiếp tục hỏi: “Vậy thì, nếu chúng ta chỉ có thể nhìn thấy khi có ánh sáng, tại sao chúng ta cũng có thể nhìn thấy mọi vật trong bóng tối?” A Nan sững sờ.
Đức Phật tiếp tục: “Hãy nghĩ lại xem, nếu chúng ta nói chúng ta có thể nhìn thấy vì có không gian, vậy tại sao chúng ta cũng có thể nhìn thấy các vật thể rắn? Nếu chúng ta nói chúng ta có thể nhìn thấy vì có các vật thể rắn, vậy làm sao chúng ta có thể nhìn thấy không gian?”
A Nan và các đệ tử khác đều lộ vẻ bối rối.
Đức Phật mỉm cười và giải thích: “Nhìn xem, A Nan, ’tánh thấy’ của chúng ta - tức là bản chất của khả năng nhìn thấy - không tồn tại do các điều kiện bên ngoài. Nó cũng không tồn tại do một cái gì đó bên trong. Nó không phải là tự nhiên cũng không phải là không tự nhiên.”
“‘Tánh thấy’ này vượt lên trên tất cả các mặt đối lập, chẳng hạn như có và không, tồn tại và không tồn tại. Nó rời bỏ mọi hình tướng, nhưng lại chứa đựng tất cả các pháp.”
Đức Phật nói một cách nghiêm túc: “A Nan, cố gắng hiểu nó bằng các khái niệm thế gian bây giờ cũng giống như cố gắng bắt không khí bằng tay. Ông càng cố bắt, ông càng cảm thấy mệt mỏi, nhưng không khí sẽ không bao giờ bắt được.”
A Nan chợt nhận ra và than thở với vẻ xúc động: “Thì ra là vậy! Thế Tôn, con đã hiểu. Các khái niệm và ngôn ngữ chúng ta thường dùng không thể mô tả chân thực bản chất của ’tánh thấy’ này.”
Đức Phật gật đầu hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Hiểu được điều này là rất quan trọng. Chúng ta phải học cách vượt qua những lối tư duy thông thường để thực sự thấu hiểu vũ trụ và bản chất của chính mình.”
A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, nếu tánh giác diệu minh chẳng phải nhân, chẳng phải duyên, tại sao Thế Tôn thường nói với các tỳ kheo về tánh thấy có bốn thứ duyên? Nghĩa là do hư không, do sáng, do tâm và do mắt. Điều này nghĩa là gì?”
Sau khi nghe Đức Phật giải thích, A Nan hỏi một câu khác: “Bạch Phật, nếu tánh giác diệu minh này chẳng phải do nhân duyên sinh ra, cũng chẳng phải tự nhiên hiện hữu, thì tại sao Ngài thường bảo các tỳ kheo rằng tánh thấy của chúng ta do bốn duyên tạo thành? Ngài nói cái thấy có được là nhờ không gian, ánh sáng, tâm và mắt. Điều này nghĩa là gì?”
Phật bảo: “A Nan, lời ta nói về các tướng nhân duyên thế gian, không phải là nghĩa để nhất. A Nan, ta lại hỏi ông. Người thế gian nói ’tôi thấy được’. Thế nào gọi là thấy, thế nào gọi là không thấy?”
Đức Phật mỉm cười trả lời: “A Nan, nhân duyên mà ta nói với ông trước đây chỉ là cách nói thế gian, không phải chân lý rốt ráo. Hãy thử nghĩ xem, mọi người thường ngụ ý gì khi nói ’thấy được’? Khi nào thì được coi là thấy, và khi nào thì được coi là không thấy?”
A Nan bạch: “Do ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và đèn, người thế gian thấy được các thứ hình tướng; đó gọi là thấy. Nếu không có ba thứ ánh sáng ấy, thì không thể thấy.”
A Nan suy nghĩ một chút rồi nói: “Người thường cho rằng khi có ánh sáng mặt trời, ánh trăng hoặc ánh đèn để nhìn thấy sự vật, thì đó gọi là thấy. Nếu không có những ánh sáng đó, họ không thấy được.”
“A Nan, nếu ở trong tối gọi là không thấy, thì đáng lẽ ông không thấy bóng tối. Nếu ông ắt thấy bóng tối, thì đây chỉ là không có ánh sáng; sao có thể là không thấy? A Nan, nếu ở trong tối, không thấy ánh sáng, gọi là không thấy, thì nay ở trong sáng, không thấy tướng tối, cũng phải gọi là không thấy. Nếu hai tướng này cướp đoạt lẫn nhau, thì tánh thấy của ông trong đó tạm thời chẳng thiếu. Như thế thì phải biết cả hai đều gọi là thấy. Sao có thể là không thấy? Cho nên, A Nan, nay ông phải biết, khi thấy sáng, cái thấy chẳng phải là sáng. Khi thấy tối, cái thấy chẳng phải là tối. Khi thấy hư không, cái thấy chẳng phải là hư không. Khi thấy lấp bít, cái thấy chẳng phải là lấp bít. Bốn nghĩa này thành lập rồi, ông nên biết thêm rằng, khi thấy cái thấy, cái thấy ấy chẳng phải là cái thấy (đối tượng). Cái thấy (chủ thể) rời khỏi cái thấy (đối tượng); cái thấy (đối tượng) không thể chạm đến nó. Sao ông còn nói về nhân duyên, tự nhiên và tướng hòa hợp? Hàng Thanh văn các ông hẹp hòi, thiếu trí tuệ, không thể thông suốt thật tướng thanh tịnh. Nay ta dạy ông khéo tư duy, chớ sinh lòng mỏi mệt trên đường Bồ đề diệu kỳ.”
Đức Phật bắt đầu nói: “Hãy tưởng tượng ông đang ở trong một căn phòng hoàn toàn tối đen. Ông không thể nhìn thấy gì cả, phải không?”
A Nan đáp: “Vâng, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật tiếp tục hỏi: “Vậy thì, trong bóng tối, ông có thể nhìn thấy chính bóng tối không?”
A Nan suy nghĩ một lát rồi nói với vẻ hơi bối rối: “Điều này… con dường như có thể cảm nhận được bóng tối, nhưng con không chắc liệu con có thể ’nhìn thấy’ bóng tối hay không.”
Đức Phật gật đầu nói: “Rất tốt, A Nan. Bây giờ hãy tưởng tượng đèn trong phòng đột nhiên bật sáng. Ông có thể nhìn thấy ánh sáng, phải không?”
A Nan đáp: “Vâng, con có thể thấy ánh sáng.”
Đức Phật lại hỏi: “Vậy thì, khi ông nhìn thấy ánh sáng, ông còn có thể nhìn thấy bóng tối không?”
A Nan lắc đầu: “Không, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật mỉm cười nói: “Nhìn xem, A Nan, dù trong sáng hay tối, khả năng ’thấy’ của ông luôn tồn tại. Nó không phải là ánh sáng, cũng không phải là bóng tối. Nó không tồn tại vì có cái gì đó, cũng không phải không tồn tại vì không có gì cả.”
A Nan gật đầu đầy vẻ suy tư.
Đức Phật tiếp tục: “Khả năng ’thấy’ này giống như một tấm gương không thay đổi. Bất kể cái gì ở trước gương, bản thân tấm gương sẽ không trở thành vật đó. Khi ông thấy không gian, cái ’thấy’ không phải là không gian; khi ông thấy vật thể, cái ’thấy’ không phải là vật thể.”
“Thú vị hơn nữa,” Đức Phật nói với một nụ cười, “khi ông nhận ra rằng ông đang ’thấy’, cái ’thấy’ được nhận ra đó cũng không phải là cái ’thấy’ thực sự. Cái ’thấy’ thực sự thuần khiết đến mức nó vượt qua mọi khái niệm và mô tả của chúng ta.”
A Nan chợt nhận ra và thốt lên: “A! Con hiểu rồi, bạch Thế Tôn. Bản chất của cái ’thấy’ này thật sâu sắc, vượt xa các khái niệm nhân duyên và tự nhiên mà chúng ta thường dùng!”
Đức Phật gật đầu hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Đó là lý do tại sao ta nói, ông phải suy nghĩ thật kỹ và đừng mệt mỏi. Con đường đến với trí tuệ thực sự rất khó khăn nhưng quý giá. Hãy tiếp tục duy trì sự tò mò và tâm trí cởi mở như vậy, ông chắc chắn sẽ đạt được nhiều hơn nữa.”
A Nan bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, tuy Phật Thế Tôn đã vì chúng con tuyên thuyết về nhân duyên, tự nhiên, và các tướng hòa hợp, chẳng hòa hợp, nhưng tâm con vẫn chưa khai ngộ. Nay nghe thấy cái thấy chẳng phải là cái thấy, lại càng thêm mê muội. Cúi mong đức từ bi rộng lớn, bố thí con mắt đại trí tuệ để chỉ bày cho chúng con tâm giác ngộ sáng suốt thanh tịnh.” Nói xong, ông rơi lệ, đảnh lễ nhận thánh chỉ.
A Nan cung kính bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Ngài đã giải thích cho chúng con về nhân duyên và tự nhiên, cũng như các hiện tượng hòa hợp và không hòa hợp. Nhưng tâm con vẫn chưa được sáng tỏ lắm, và nay nghe những lời như ’thấy cái thấy chẳng phải là cái thấy’, con lại càng bối rối hơn. Xin Ngài từ bi ban cho chúng con con mắt trí tuệ, để tâm giác ngộ của chúng con trở nên sáng suốt và thanh tịnh.” Nói xong, A Nan rơi lệ vì xúc động, cúi đầu và chuẩn bị lắng nghe lời dạy của Đức Phật.
Bấy giờ, Thế Tôn thương xót A Nan và đại chúng, sắp diễn giải con đường tu tập vi diệu của Đại Đà La Ni và các Tam muội. Ngài bảo A Nan: “Ông tuy có trí nhớ mạnh mẽ, nhưng chỉ làm tăng thêm đa văn. Ông vẫn chưa hiểu rõ phép quán chiếu vi mật của Xa-ma-tha. Nay hãy lắng nghe kỹ, ta sẽ vì ông phân tích và chỉ bày. Cũng khiến cho những người hữu lậu trong tươnglai được quả Bồ đề. A Nan, tất cả chúng sinh luân hồi trong thế gian là do hai thứ vọng kiến phân biệt điên đảo. Nơi nào những thứ này phát sinh, nghiệp sẽ chuyển theo đó. Hai thứ vọng kiến là gì? Một là biệt nghiệp vọng kiến của chúng sinh (vọng kiến do nghiệp riêng). Hai là đồng phân vọng kiến của chúng sinh (vọng kiến do nghiệp chung).”
Đức Phật nhẹ nhàng nói: “Này A Nan thân mến, và tất cả mọi người có mặt ở đây, ta có một số chân lý quan trọng muốn nói với các ông. Những chân lý này có thể giúp các ông, và cũng giúp những người sau này tìm thấy hạnh phúc và trí tuệ thực sự.” A Nan cung kính đáp: “Chúng con xin kính cẩn lắng nghe, bạch Thế Tôn.”
Đức Phật mỉm cười và nói: “A Nan, trí nhớ của ông rất tốt, và kiến thức của ông cũng rất phong phú. Nhưng trong việc thực hành quán chiếu tĩnh lặng, ông vẫn cần hiểu biết và rèn luyện thêm.” A Nan cúi đầu xấu hổ.
Đức Phật tiếp tục: “Bây giờ, ta muốn nói với ông một chân lý quan trọng. Ông phải lắng nghe kỹ và suy nghĩ thật kỹ. Chân lý này sẽ không chỉ giúp ông, mà còn giúp những người đời sau tìm ra con đường giải thoát chân chính.” Các đệ tử đều vểnh tai lên và lắng nghe chăm chú.
Đức Phật giải thích: “Các ông có biết tại sao con người luôn luân hồi trong thế giới này không dứt không? Đây là do hai cách hiểu sai lầm.”
“Loại thứ nhất, chúng ta gọi là ‘biệt nghiệp vọng kiến’. Đây là sự hiểu lầm do hành vi và suy nghĩ của riêng mỗi người gây ra.”
“Loại thứ hai, chúng ta gọi là ‘đồng phân vọng kiến’. Đây là sự hiểu lầm được chia sẻ bởi một nhóm người hoặc toàn bộ xã hội.”
A Nan tò mò hỏi: “Bạch Thế Tôn, Ngài có thể cho chúng con một ví dụ không?”
Đức Phật gật đầu: “Tất nhiên. Ví dụ, một số người nghĩ rằng mình xấu xí, nên họ luôn tự ti. Đây là ‘biệt nghiệp vọng kiến’. Và nếu toàn xã hội nghĩ rằng một màu da nhất định nào đó đẹp hơn, thì đây là ‘đồng phân vọng kiến’.” Các đệ tử gật đầu đầy vẻ suy tư.
Đức Phật kết luận: “Hai cách hiểu sai lầm này giống như hai cái xoáy nước khổng lồ, liên tục kéo con người vào vòng luân hồi. Hiểu và vượt qua hai cách hiểu này là một mục tiêu quan trọng trong sự tu tập của chúng ta.”
Bằng cách này, Đức Phật bắt đầu một bài học sâu sắc và quan trọng, giúp các đệ tử hiểu được bản chất của cuộc sống và dẫn dắt họ đến con đường của trí tuệ thực sự.
“Thế nào gọi là biệt nghiệp vọng kiến? A Nan, giống như người thế gian bị mắt nhặm đỏ. Ban đêm thấy bên đèn có quầng sáng tròn, năm màu trùng điệp. Ông nghĩ sao? Quầng sáng tròn hiện ra bên đèn ban đêm này là màu sắc của đèn hay màu sắc của cái thấy? A Nan, nếu là màu sắc của đèn, tại sao người không bị mắt nhặm không cùng thấy? Quầng sáng này chỉ người mắt nhặm mới thấy. Nếu là màu sắc của cái thấy, thì cái thấy đã thành màu sắc; vậy người mắt nhặm thấy quầng sáng gọi là gì? Lại nữa, A Nan, nếu quầng sáng này rời đèn mà có, thì nhìn vào bình phong, màn che, bàn, chiếu gần đó cũng phải có quầng sáng. Nếu rời cái thấy mà có, thì không nên bị mắt thấy; làm sao người mắt nhặm thấy được quầng sáng? Cho nên phải biết rằng màu sắc thật ra ở nơi đèn, còn cái thấy do bệnh mà thành bóng dáng. Bóng dáng và cái thấy đều do chứng mắt nhặm. Cái thấy nhặm thì không bị bệnh. Ông vốn chẳng nên nói đó là đèn hay đó là thấy. Trong đó, chẳng phải đèn cũng chẳng phải thấy. Như mặt trăng thứ hai, chẳng phải mặt trăng thật cũng chẳng phải cái bóng. Tại sao? Vì việc thấy mặt trăng thứ hai là do ấn vào mắt mà ra. Người trí không nên nói gốc rễ của việc ấn mắt này là sắc hay không phải sắc, rời cái thấy hay không rời cái thấy. Trường hợp này cũng vậy, do mắt nhặm mà thành. Ông muốn gán tên cho ai là đèn hay là thấy? Huống chi lại phân biệt là không phải đèn hay không phải thấy.”
Đức Phật nhìn các đệ tử tò mò, mỉm cười và nói: “Để ta kể cho các ông nghe một câu chuyện thú vị để giải thích ‘biệt nghiệp vọng kiến’ là gì.” Các đệ tử đều vểnh tai lên và lắng nghe chăm chú.
Đức Phật bắt đầu nói chậm rãi: “Ngày xửa ngày xưa, có một người đàn ông tên là A Nan, mắt ông ta có chút vấn đề. Một đêm nọ, ông ta nhìn thấy một ngọn đèn.”
“A Nan, ông đoán xem ông ta đã thấy gì?” Đức Phật hỏi.
A Nan tò mò trả lời: “Ông ấy thấy ánh đèn phải không ạ?”
Đức Phật mỉm cười nói: “Không chỉ vậy. Vì vấn đề ở mắt, ông ta thấy một quầng sáng nhiều màu sắc xung quanh ánh đèn, đẹp như cầu vồng.”
“Bây giờ vấn đề nảy sinh,” Đức Phật tiếp tục, “quầng sáng nhiều màu sắc này có thực sự tồn tại không, hay chỉ được nhìn thấy do vấn đề mắt của A Nan?” Các đệ tử đều trầm ngâm suy nghĩ.
Đức Phật giải thích: “Nếu quầng sáng này thực sự tồn tại, thì những người khác cũng phải nhìn thấy nó, đúng không? Nhưng thực tế là, chỉ có A Nan mới có thể nhìn thấy nó.”
“Vậy thì,” Đức Phật hỏi, “quầng sáng này có phải là thứ mà A Nan thấy không?”
Một đệ tử trả lời: “Có vẻ là vậy ạ.”
Đức Phật gật đầu: “Nhưng, nếu quầng sáng này thực sự là thứ mà A Nan thấy, thì nó phải thực sự tồn tại. Nhưng chúng ta vừa nói rằng những người khác không thể nhìn thấy nó.” Các đệ tử lộ vẻ bối rối.
Đức Phật tiếp tục: “Thực ra, sự thật là thế này: ánh đèn là thật, nhưng quầng sáng là ảo giác do vấn đề mắt của A Nan gây ra. Giống như chỉ có một mặt trăng, nhưng đôi khi chúng ta thấy hai mặt trăng vậy.”
“Điểm mấu chốt là,” Đức Phật kết luận, “chúng ta không thể nói quầng sáng này là ánh đèn, cũng không thể nói nó là tầm nhìn của A Nan. Nó không phải là một vật thực sự tồn tại, cũng không phải là một ảo giác hoàn toàn không tồn tại. Nó là một hiện tượng gây ra bởi một vấn đề trong nhận thức của chúng ta.”
A Nan chợt nhận ra: “A, con hiểu rồi! Đây là ‘biệt nghiệp vọng kiến’, sự hiểu lầm do vấn đề của riêng mỗi chúng ta gây ra!”
Đức Phật gật đầu hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Hiểu được điều này, chúng ta có thể nhìn thấy sự thật của thế giới rõ ràng hơn và không bị nhầm lẫn bởi những hiểu biết sai lầm của chính mình.”
“Thế nào gọi là đồng phân vọng kiến? A Nan, cõi Diêm-phù-đề này, trừ biển lớn ra, đất bằng ở giữa có ba ngàn châu. Châu lớn ở chính giữa, đo từ đông sang tây, có tất cả hai ngàn ba trăm nước lớn. Các tiểu châu khác ở trong các biển lớn. Trong đó hoặc có hai, ba trăm nước, hoặc một, hai, cho đến ba mươi, bốn mươi, năm mươi nước. A Nan, nếu trong số đó có một tiểu châu chỉ có hai nước, và người của một nước cùng cảm nhận ác duyên, thì chúng sinh của tiểu châu ấy sẽ thấy đủ thứ cảnh giới chẳng lành. Họ có thể thấy hai mặt trời hoặc hai mặt trăng, hoặc quầng sáng, nhật thực/nguyệt thực, bội, sao chổi, sao băng bay, phụ nhĩ, cầu vồng, và các loại ác tướng. Nhưng chúng sinh nước này thấy, còn chúng sinh nước kia vốn không thấy cũng không nghe. A Nan, nay ta sẽ kết hợp hai sự việc này để làm rõ sự tiến lui cho ông.”
Đức Phật mỉm cười nói với các đệ tử: “Bây giờ, hãy để ta kể cho các ông nghe một câu chuyện thú vị về ‘đồng phân vọng kiến’.” Các đệ tử nhìn Đức Phật đầy mong đợi, sẵn sàng lắng nghe giáo pháp mới.
Đức Phật bắt đầu nói chậm rãi: “Hãy tưởng tượng chúng ta sống trên một lục địa gọi là Diêm-phù-đề. Có rất nhiều quốc gia trên lục địa này, giống như một bức tranh ghép hình khổng lồ, mỗi mảnh ghép là một quốc gia.”
“Ở một góc của lục địa này,” Đức Phật tiếp tục, “có một hòn đảo nhỏ chỉ có hai quốc gia trên đó. Một ngày nọ, người dân của một trong hai quốc gia đó cùng nhau trải qua một số chuyện tồi tệ.”
A Nan tò mò hỏi: “Bạch Thế Tôn, chuyện tồi tệ gì vậy ạ?”
Đức Phật giải thích: “Ví dụ, họ bắt đầu nhìn thấy một số cảnh tượng kỳ lạ. Một số người nói rằng họ thấy hai mặt trời hoặc hai mặt trăng trên bầu trời. Một số thấy các quầng sáng lạ hoặc sao chổi xuất hiện trên bầu trời. Những người khác nói họ thấy cầu vồng điềm báo xấu.” Các đệ tử đều lộ vẻ ngạc nhiên.
Đức Phật tiếp tục: “Nhưng điều thú vị là, những người sống ở quốc gia kia trên đảo không thấy gì và không nghe gì về những chuyện kỳ lạ này.”
A Nan nói với vẻ trầm ngâm: “Thật kỳ lạ, bạch Thế Tôn. Tại sao lại như vậy ạ?”
Đức Phật mỉm cười và trả lời: “Đây là cái mà chúng ta gọi là ‘cộng nghiệp vọng kiến’. Khi một nhóm người cùng trải qua những điều nhất định, họ có thể phát triển cùng một sự hiểu lầm sai lệch. Mặc dù sự hiểu lầm này có vẻ là thật đối với họ, nhưng nó không tồn tại đối với người khác.”
Đức Phật kết luận: “Hiểu được điều này là rất quan trọng, A Nan. Nó nói với chúng ta rằng đôi khi những điều chúng ta nghĩ là thật có thể chỉ là một sự hiểu lầm sai lệch chung của nhóm chúng ta. Chúng ta cần giữ một tâm trí cởi mở và hiểu rằng những người khác nhau có thể có những trải nghiệm và quan điểm khác nhau.”
A Nan và các đệ tử khác gật đầu như thể họ đã nhận ra điều gì đó, cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của lời dạy này.
Đức Phật cuối cùng nói: “A Nan, ta sử dụng hai ví dụ này - ‘biệt nghiệp vọng kiến’ và ‘cộng nghiệp vọng kiến’ - để giúp ông hiểu rõ hơn về cách nhận thức của chúng ta được hình thành, và tại sao chúng ta cần duy trì một thái độ khiêm tốn và cởi mở.”
“Này A Nan, cũng như biệt nghiệp vọng kiến của chúng sinh kia, tuy vòng ánh sáng thấy quanh ngọn đèn hiện ra như là cảnh giới, nhưng rốt cuộc là do mắt người thấy bị lòa tạo thành. Nhặm lòa là sự mệt mỏi của cái thấy, chớ không phải do sắc trần tạo ra. Tuy nhiên cái thấy cái nhặm thì rốt cuộc không có lỗi lầm của cái thấy. Ví như hôm nay ông dùng mắt xem thấy núi sông đất đai và các chúng sinh, đều là do cái thấy bị bệnh từ vô thỉ tạo thành. Cái thấy và duyên của cái thấy dường như là cảnh giới trước mắt; nguyên lai là cái giác minh của ta thấy cái nhặm lòa của trần duyên. Cái giác ngộ về tánh thấy đó thực ra là nhặm, còn bản giác minh tâm thì không phải là nhặm. Duyên của cái giác không phải là nhặm; cái được giác ngộ dưới cái giác mới là nhặm. Tánh giác chẳng ở trong cái nhặm; đó mới thật là cái thấy của tánh thấy (kiến kiến). Tại sao lại còn gọi đó là giác, kiến, văn, tri? Cho nên nay ông thấy ta cùng với bản thân ông và thế gian, mười loại chúng sinh, đều là thấy cái nhặm lòa. Cái không phải thấy cái nhặm lòa, đó mới là chân tính của cái thấy đó. Cái mà tánh nó chẳng phải là nhặm lòa, nên chẳng gọi là cái thấy.”
Đức Phật nhìn A Nan và các đệ tử khác với nụ cười hiền từ. Ngài biết rằng nội dung sắp thảo luận có thể hơi khó hiểu, nhưng Ngài tin rằng qua sự giải thích kiên nhẫn, các đệ tử chắc chắn sẽ hiểu.
Đức Phật nói chậm rãi: “A Nan, hãy xem lại ví dụ về ‘biệt nghiệp vọng kiến’ đã đề cập trước đó. Ông còn nhớ người có vấn đề về mắt nhìn thấy hào quang nhiều màu xung quanh ngọn đèn không?”
A Nan gật đầu: “Con nhớ, Bạch Thế Tôn.”
Đức Phật tiếp tục: “Hào quang nhiều màu đó trông rất thật, nhưng thực ra nó được tạo ra do vấn đề về mắt của người đó. Điều quan trọng là, mặc dù mắt của người đó có vấn đề, nhưng khả năng ’thấy’ của chính người đó không có vấn đề.”
Đức Phật dừng lại để đảm bảo mọi người theo kịp dòng suy nghĩ của Ngài, rồi nói: “Bây giờ, hãy áp dụng nguyên lý này vào cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Núi, sông, đất nước, và ngay cả những sinh mạng khác mà ông thấy mỗi ngày thực ra cũng giống như hào quang nhiều màu đó.” Các đệ tử đều lộ vẻ ngạc nhiên.
Đức Phật giải thích: “Điều này không có nghĩa là những thứ này không tồn tại, mà là thế giới chúng ta thấy được định hình bởi ‘bệnh thấy’ lâu dài của chúng ta - tức là, cách hiểu sai lầm.”
“Giống như người nhìn thấy hào quang nhiều màu kia,” Đức Phật tiếp tục, “khả năng ’thấy’ của chúng ta vốn trong sạch và không tì vết. Nhưng khi chúng ta sử dụng khả năng này để hiểu thế giới, chúng ta có những hiểu biết sai lầm do nhiều nguyên nhân khác nhau.”
A Nan hỏi một cách trầm tư: “Bạch Thế Tôn, vậy làm sao chúng con có thể loại bỏ sự hiểu lầm sai lệch này?”
Đức Phật mỉm cười và trả lời: “Chìa khóa nằm ở việc nhận ra rằng sự nhận biết thuần khiết chân thật không bị ảnh hưởng bởi những hiểu biết sai lầm này. Khi chúng ta nhận ra ’tôi đang thấy’, chúng ta đã rơi vào sự hiểu lầm. Sự nhận biết chân thật không cần phải nhận ra ’tôi đang nhận biết’.”
Đức Phật kết luận: “Vì vậy, A Nan, khi ông thấy ta, thấy người khác, và thấy thế giới này, hãy nhớ rằng tất cả những điều này có thể bị ảnh hưởng bởi ‘bệnh thấy’ của ông. Sự nhận biết thuần khiết chân thật nằm ngoài những điều này. Nó thuần khiết đến mức chúng ta thậm chí không thể gọi nó là ’thấy’.”
A Nan và các đệ tử khác dường như đã nhận ra điều gì đó, cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của lời dạy này. Họ hiểu rằng để đạt được trí tuệ chân thật, người ta cần vượt qua cách hiểu hàng ngày và trực tiếp chạm đến bản chất của sự nhận biết thuần khiết.
“Này A Nan, cũng như cái cộng nghiệp vọng kiến của chúng sinh kia. Lấy cái vọng kiến của riêng một người làm ví dụ, thì một người mắt bệnh tương đương với cả một nước kia. Vòng ánh sáng người đó thấy là do cái vọng của nhặm lòa sinh ra. Những việc chẳng lành do cộng nghiệp của chúng đông kia hiện ra là do chướng khí và ác khí trong cái thấy nghiệp chung tạo thành. Cả hai đều do cái thấy hư vọng từ vô thủy sinh ra. Lấy ví dụ như ba ngàn châu trong cõi Diêm Phù Đề, bao gồm bốn biển lớn và thế giới Ta Bà, cho đến các nước hữu lậu và các loài chúng sinh trong mười phương. Tất cả đều là cái tâm diệu minh vô lậu của bản giác. Cái thấy, nghe, hay, biết là những duyên bệnh hư vọng. Hòa hợp mà vọng sinh, hòa hợp mà vọng chết. Nếu có thể xa lìa các duyên hòa hợp và không hòa hợp, thì diệt trừ được các nguyên nhân sinh tử. Bồ đề viên mãn, tánh không sanh diệt, bản tâm thanh tịnh, bản giác thường trú.”
Đức Phật nói chậm rãi: “A Nan, ông còn nhớ ‘cộng nghiệp vọng kiến’ mà chúng ta đã nói trước đây không? Đó là câu chuyện về đất nước trên hòn đảo nơi mọi người đều nhìn thấy những cảnh tượng kỳ lạ.”
A Nan gật đầu: “Con nhớ, Bạch Thế Tôn.”
Đức Phật tiếp tục: “Bây giờ, hãy kết nối câu chuyện này với ‘biệt nghiệp vọng kiến’ trước đó. Hãy tưởng tượng nếu cả thế giới đều giống như người có vấn đề về mắt kia, mọi người đều nhìn thấy những hào quang nhiều màu không tồn tại, thì sẽ như thế nào?” Các đệ tử nhìn nhau, dường như đang tưởng tượng về thế giới kỳ lạ đó.
Đức Phật giải thích: “Điều này giống như toàn bộ lục địa Diêm Phù Đề, hoặc thậm chí con người trên toàn thế giới, đều đeo một cặp kính đặc biệt. Cặp kính này làm cho thế giới họ thấy đầy rẫy những ảo ảnh và vọng tưởng.”
“Nhưng,” giọng Đức Phật trở nên nhẹ nhàng hơn, “bên dưới tất cả những ảo ảnh này, có một tâm trí trong sáng và không tì vết, mà chúng ta gọi là ‘diệu tâm’. Tâm trí này giống như nước trong, và những cách hiểu thông thường của chúng ta - thấy, nghe, cảm, nghĩ - giống như những bàn tay khuấy động nước này.”
A Nan hỏi một cách tò mò: “Bạch Thế Tôn, vậy làm sao chúng con có thể tìm thấy tâm trí trong sáng này?”
Đức Phật mỉm cười và trả lời: “Chìa khóa là học cách ngừng khuấy động nước trong. Chúng ta cần tránh xa những yếu tố khiến chúng ta có những hiểu biết sai lầm, dù tốt hay xấu. Khi chúng ta làm điều này, chúng ta có thể dần dần loại bỏ gốc rễ của vòng sinh tử.”
Giọng Đức Phật tràn đầy hy vọng: “Cuối cùng, chúng ta sẽ tìm thấy bản tâm thanh tịnh nguyên sơ, viên mãn, không sinh không diệt, thường hằng tồn tại đó. Nó giống như bầu trời xanh sáng tỏ lộ ra sau khi mây mù tan biến.”
A Nan và các đệ tử khác dường như đã nhận ra điều gì đó, họ cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc của lời dạy này. Họ hiểu rằng để đạt được sự giác ngộ chân thật, người ta cần vượt qua những cách hiểu hàng ngày và trở về trạng thái thuần khiết ban đầu đó.
Đức Phật kết luận: “Hãy nhớ, A Nan, cho dù thế giới này trông có vẻ thật đến đâu, nó có thể được tạo ra bởi những hiểu biết sai lầm chung của chúng ta. Nhưng bên dưới những hiểu biết sai lầm này, có một bản tánh thanh tịnh vĩnh cửu và bất biến. Tìm thấy nó là mục tiêu cuối cùng của sự tu tập của chúng ta.”
“A Nan, tuy ông đã ngộ được bản giác vốn diệu minh, tánh nó phi nhân duyên phi tự nhiên. Nhưng ông vẫn chưa rõ cái nguồn giác (giác nguyên) như thế chẳng phải do hòa hợp hay không hòa hợp mà sinh ra. A Nan, nay ta lại dùng cái trần cảnh trước kia để hỏi ông. Ông hiện nay vẫn do mọi thứ vọng tưởng hòa hợp và nhân duyên tánh của thế gian mà tự nghi ngờ mình. Ông cho rằng tâm Bồ đề do hòa hợp mà khởi, vậy thì cái diệu tịnh kiến tinh hiện nay của ông là hòa với sáng, hòa với tối, hòa với thông, hay là hòa với bít? Nếu hòa với sáng, thì ông hãy xem cái sáng. Khi cái sáng hiện ra, cái thấy lẫn lộn ở chỗ nào? Cái tướng của cái thấy có thể phân biệt được, vậy hình trạng lẫn lộn là như thế nào? Nếu chẳng phải là thấy, làm sao thấy được sáng? Nếu là thấy, làm sao thấy được cái thấy? Nếu cái thấy viên mãn, thì hòa với cái sáng ở chỗ nào? Nếu cái sáng viên mãn, thì chẳng khớp để hòa với cái thấy. Nếu cái thấy phải khác với cái sáng, thì trộn lẫn chúng sẽ mất tên của tánh sáng kia. Trộn lẫn thì mất tánh sáng, nói hòa với sáng là vô nghĩa. Đối với tối, thông và các thứ bít lấp cũng đều như vậy.”
Đức Phật nói nhẹ nhàng: “A Nan, ông đã bắt đầu hiểu được tánh nhận biết thuần khiết đó. Ông biết nó không được tạo ra bởi những lý do nhất định, cũng không tồn tại một cách tự nhiên. Tuy nhiên, ông vẫn chưa hiểu đầy đủ về bản chất của nó.”
A Nan trả lời một cách cung kính: “Vâng, Bạch Thế Tôn. Con vẫn còn nhiều điều chưa hiểu.”
Đức Phật gật đầu và nói: “Hãy dùng một ví dụ đơn giản để minh họa. Hãy tưởng tượng ông đang nhìn một vật thể. Ông nghĩ ‘cái thấy’ của ông được tạo ra như thế nào? Có phải ‘cái thấy’ được tạo ra bằng cách kết hợp với ánh sáng không?”
A Nan suy nghĩ một lúc rồi nói: “Có lẽ là vậy, Bạch Thế Tôn.”
Đức Phật mỉm cười và nói: “Vậy thì hãy suy nghĩ kỹ xem. Nếu ‘cái thấy’ kết hợp với ánh sáng, thì khi ánh sáng xuất hiện, ‘cái thấy’ ở đâu? Ông có thể phân biệt hình dạng của ‘cái thấy’ không?” A Nan lắc đầu bối rối.
Đức Phật tiếp tục: “Nếu ‘cái thấy’ không phải là thứ có thể nhìn thấy được, thì làm sao nó có thể kết hợp với ánh sáng? Nếu nó có thể nhìn thấy được, thì ai đang nhìn vào ‘cái thấy’ này?” A Nan và các đệ tử khác đều lộ vẻ trầm tư.
Đức Phật giải thích: “Nhìn xem, A Nan, nếu ‘cái thấy’ là trọn vẹn, nó không cần phải kết hợp với bất cứ thứ gì. Nếu nó cần phải kết hợp với ánh sáng, thì nó không trọn vẹn, và nó mất đi bản chất của ‘cái thấy’.”
Đức Phật kết luận: “Nguyên lý tương tự cũng áp dụng cho bóng tối, không gian và vật thể. Sự nhận biết thuần khiết của chúng ta không được cấu tạo bởi những thứ này, nó vốn dĩ trọn vẹn.”
A Nan chợt nhận ra và nói: “A, con hiểu rồi, Bạch Thế Tôn! Sự nhận biết thuần khiết của chúng ta vốn dĩ trọn vẹn và không cần phải kết hợp với bất cứ thứ gì.”
Đức Phật mỉm cười hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Hiểu được điều này là rất quan trọng. Bằng cách này, ông có thể đến gần hơn với bản tánh thanh tịnh đó.”
“Lại nữa, A Nan, cái diệu tịnh kiến tinh hiện nay của ông là hòa với sáng, hòa với tối, hòa với thông, hay hòa với bít? Nếu hòa với sáng, thì khi tối đến, tướng sáng đã diệt rồi. Cái thấy này không hòa với tối, vậy làm sao ông thấy tối? Nếu khi thấy tối, nó chẳng hòa với tối mà lại hòa với sáng, thì lẽ ra không nên thấy sáng. Đã chẳng thấy sáng thì làm sao hòa với sáng được? Hiểu rõ sáng chẳng phải là tối, thì đối với tối, thông và các thứ bít lấp cũng đều như vậy.”
Đức Phật mỉm cười và nói: “Hãy tưởng tượng ‘cái thấy’ của ông là một chú yêu tinh nhỏ. Chú yêu tinh này rất kỳ diệu và có thể nhìn thấy mọi thứ. Bây giờ, hãy đoán xem chú yêu tinh này hoạt động như thế nào.”
A Nan và các đệ tử khác lộ vẻ mong đợi.
Đức Phật bắt đầu hỏi: “A Nan, ông nghĩ chú yêu tinh ’thấy’ này ở cùng với ánh sáng, hay với bóng tối? Hay nó ở cùng với không gian, hay với vật thể?”
A Nan suy nghĩ một lúc rồi nói: “Có lẽ nó ở cùng với ánh sáng chăng?”
Đức Phật mỉm cười và nói: “Vậy thì hãy suy nghĩ kỹ xem. Nếu chú yêu tinh nhỏ này ở cùng với ánh sáng, thì khi trời tối và ánh sáng biến mất, chú yêu tinh nhỏ đi đâu? Làm sao nó vẫn có thể nhìn thấy bóng tối?” A Nan lắc đầu bối rối.
Đức Phật tiếp tục: “Nếu ông nói, chú yêu tinh nhỏ không ở cùng với bóng tối trong bóng tối, thì trong ánh sáng, nó cũng không nên ở cùng với ánh sáng. Nhưng nếu nó không ở cùng với ánh sáng, làm sao nó có thể nhìn thấy ánh sáng?”
A Nan và các đệ tử khác đều lộ vẻ trầm tư.
Đức Phật giải thích: “Nhìn xem, A Nan, chú yêu tinh ’thấy’ này thực ra tồn tại độc lập. Nó không cần phải ở cùng với ánh sáng hay bóng tối. Nó có thể nhìn thấy ánh sáng và bóng tối, nhưng bản thân nó không phải là ánh sáng cũng không phải là bóng tối.”
Đức Phật kết luận: “Nguyên lý tương tự cũng áp dụng cho không gian và vật thể. Khả năng ’thấy’ của chúng ta là độc lập, nó không cần phải kết hợp với bất cứ thứ gì. Nó vốn dĩ trọn vẹn, có thể quan sát mọi thứ, nhưng không bị ảnh hưởng bởi bất cứ thứ gì.”
A Nan chợt nhận ra và nói: “A, con hiểu rồi, Bạch Thế Tôn! Khả năng ’thấy’ của chúng ta vượt lên trên tất cả mọi thứ và không phụ thuộc vào bất kỳ điều gì bên ngoài.”
Đức Phật mỉm cười hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Hiểu được điều này là rất quan trọng. Bằng cách này, ông có thể đến gần hơn với bản tánh thanh tịnh đó.”
A Nan bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, như con suy nghĩ về cái giác nguyên nhiệm màu này, có phải nó không hòa hợp với các trần duyên và vọng tưởng chăng?”
Sau khi nghe Đức Phật giải thích, A Nan nói một cách trầm tư: “Bạch Thế Tôn, theo lời dạy của Ngài, con bắt đầu hiểu ra. Có phải bản chất của sự giác ngộ nhiệm màu này không kết hợp với những thứ bên ngoài cũng không kết hợp với những suy nghĩ bên trong của chúng con không?”
Đức Phật nói: “Nay ông nói giác tánh phi hòa hợp. Ta lại hỏi ông: nếu cái diệu kiến tinh này là phi hòa hợp, thì nó phi hòa hợp với sáng, phi hòa hợp với tối, phi hòa hợp với thông, hay phi hòa hợp với bít? Nếu phi hòa hợp với sáng, thì cái thấy và cái sáng ắt phải có ranh giới. Ông hãy quan sát kỹ chỗ nào là sáng, chỗ nào là cái thấy. Ranh giới giữa cái thấy và cái sáng ở đâu? A Nan, nếu trong cái sáng hoàn toàn không có cái thấy, thì chúng chẳng đụng chạm nhau. Đã không biết tướng sáng ở đâu, làm sao lập được ranh giới? Đối với tối, thông và các thứ bít lấp cũng đều như vậy.”
Đức Phật nói nhẹ nhàng: “A Nan, hãy tiếp tục trò chơi nhỏ của chúng ta.” A Nan gật đầu đồng ý: “Vâng, Bạch Thế Tôn.”
Đức Phật bắt đầu nói: “Vừa rồi chúng ta nói chú yêu tinh ’thấy’ không ở cùng với bất cứ thứ gì. Bây giờ, hãy nghĩ theo một góc độ khác. Nếu chú yêu tinh này thực sự hoàn toàn độc lập và không liên quan gì đến bất cứ thứ gì, chuyện gì sẽ xảy ra?”
A Nan hỏi một cách tò mò: “Chuyện gì sẽ xảy ra, Bạch Thế Tôn?”
Đức Phật mỉm cười và nói: “Hãy tưởng tượng nếu ‘cái thấy’ hoàn toàn không liên quan gì đến ánh sáng, thì phải có một ranh giới rõ ràng giữa chúng, đúng không?” A Nan gật đầu đồng ý.
Đức Phật tiếp tục hỏi: “Vậy thì, A Nan, ông có thể chỉ ra không? Đâu là ánh sáng và đâu là ‘cái thấy’? Ranh giới của chúng ở đâu?”
A Nan suy nghĩ một lúc, rồi lắc đầu bối rối: “Con không thể tìm thấy ranh giới này, Bạch Thế Tôn.”
Đức Phật mỉm cười và nói: “Đúng vậy, A Nan. Nếu ‘cái thấy’ thực sự không liên quan gì đến ánh sáng, thì ‘cái thấy’ không thể chạm vào ánh sáng, vì vậy nó không thể biết ánh sáng ở đâu. Vậy thì, làm sao ranh giới có thể tồn tại?”
A Nan chợt nhận ra: “A, con hiểu rồi!”
Đức Phật kết luận: “Nguyên lý tương tự cũng áp dụng cho bóng tối, không gian và vật thể. Khả năng ’thấy’ của chúng ta không hoàn toàn ở cùng với những thứ này cũng không hoàn toàn tách biệt. Mối quan hệ giữa chúng rất vi tế, vượt qua cách suy nghĩ thông thường của chúng ta.”
A Nan nói với vẻ xúc động: “Bạch Thế Tôn, điều này thực sự sâu sắc. Có vẻ như khả năng ’thấy’ của chúng ta kỳ diệu hơn nhiều so với con tưởng tượng.”
Đức Phật mỉm cười hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Tánh nhận biết của chúng ta rất nhiệm màu. Nó không hoàn toàn trộn lẫn với thế giới cũng không hoàn toàn tách biệt. Hiểu được điều này có thể giúp chúng ta đến gần hơn với trí tuệ chân thật.”
“Hơn nữa, nếu diệu kiến tinh không hòa hợp, thì nó không hòa hợp với sáng, không hòa hợp với tối, không hòa hợp với thông, hay không hòa hợp với tắc? Nếu không hòa hợp với sáng, thì tánh thấy và tánh sáng trái ngược nhau, như tai và sáng không chạm nhau. Thấy sẽ không biết tướng sáng ở đâu. Làm sao ông phân biệt rõ cái nào hòa hợp và cái nào không hòa hợp? Điều tương tự cũng áp dụng cho tối, thông, và các loại tắc.”
Phật nhẹ nhàng nói: “A Nan, chúng ta hãy tiếp tục trò chơi nhỏ của chúng ta.” A Nan gật đầu đồng ý: “Vâng, Thế Tôn. Con đang mong đợi.”
Phật bắt đầu nói: “A Nan, hãy tưởng tượng, nếu chúng ta nói yêu tinh ’thấy’ hoàn toàn KHÔNG ở cùng ánh sáng, điều thú vị gì sẽ xảy ra?”
A Nan tò mò hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra, thưa Thế Tôn?”
Phật mỉm cười và nói: “Nếu ’thấy’ hoàn toàn không ở cùng ánh sáng, thì chúng giống như tai và ánh sáng, hoàn toàn không liên quan. Ông có thể thấy ánh sáng bằng tai không?”
A Nan cười và lắc đầu: “Tất nhiên là không, thưa Thế Tôn.”
Phật tiếp tục: “Vậy thì, nếu ’thấy’ thực sự không liên quan gì đến ánh sáng, làm sao nó biết ánh sáng ở đâu? Làm sao nó phân biệt sự khác biệt giữa ánh sáng và những thứ khác?”
A Nan suy nghĩ một lúc, rồi chợt nhận ra: “A, con hiểu rồi! Nếu ’thấy’ thực sự không liên quan gì đến ánh sáng cả, thì chúng ta đơn giản là không thể thấy bất cứ thứ gì.”
Phật gật đầu hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Nguyên lý tương tự cũng áp dụng cho bóng tối, hư không và các vật thể. Khả năng ’thấy’ của chúng ta không hoàn toàn ở cùng những thứ này cũng không hoàn toàn tách biệt. Mối quan hệ giữa chúng rất vi tế, vượt qua lối tư duy thông thường của chúng ta.”
A Nan xúc động nói: “Thế Tôn, điều này thật sự kỳ diệu. Có vẻ như khả năng ’thấy’ của chúng ta không hoàn toàn độc lập cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào thế giới bên ngoài.”
Phật kết luận: “Đúng vậy, A Nan. Bản chất nhận thức của chúng ta rất vi diệu. Nó không hoàn toàn trộn lẫn với thế giới cũng không hoàn toàn tách biệt. Nó tồn tại theo một cách vượt qua lẽ thường của chúng ta. Hiểu được điều này có thể giúp chúng ta đến gần hơn với trí tuệ chân thật.”
“A Nan, ông vẫn chưa hiểu rằng tất cả bụi trần lơ lửng và các huyễn tướng xuất hiện ngay tại đó và diệt ngay tại đó; là huyễn và vọng, chúng được gọi là các tướng. Tánh của chúng thực sự là diệu giác minh thể. Do đó, từ năm uẩn và sáu nhập, cho đến mười hai xứ và mười tám giới, vọng sanh từ nhân duyên hòa hợp, và vọng diệt từ nhân duyên biệt ly. Ông tuyệt đối không thể biết sanh tử, khứ lai. Như Lai Tạng bản lai, thường trụ diệu minh, bất động chu biến diệu chân như tánh. Trong tánh chân thường, cầu khứ lai, mê ngộ, tử sanh, ông rốt cuộc không được gì cả.”
Phật nhẹ nhàng nói: “A Nan, chúng ta hãy chơi một trò chơi tưởng tượng thú vị.” A Nan gật đầu hào hứng: “Vâng, Thế Tôn. Con đang mong đợi.”
Phật bắt đầu nói: “Hãy tưởng tượng chúng ta đang xem một buổi biểu diễn ảo thuật tuyệt vời. Ảo thuật gia biến ra nhiều thứ tuyệt vời - chim bồ câu, thỏ, hoa. Những thứ này trông rất thật, phải không?”
A Nan gật đầu: “Vâng, Thế Tôn. Các buổi biểu diễn ảo thuật luôn đáng kinh ngạc.”
Phật tiếp tục: “Nhưng, A Nan, ông có biết rằng những thứ này thực ra là ảo giác không? Chúng xuất hiện trong tay ảo thuật gia và biến mất trong tay ông ta. Chúng trông có vẻ thật, nhưng về bản chất không tồn tại.”
A Nan trầm ngâm nói: “Con hiểu rồi, Thế Tôn. Giống như ảo thuật, mọi thứ có vẻ thật, nhưng thực ra là ảo ảnh.”
Phật mỉm cười và nói: “Đúng vậy, A Nan. Thế giới xung quanh chúng ta, bao gồm cả cơ thể, giác quan và suy nghĩ của chúng ta, cũng giống như những buổi biểu diễn ảo thuật như vậy. Chúng trông có vẻ thật, nhưng thực ra là những ảo ảnh được tạo ra bởi sự kết hợp của nhân duyên.”
Phật tiếp tục giải thích: “Giống như kỹ thuật của ảo thuật gia là bản chất của ảo thuật, đằng sau những ảo ảnh này, cũng có một bản chất vĩnh cửu và bất biến. Chúng ta gọi nó là ‘Như Lai Tạng’ hay ‘Chân Như Tánh’. Nó giống như tài năng của ảo thuật gia, luôn tồn tại và không thay đổi.”
A Nan tò mò hỏi: “Thế Tôn, vậy làm sao chúng con có thể nhận ra bản chất này?”
Phật ân cần trả lời: “A Nan, bản chất này không thể được hiểu bằng lối tư duy thông thường của chúng ta. Nó không đến cũng không đi, không sinh cũng không diệt. Khi chúng ta cố gắng hiểu nó bằng những khái niệm thông thường, giống như tìm kiếm những con chim bồ câu thật trong buổi biểu diễn ảo thuật, chúng ta không thể tìm thấy chúng.”
A Nan chợt nhận ra: “A, con hiểu rồi! Chân lý mà chúng con theo đuổi bấy lâu nay vẫn luôn ở đó, nhưng chúng con đã dùng sai phương pháp để tìm nó.”
Phật gật đầu hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Khi chúng ta buông bỏ sự chấp trước vào các hiện tượng ảo ảnh và ngừng hiểu thế giới bằng những khái niệm thông thường, chúng ta có thể đến gần hơn với bản chất vĩnh cửu đó. Đây là trí tuệ chân thật.”
“A Nan, tại sao sắc uẩn vốn là chân tánh diệu minh của Như Lai Tạng? A Nan, ví dụ, một người nhìn bầu trời trong sáng với đôi mắt thanh tịnh; chỉ có một hư không, rộng lớn và không có gì trong đó. Nếu người đó nhìn chằm chằm không chớp mắt vô cớ, việc nhìn chằm chằm gây ra mệt mỏi, và người đó thấy hoa đốm (cuồng hoa) trong hư không, cùng với đủ loại phi tướng điên loạn. Ông nên biết rằng sắc uẩn cũng như vậy. A Nan, những hoa đốm này không đến từ bầu trời cũng không đến từ mắt. Như vậy, A Nan, nếu chúng đến từ bầu trời, vì chúng đến từ bầu trời, chúng nên trở về bầu trời. Nếu có ra và vào, thì đó không phải là hư không. Nếu hư không không trống rỗng, nó tự nhiên không thể chứa sự sinh diệt của tướng hoa; cũng như thân thể của A Nan không chứa một A Nan khác. Nếu chúng đến từ mắt, vì chúng đến từ mắt, chúng nên trở về mắt. Thì tính chất của những bông hoa này đến từ mắt, nên chúng phải có cái thấy. Nếu có cái thấy, thì khi chúng rời đi, hoa che bầu trời, và khi chúng trở về, chúng nên che mắt. Nếu không có cái thấy, thì khi xuất hiện che bầu trời, và khi trở về nên che mắt. Hơn nữa, khi thấy hoa, mắt phải không bị che khuất. Tại sao ông gọi bầu trời trong là mắt thanh minh? Do đó, ông nên biết rằng sắc uẩn là hư vọng; về cơ bản, tánh của nó không phải là nhân duyên cũng không phải là tự nhiên.”
Phật nhẹ nhàng nói: “A Nan, hãy làm một thí nghiệm thú vị.” A Nan tò mò hỏi: “Thí nghiệm gì, thưa Thế Tôn?”
Phật nói: “Hãy nhìn lên bầu trời.”
A Nan và các đệ tử khác nhìn lên bầu trời xanh.
Phật tiếp tục: “Bây giờ, A Nan, hãy nhìn chằm chằm vào bầu trời và đừng chớp mắt.”
A Nan làm theo. Một lúc sau, Phật hỏi: “Ông có thấy gì không?”
A Nan ngạc nhiên nói: “Thế Tôn, con thấy vài thứ lạ! Một số chấm nhỏ đang trôi nổi trên bầu trời, và một số hình thù kỳ lạ.”
Phật mỉm cười và nói: “Rất tốt, A Nan. Những thứ ông thấy này, chúng ta gọi là ‘cuồng hoa’ (hoa đốm). Chúng trông rất thật, phải không?”
A Nan gật đầu: “Vâng, Thế Tôn. Chúng thực sự trông rất thật.”
Phật hỏi: “Vậy thì, A Nan, những ‘cuồng hoa’ này đến từ đâu? Chúng có đến từ bầu trời không?”
A Nan suy nghĩ một lúc và nói: “Có vẻ không phải, thưa Thế Tôn. Vì bầu trời vốn trống rỗng.”
Phật gật đầu: “Vậy, chúng có đi ra từ mắt ông không?”
A Nan suy nghĩ lại và lắc đầu: “Cũng không phải vậy, thưa Thế Tôn. Nếu chúng đi ra từ mắt, thì con lúc nào cũng có thể thấy chúng.”
Phật mỉm cười và nói: “Đúng vậy, A Nan. Những ‘cuồng hoa’ này không đến từ bầu trời cũng không đến từ mắt. Chúng chỉ là những ảo ảnh do mỏi mắt vì ông nhìn chằm chằm quá lâu.”
Phật tiếp tục giải thích: “Thế giới của chúng ta giống như những ‘cuồng hoa’ này. Mọi thứ chúng ta thấy và cảm nhận đều giống như những ảo ảnh này. Chúng trông có vẻ thật, nhưng thực ra không tồn tại thực sự.”
A Nan chợt nhận ra: “A, con hiểu rồi! Thế Tôn, Ngài đang nói rằng thế giới chúng ta thấy thực ra là những ảo ảnh do chính tâm trí chúng ta tạo ra sao?”
Phật gật đầu hài lòng: “Đúng vậy, A Nan. Giác quan và suy nghĩ của chúng ta giống như đôi mắt mệt mỏi kia, tạo ra đủ loại ảo ảnh. Nhưng cũng như bầu trời luôn trong sáng, đằng sau những ảo ảnh này, có một bản chất vĩnh cửu và bất biến. Đây là chân lý mà chúng ta muốn theo đuổi.”
“A Nan, ví dụ, tay chân của một người thoải mái và tất cả các bộ phận cơ thể đều hòa hợp; đột nhiên người ấy quên sự sống của mình, và tánh của người ấy không có thuận hay nghịch. Người ấy, vô cớ, xoa hai lòng bàn tay vào nhau trong hư không. Trong hai tay, các tướng giả dối như thô, nhám, lạnh, và nóng sanh khởi. Ông nên biết rằng thọ uẩn cũng như vậy. A Nan, những xúc chạm hư huyễn này không đến từ hư không cũng không đến từ lòng bàn tay. Như vậy, A Nan, nếu chúng đến từ hư không, vì chúng có thể chạm vào lòng bàn tay, tại sao chúng không chạm vào cơ thể? Hư không không nên chọn lựa để đến và chạm. Nếu chúng đến từ lòng bàn tay, chúng không nên đợi tiếp xúc. Hơn nữa, vì chúng đến từ lòng bàn tay, khi lòng bàn tay hợp lại, lòng bàn tay biết; khi chúng tách ra, xúc chạm đi vào. Cánh tay, cổ tay, xương, và tủy cũng nên nhận biết dấu vết của việc đi vào. Phải có một cái tâm giác tri biết ra và vào. Sẽ có một vật đi ra và đi vào trong cơ thể. Tại sao phải đợi tiếp xúc mới biết và gọi nó là xúc? Do đó, ông nên biết rằng thọ uẩn là hư vọng; về cơ bản, tánh của nó không phải là nhân duyên cũng không phải là tự nhiên.”
Phật nhẹ nhàng nói: “A Nan, hãy tưởng tượng một người mà cơ thể rất thoải mái và thư giãn. Anh ta cảm thấy dễ chịu, thậm chí quên cả sự tồn tại của mình. Đột nhiên, người này, vô cớ, bắt đầu xoa hai tay vào nhau trong không khí. Kỳ lạ thay, lòng bàn tay anh ta bắt đầu cảm thấy nhiều cảm giác lạ - thô, nhẵn, lạnh, nóng, v.v.”
Phật tiếp tục giải thích: “Những cảm giác này giống như thọ uẩn của chúng ta, chúng đều là hư huyễn. Thử nghĩ xem, những cảm giác này không đến từ không khí cũng không đến từ lòng bàn tay. Nếu chúng đến từ không khí, tại sao chỉ lòng bàn tay cảm thấy, mà các bộ phận khác của cơ thể thì không? Không khí sẽ không kén chọn đâu! Nếu chúng đến từ lòng bàn tay, chúng nên được cảm nhận mà không cần hai tay chạm vào nhau. Hơn nữa, nếu chúng thực sự đến từ lòng bàn tay, thì khi tách ra, những cảm giác này nên trở về cánh tay, cổ tay, xương và tủy, và chúng ta phải cảm nhận được dấu vết của chúng.”
Phật cuối cùng kết luận: “Vì vậy, A Nan, cảm giác của chúng ta giống như ví dụ này, chúng đều là hư huyễn. Chúng không được tạo ra bởi những lý do nhất định, cũng không tồn tại một cách tự nhiên. Chúng ta phải hiểu điều này để thấy rõ sự thật của thế giới.”
“A Nan, ví dụ, một người nói về mơ chua, và nước bọt chảy ra từ miệng. Nghĩ đến việc đạp lên vách đá treo leo, lòng bàn chân cảm thấy chua và chát. Ông nên biết rằng tưởng uẩn cũng như vậy. A Nan, lời nói về vị chua như vậy không đến từ quả mơ cũng không đi vào từ miệng. Như vậy, A Nan, nếu nó đến từ quả mơ, quả mơ nên tự nói; tại sao phải đợi người nói? Nếu nó đi vào từ miệng, nó nên tự nhiên được nghe bởi miệng; tại sao phải đợi tai? Nếu tai nghe nó một mình, tại sao nước này không chảy ra từ tai? Nghĩ về việc đạp lên vách đá cũng tương tự như nói về nó. Do đó, ông nên biết rằng tưởng uẩn là hư vọng; về cơ bản, tánh của nó không phải là nhân duyên cũng không phải là tự nhiên.”
Phật nhẹ nhàng nói: “A Nan, ông đã gặp tình huống như vậy chưa?” Phật mỉm cười hỏi, “Khi ai đó nói về mơ chua, nước bọt đột nhiên chảy ra từ miệng ông? Hoặc khi ông tưởng tượng mình đang đứng trên mép vực thẳm, lòng bàn chân ông đột nhiên cảm thấy tê dại?”
A Nan gật đầu, cho biết ông thực sự có những trải nghiệm tương tự.
Phật tiếp tục: “Đây là trí tưởng tượng của chúng ta đang hoạt động! Trí tưởng tượng của chúng ta là như vậy, có thể ảnh hưởng đến phản ứng cơ thể của chúng ta.”
Sau đó, Phật bắt đầu giải thích sâu hơn: “Thử nghĩ xem, khi người khác nói về mơ chua, nước bọt trong miệng ông không chảy ra từ quả mơ, cũng không chảy vào miệng ông từ miệng người khác. Nếu thực sự là quả mơ đang nói, tại sao phải đợi ai đó nói về nó? Quả mơ sẽ tự nói. Nếu nó chảy vào từ miệng người khác, thì miệng ông phải nghe được nó, tại sao ông vẫn cần nghe bằng tai? Hơn nữa, nếu chỉ có tai nghe thấy, tại sao nước bọt không chảy ra từ tai?”
Phật mỉm cười và nói: “Ví dụ về việc tưởng tượng đứng trên mép vực thẳm cũng theo nguyên lý tương tự.”
Cuối cùng, Phật kết luận: “Vì vậy, A Nan, mặc dù trí tưởng tượng của chúng ta mạnh mẽ, nhưng thực ra nó là hư huyễn. Nó không được tạo ra bởi những lý do nhất định, cũng không tồn tại một cách tự nhiên. Chúng ta phải hiểu điều này để hiểu rõ hơn về tâm trí của mình.”
Mặc dù trí tưởng tượng của chúng ta có thể ảnh hưởng đến phản ứng cơ thể, nhưng nó không phải là thứ thực sự tồn tại. Qua những ví dụ sống động này, Phật dạy chúng ta học cách phân biệt giữa tưởng tượng và thực tế, và không bị phiền não hay bối rối bởi trí tưởng tượng của chính mình.
“A Nan, ví dụ, trong dòng nước dữ dội, các con sóng nối tiếp nhau, trước và sau không vượt qua nhau. Ông nên biết rằng hành uẩn cũng như vậy. A Nan, tánh của dòng chảy như vậy không được tạo ra từ hư không cũng không tồn tại vì có nước. Nó cũng không phải là tánh của nước, cũng không tách rời khỏi hư không và nước. Như vậy, A Nan, nếu nó được tạo ra từ hư không, thì hư không vô tận trong mười phương sẽ trở thành dòng chảy vô tận, và thế giới tự nhiên sẽ bị nhấn chìm. Nếu nó tồn tại vì có nước, thì tánh của dòng nước dữ dội này không nên là nước, và tướng của tất cả sự tồn tại nên hiện tiền. Nếu nó là tánh của nước, thì khi trở nên trong và tĩnh lặng, nó không nên là thể nước. Nếu nó tách rời khỏi hư không và nước, ngoài hư không thì không có gì, và ngoài nước thì không có dòng chảy. Do đó, ông nên biết rằng hành uẩn là hư vọng; về cơ bản, tánh của nó không phải là nhân duyên cũng không phải là tự nhiên.”
Phật đã sử dụng một ẩn dụ thú vị về dòng sông: “A Nan,” Phật nhẹ nhàng nói, “ông có để ý một dòng sông chảy xiết không? Những con sóng đó nối tiếp nhau, không bao giờ dừng lại.”
A Nan gật đầu hiểu ý, và Phật tiếp tục: “Hành động và suy nghĩ của chúng ta giống như những con sóng này, liên tục xuất hiện và biến mất. Nhưng hãy suy nghĩ kỹ về bản chất của dòng sông này.”
Phật bắt đầu giải thích sâu hơn: “Đặc tính của dòng chảy này không được tạo ra bởi không khí cũng không tồn tại vì có nước. Nó không hoàn toàn tương đương với bản chất của nước, cũng không thể tồn tại độc lập với không khí và nước.”
“Thử nghĩ xem,” Phật mỉm cười nói, “nếu dòng chảy được tạo ra bởi không khí, thì tất cả không khí trên thế giới sẽ biến thành sông, và chúng ta đã bị chết đuối từ lâu rồi! Nếu nó tồn tại vì có nước, thì dòng chảy không nên là đặc tính của nước, mà là một thứ độc lập. Nếu dòng chảy là bản chất của nước, thì khi nước tĩnh lặng, nó sẽ không còn là nước nữa. Nếu dòng chảy không phải là không khí cũng không phải là nước, thì ngoài hai thứ này ra, dòng chảy đến từ đâu?”
Cuối cùng, Phật kết luận: “Vì vậy, A Nan, hành động và suy nghĩ của chúng ta giống như dòng sông này, có vẻ thật nhưng thực ra là hư huyễn. Chúng không được tạo ra bởi những lý do nhất định, cũng không tồn tại một cách tự nhiên. Chúng ta phải hiểu điều này để thực sự hiểu bản chất của chúng ta.”
Mặc dù hành động và suy nghĩ của chúng ta có vẻ liên tục, giống như dòng sông, nhưng thực ra chúng không có bản chất cố định và bất biến. Qua ẩn dụ sống động này, Phật dạy chúng ta vượt qua các hiện tượng bề mặt, hiểu bản chất của sự vật, và không bị bối rối bởi các hiện tượng ảo ảnh.
“A Nan, ví dụ, có người lấy một cái bình Tần-già (Pinga), bít hai lỗ lại, chứa đầy hư không, rồi mang đi ngàn dặm để tặng cho một nước khác. Ông nên biết rằng thức ấm cũng giống như vậy. A Nan, hư không như vậy không từ phương kia đến, cũng kh ông nhập vào phương này. Như vậy, A Nan, nếu nó đến từ phương kia, thì cái bình ban đầu chứa hư không và đã đi rồi, vì vậy tại chỗ cái bình ban đầu lẽ ra phải ít hư không hơn. Nếu nó nhập vào phương này, khi mở các lỗ và dốc ngược cái bình, người ta lẽ ra phải thấy hư không chảy ra. Do đó, ông nên biết rằng thức ấm là hư vọng và sai lầm; về cơ bản, tánh của nó chẳng phải là nhân duyên, cũng chẳng phải là tự nhiên.”
Phật dùng một ẩn dụ thú vị về cái bình: “A Nan,” Phật mỉm cười nói, “hãy tưởng tượng có người lấy một cái bình Tần-già. Loại bình này có hai lỗ nhỏ, và người đó đã bịt cả hai lỗ lại.”
“Rồi sao nữa?” A Nan tò mò hỏi.
Phật tiếp tục: “Người này nghĩ rằng mình đã đổ đầy ‘không khí’ vào bình, rồi mang cái bình này đi một quãng đường rất xa, muốn tặng ‘không khí’ này cho người dân ở một nước khác.”
A Nan bối rối, và Phật giải thích: “Thức của chúng ta giống như ‘không khí’ trong cái bình này. Nó dường như chứa một cái gì đó, nhưng thực ra không có gì cả.”
Phật tiếp tục phân tích sâu hơn: “Hãy nghĩ xem, nếu không khí trong bình thực sự đến từ một nơi xa xôi, thì ở nơi xa xôi đó lẽ ra phải ít không khí hơn sao? Nếu không khí được đưa vào từ đây, thì khi mở bình và dốc ngược nó xuống, chúng ta lẽ ra phải thấy không khí chảy ra sao?”
A Nan chợt nhận ra, và Phật kết luận: “Vì vậy, A Nan, thức của chúng ta giống như không khí trong cái bình này, dường như tồn tại nhưng thực ra là hư vọng. Nó không được sinh ra bởi những lý do nhất định, cũng không tồn tại một cách tự nhiên. Chúng ta phải hiểu điều này để thực sự hiểu tâm mình.”
Câu chuyện này nói với chúng ta rằng mặc dù thức của chúng ta cảm thấy có thật, giống như những thứ trong bình, nhưng thực tế nó không có một bản chất cố định và bất biến. Thông qua ẩn dụ sống động này, Phật dạy chúng ta vượt qua những hiện tượng bề mặt, hiểu bản chất của tâm, và không bị nhầm lẫn bởi những hiện tượng hư vọng. Câu chuyện ngụ ngôn này giải thích chân lý sâu sắc về bản chất của thức trong Phật giáo bằng những thuật ngữ đơn giản, giúp chúng ta dễ hiểu khái niệm phức tạp này hơn.
“Thông qua những ẩn dụ này, ông nên có thể hiểu rằng ngũ ấm - sắc, thọ, tưởng, hành, và thức - đều là hư vọng. Bản chất của chúng là chân tánh diệu minh của Như Lai Tàng. Một khi chúng ta thực sự hiểu điều này, chúng ta có thể vượt qua những ảo tưởng này và nhìn thấy bản chất thực sự của vạn vật.”